Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Bùi Tuyết Mai không còn dệt vải

03.12.2011-01:03

>> Chảy máu đức tin

>> Bước đi trong cuộc cờ người

>> Hồ Phương cỏ vẫn xanh non

NHÀ THƠ BÙI TUYẾT MAI

Người đàn bà làm thơ ấy không còn dệt vải

 

TRẦN VŨ LONG

 

NVTPHCM- “Ngày trước khi còn ở Mường, chị hay ngồi viết một mình vào buổi đêm. Mùa viết của chị thường phải hết mùa măng. Khi mà cây cối rắn rỏi, ra hoa. Mùa ấy năm nào cũng thế, chị thường buồn nhiều… Đến khi nào hoa keo vàng vã, rồi rơi rụng hết, hoa móng bò tím héo hót thôi không rơi thõng từng chùm từng chùm níu lại cái màu buôn buốt ấy.”

 

Chắc sẽ có nhiều người thắc mắc tại sao tôi lại đặt cho bài viết này một cái tít dây cà dây muống đến vậy. Vâng, cũng có nguyên do cả. Chả là, cách đây độ dăm năm gì đó, tôi có viết một bài báo về chị với cái tít “Người đàn bà làm thơ và dệt vải”. Thật dễ hiểu, hồi đó chị vừa làm thơ, vừa dệt vải. Chị dệt những tấm vải thổ cẩm bằng một khung cửi gỗ. Trong tiếng kêu lọc cọc, xọc xạch của chiếc khung cửi, những vần thơ đã lóe lên trong đầu chị. Vậy là cậu con trai lên mười làm thư ký cho mẹ, chép lại những vần thơ ấy. Còn bây giờ, chị vẫn làm thơ nhưng không còn dệt vải nữa. Chẳng biết với chị cảm thấy thế nào. Đối với tôi, thì tôi thấy tiếc. Một sự tiếc nuối thật mơ hồ, bởi tôi chưa một lần được chứng kiến chị dệt vải. Tôi cũng chưa một lần được chiêm ngưỡng những tấm vải thổ cẩm do chị dệt. Dường như đó là sự tiếc nuối từ ý niệm.

Vậy mà thấm thoắt đã nửa thập niên, kể từ khi tôi viết bài báo đó về chị. Đối với một gã trai lêu bêu như tôi, cái khoảng thời gian đó cũng chẳng nhiều nhặn gì. Nhưng đối với Bùi Tuyết Mai thì đó cũng là cả một quãng đường thăng trầm không ngắn ngủi trong cuộc đời một người đàn bà. Trước khi viết bài báo đó, tôi và chị chưa hề gặp mặt, chỉ là những cuộc trao đổi bài vở, thăm hỏi qua thư điện tử, qua điện thoại. Khi ấy chị đang là giảng viên tại một trường chính trị của tỉnh Hòa Bình. Sau đó chị cùng cậu con trai chuyển về Hà Nội. Chị làm việc tại một cơ quan rất “kêu”, có thể xem như là thủ trưởng của bọn làm báo chúng tôi, đó là Đảng ủy khối Các cơ quan Trung ương. Trước khi chuyển về Hà Nội, Bùi Tuyết Mai có gọi điện nói với tôi rằng: “Khi nào về Hà Nội, tôi sẽ mang theo chiếc khung cửi. Mỗi lúc rảnh, tôi sẽ ngồi dệt vải cho đỡ buồn. Hơn nữa, dệt vải và làm thơ là hai công việc đem lại cho tôi sự sung sướng nhất. Vì đó là hai trong ba âm thanh biểu đạt hạnh phúc của một đời người theo quan niệm người Mường”. Nhưng rồi chị đã không mang theo được cái khung cửi thân thuộc của mình về Hà Nội, đúng là “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Bởi lúc đó, Bùi Tuyết Mai đâu nghĩ rằng, ở cái mảnh đất Hà Nội đông đúc và đắt đỏ này, thuê nhà cho hai mẹ con chị để hợp với túi tiền là việc rất khó, nữa là có một không gian rộng để cho chị đặt khung cửi lại càng khó hơn. Và rồi, căn nhà chị thuê được cũng chỉ đủ để kê bộ bàn ghế thấp, mặt tròn bằng mây của người Mường, một cái bàn viết, và chiếc giường cho hai mẹ con. Kể từ khi chuyển về Hà Nội cho đến nay chị đã chuyển nhà không biết bao nhiêu lần. Thậm chí tôi còn chưa biết nhà chị mới thuê đã thấy gọi điện báo chuyển đi nơi khác rồi. Tôi hỏi “Sao chuyển nhà nhiều thế?”, chị bảo do chủ nhà đòi tăng tiền thuê, nơi thì do chung với nhà chủ lối ra vào nên sinh hoạt bất tiện… Tôi mới đùa chị “May mà bà không mang theo khung cửi. Chứ mỗi lần chuyển nhà thế này đến ốm mất”. Trong nụ cười của chị ẩn chứa một sự tiếc nuối:

Thôi ông ơi, tôi biết rồi. Nếu có mang theo khung cửi, cũng chẳng có thời gian đâu mà ngồi dệt như trước. Tôi suốt ngày bù đầu họp hành rồi viết báo cáo. Thậm chí thức đêm thức hôm để làm.

Ô, nghề của bà hay nhỉ, chỉ có ngồi họp và viết báo cáo, thui chột hết cả, đến thơ cũng chả viết được, chứ nói gì đến thời gian ngồi dệt vải.

Thơ thì không thể bỏ được, nó như là cái nghiệp vận vào thân rồi. Cảm xúc là do mình phải biết nuôi dưỡng thôi. Còn dệt vải là niềm đam mê. Khi nào có điều kiện, nhất định tôi sẽ rước cái khung cửi xuống Hà Nội. Lúc đó ông sẽ bị lác mắt. – Rồi chị cười, tiếng cười ròn tan của người đàn bà nhiều thăng trầm nhưng vẫn luôn tràn đầy niềm tin vào cuộc sống. Một người luôn thành tâm thật ý, hết lòng hết dạ trong mọi công việc và với bạn bè.

Chị lại kể say sưa kể về công việc dệt vải. Chị bảo: “Cái khó của dệt vải không nằm trong thao tác mà khó ở việc kiên trì, tỉ mỉ. Ai không kiên trì nhẫn nại thì người đó không bao giờ dệt vải được, vì làm việc với sợi vải không được nóng nẩy. Nếu nóng nẩy thì chỉ rối không gỡ được, màu không quện vào nhau được. Người nào có lòng yêu thương khung dệt, yêu việc dệt thì chậm mấy cũng sẽ dệt được tấm vải như ý muốn…”. Cứ như thế câu chuyện về dệt vải của nhà thơ Bùi Tuyết Mai được dịp thổ lộ. Dường như trong suốt câu chuyện đó tôi không có một quãng nào để nói xen vào. Ngồi nghe Bùi Tuyết Mai kể chuyện, tôi cảm nhận như một chuỗi âm thanh đầy tâm huyết của niềm say mê đang tuôn chảy. Nó cũng giống như chuỗi âm thanh mượt mà dài vô tận của người Mường, bởi người Mường không có chữ viết, nhưng cũng đã chinh phục được các dân tộc khác bằng những câu chuyện kể, truyện cổ, sử thi và làn điệu dân ca, có thể kể đến như sử thi Đẻ đất, đẻ nước

Còn nhớ cách đây hơn chục năm, Bùi Tuyết Mai nổi lên như một hiện tượng. Chị đã chinh phục người đọc bằng một giọng thơ trong trẻo, mới lạ, hồn nhiên, giàu hình ảnh, trữ tình, mềm mại, mang đậm bản sắc văn hóa Mường nhưng vẫn hiện đại. Với tình yêu văn hóa dân tộc, bằng cách cảm cách nghĩ tinh tế và nhuần nhị, chị đã dẫn dắt người đọc bước vào không gian văn hóa đậm đà phong vị và bản sắc Mường. Có lẽ trong bối cảnh đời sống văn hóa, tinh thần không ngừng biến đổi như hiện nay và giọng điệu của thơ ca không ngừng chuyển động, để giữ được tinh thần đó trong sáng tác một cách tự nhiên có lẽ cũng không dễ. Cho phép tôi, kẻ viết bài báo này được nói lên một hiện thực sáng tác trong đội ngũ các cây bút trẻ người dân tộc thiểu số. Nếu như có làm ai đó phật ý thì cũng xin được lượng thứ cho, bởi nó không chỉ là ý kiến của riêng tôi, mà nó là chủ đề của không ít cuộc đàm đạo, trà dư tửu hậu của anh em viết văn. Đó là, nhiều cây bút dân tộc thiểu số ngày nay sáng tác thơ bằng một giọng của người kinh viết về đề tài dân tộc miền núi. Nghĩa là cái hồn cốt văn hóa của dân tộc không thực sự chảy trong huyết quản của họ nữa. Bản thân là người dân tộc thiểu số nhưng họ lại giả giọng dân tộc để viết. Nó cũng giống như việc nghe lời bình trong mấy phim tài liệu, hay lời đối thoại trong phim truyện của Đài truyền hình Trung ương làm về người dân tộc thiểu số vậy. Đối với Bùi Tuyết Mai, kể từ khi bắt đầu sáng tác cho đến nay, sức mạnh của tinh thần dân tộc đã khiến chị không thể viết khác đi được. Nhờ vào văn hóa truyền thống của dân tộc mà chị có đủ vật liệu để viết như người phụ nữ có đủ bông để làm sợi dệt, và dệt theo khả năng của mình. Có lẽ Bùi Tuyết Mai may mắn vì sáng tác được bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, một việc tưởng đơn giản, nhưng đối với nhiều người thì nó lại là rào cản lớn, bởi người Mường cũng giống như rất nhiều dân tộc thiểu số khác không có chữ viết, chỉ căn cứ vào ngôn ngữ nói. Do được đắm mình trong cái chuỗi âm thanh giàu bản sắc đó nên các sáng tác của chị gồm những từ có trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ dân tộc Mường, mặt khác nó còn gồm cả từ mượn hay chịu ảnh hưởng của các dân tộc khác. Để có thể tải chính xác ý tưởng của mình, Bùi Tuyết Mai đã sáng tác bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, sau đó dịch ra tiếng Việt. Ta có thể thấy, những sự vật hiện tượng trong thơ Bùi Tuyết Mai không mới, nhưng nó được thể hiện bằng cách nhìn rất riêng của chị. Bên cạnh đó Bùi Tuyết Mai đã biết vận dụng thế mạnh của tiếng Việt khi chuyển ngữ từ tiếng Mường sang nhằm giúp cho nhiều bạn đọc thấy được ý tưởng của tác giả một cách dễ dàng. Có lẽ đối với tất cả những ai làm thơ và yêu thơ thì thơ là một cách thể hiện cái đẹp của ngôn từ. Ngôn ngữ của một dân tộc trong đó thơ là biểu hiện của vẻ đẹp thuần khiết nhất. Nó giống như sự thăng hoa ngôn ngữ của thời kỳ lịch sử mà tác phẩm đó phản ánh.

Trong con người Bùi Tuyết Mai luôn chất chứa một niềm tự hào về bản săc văn hóa dân tộc của mình. Ở bất cứ một sự kiện văn hóa nào được tổ chức có mời Bùi Tuyết Mai là ta có thể bắt gặp một tà áo dân tộc của người Mường nơi đó.

Nếu như dệt một tấm vải đòi hỏi phải có đức tính kiên trì và tỉ mỉ, thì khi làm một bài thơ cũng không phải dễ dàng, Bùi Tuyết Mai cũng dồn hết tâm sức của mình để sáng tạo. Có những bài thơ, kể từ lúc có ý tưởng đến khi hoàn thành chị phải mất đến mười năm. Bài Ru con là một ví dụ như vậy:

“…Ngủ đi

Cho mẹ ôm cha

Cho con mọt đục vách

Ngủ lâu

Cho khói bếp lượn bẩy vòng nhà ba vòng bản

Ngấm vào lá trầu

Ngậm vào quả cau

Ngủ đi cái khăn bịt trôốc

Cho bông gạo xanh

Ngủ đi cái klôốc wặl

Tênh khăn

Áo pắn

Cho rễ cây ngắn đời người dài

Ú ủ la hay

Ngủ cho cơm đồ thơm vào lỗ tai

Cho nhà gác dài không nhìn hết

Cho nước vác để đầy gian bếp

Cho lợn thui thơm điếc mũi bốn Mường…

Người đọc có thể nhận thấy tác giả muốn giữ lại bản sắc Mường như: Ăn cơm đồ, ở nhà gác, vác ống nước suối về uống, thịt lợn thui chứ không luộc… Nhiều giá trị văn hóa của người Mường được lưu giữ lại trong sử thi, trong các truyện cổ, các câu chuyện kể…theo cách truyền thống. Bùi Tuyết Mai không muốn lặp lại và chép lại, chị muốn dệt bài thơ mới này theo cách của mình. Phải chăng vì điều đó đã làm chị trăn trở cả chục năm trời, kể từ khi còn là thiếu nữ cho đến khi có chồng, có con, được hưởng niềm hạnh phúc làm mẹ, chị mới chọn được hình thức ru để thể hiện trọn vẹn ý tưởng đó.

Thời gian có thể khiến cho con người ta hạnh phúc hoặc đau khổ, nhưng có điều chắc chắn rằng, thời gian sẽ làm cho ta trở nên từng trải, thấm thía hơn về cuộc đời, thấm thía hơn về nhân tình thế thái. Tất cả chúng ta luôn nhìn thẳng về phía trước, và đặt cược những hành trang đời mình cho thời gian với mong muốn được nhận về những gì tốt đẹp nhất, nhưng điều đó không phải lúc nào chúng ta cũng thành công. Nó cũng giống như trò chơi trốn tìm mà ta phải chấp nhận luật chơi vậy:

Hạnh phúc reo ca hạnh phúc mỏng manh

Chơi trốn tìm trong trò chơi được mất”

                    (Thơ Trần Vũ Long)

Sau khi chuyển về Hà Nội được một thời gian, Bùi Tuyết Mai đã tìm cho mình một bến đỗ mới trong đời. Chị những tưởng sau sự đổ vỡ lần đầu thì tình yêu là một thứ gì đó thật xa xỉ, nhưng không, tình yêu giống như một thứ ảo ảnh bất thường nhưng đầy sắc mầu kỳ diệu. Tôi đã nhìn thấy niềm vui, tia hy vọng trong ánh mắt chị. Và câu chuyện về tình yêu của chị lại giống như một chuỗi âm thanh dài vô tận. Nhưng, vâng, lại là nhưng. Nói như vậy chắc mọi người đã hiểu tôi định nói điều gì. Hạnh phúc giống như cánh hoa mong manh mà chúng ta luôn phải nâng niu. Nhưng thật khó thay, bởi chúng ta không phải lúc nào cũng là những người thợ làm vườn giỏi để gìn giữ cánh hoa mong manh đó. Vậy là hai mẹ con chị lại tiếp tục cuộc hành trình tìm nhà và thuê nhà.

Tuy chuyển về Thủ đô đã lâu nhưng chị vẫn giữ nếp sinh hoạt hàng ngày như hồi ở xứ Mường. Sáng nào cũng dậy từ sớm tập thể dục, nấu cơm hai mẹ con cùng ăn, sau đó trở con đi học rồi đến cơ quan. Thói quen ăn uống của chị cũng vẫn là: cơm rau, nước đậu, trứng và muối vừng, cá nhiều hơn thịt. Để tóc dài quá lưng. Chị bảo, hành trang mang theo bây giờ cũng toàn là vốn ông bà cha mẹ cho, chỉ học hành bên ngoài thêm chút ít để công tác cho kịp bạn kịp bè. Ngày trước khi còn ở Mường, chị hay ngồi viết một mình vào buổi đêm. Mùa viết của chị thường phải hết mùa măng. Khi mà cây cối rắn rỏi, ra hoa. Mùa ấy năm nào cũng thế, chị thường buồn nhiều… Đến khi nào hoa keo vàng vã, rồi rơi rụng hết, hoa móng bò tím héo hót thôi không rơi thõng từng chùm từng chùm níu lại cái màu buôn buốt ấy. Mùa tàn hoa về kéo theo gió khô đến như người ta lấy cật nứa miết đi miết lại trên vỏ ống nứa. Mùa rơi đến nỗi không còn một con ong nào muốn đến lấy mật nữa và chị ốm luôn một trận nên thân. Khi mùa nắng trở lại, chị lại khỏi ốm và tiếp tục chẳng làm được gì cho đến mùa này năm sau…và cứ thế…. Cho đến bây giờ, khi đang sống ở chốn đô thị ồn ã, Bùi Tuyết Mai vẫn bị những trận ốm theo mùa và thói quen viết theo mùa như thế. Phải chăng có sự giao thoa tâm linh nào đó giữa người con xứ Mường với cội nguồn của dân tộc mình. Cứ hàng năm chị bị lấy đi những ngày tháng khỏe mạnh, để rồi bù lại là hàng loạt tác phẩm được ra đời. Nó cũng là quy luật cân bằng của tạo hóa giữa được và mất. Và tôi cứ tự thầm hỏi, có ai được cả hay mất cả không nhỉ.

Lọc cọc, xọc xạch, tự nhiên những tiếng kêu ấy cứ vang lên trong đầu tôi. Phải rồi, tôi tin rằng, một ngày nào đó cái khung cửi đó sẽ được bàn tay chủ nhân của nó nâng niu để dệt nên những tấm vải thổ cẩm muôn màu sắc. Còn bây giờ, tại chốn đô thị bon chen, náo nhiệt này chị vẫn tiếp tục dệt những bài thơ để cho văn hóa Mường và ngôn ngữ Việt được thăng hoa.

 

CHÂN DUNG & NHÂN VẬT KHÁC:

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.