Tin mới Xem thêm

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

  • Nguyễn Quang Sáng cánh chim sếu đầu đỏ

    Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị

  • Truyện ngắn Hoàng Hiền: Mẹ con

    U nghỉ đi, con về thu xếp. Dứt lời, Hiên đi ra sân nổ máy lao vút ra cổng, mấy con chó con chạy theo sủa ăng ẳng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Đặng Nguyệt Anh đi suốt Trường Sơn tìm chồng

08.3.2018-18:40

 Vợ chồng nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh ở chiến khu R năm 1973.

 

>> Ra mắt Thao thức đường trăng

 

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh:

Đội câu Kiều đi suốt Trường Sơn tìm chồng

 

TUY HOÀ

 

NVTPHCM- Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh được công chúng biết đến với những câu thơ mềm mại và xao xuyến như "Nếu anh biết được... chiều nay/ Gió từ đâu đến... thổi gầy nhành mai/ Một đời gió có vì ai/ Xô nghiêng chiều tím ra ngoài hoàng hôn".

 

Thế nhưng, trong giới cầm bút, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh thường được truyền tụng bằng giai thoại một cô giáo tuổi đôi mươi từ Nam Định vượt Trường Sơn vào Nam tìm chồng. Và họ không chỉ gặp lại nhau giữa mưa bom lửa đạn và còn hạnh phúc đến hôm nay với một đám cưới vàng đầu năm 2018!

 

Những ngày đón mùa xuân Mậu Tuất, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh ra mắt tập thơ "Thao thức đường trăng" để mừng sinh nhật lần thứ 70 và kỷ niệm 50 năm ngày cưới.

 

Nhà giáo Phạm Thanh Liêm - phu quân của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh nhớ lại: "Ngày 7-1-1968, chúng tôi làm đám cưới theo đúng kiểu thời chiến. Đoàn rước dâu toàn mặc đồ màu nâu hoặc màu đen, đạp xe thành một đoàn lặng lẽ trong màn đêm giá lạnh. Đám cưới diễn ra từ 2 giờ sáng đến 5 giờ sáng".

 

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh cười rộn rã theo câu chuyện xa xưa mà chồng mình vừa nhắc đến. 50 năm ân nghĩa tào khang, con cái cũng đã trưởng thành, vợ chồng nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh quyết định chụp ảnh cưới, vừa để thêm nồng ấm hoài niệm quá khứ vừa để bù đắp thiệt thòi thời trai trẻ lãng mạn và khốn khó.

 

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh sinh ra và lớn lên ở Ninh Trực - Nam Định. Cảnh quê và tình quê trong thơ chị luôn bồi hồi cảm hứng bất tận: "Sông Ninh dạt dào sóng vỗ/ Chân đê xanh mướt cỏ non/ Chú bé thả diều trâu ăn lúa/ Hoa phượng đỏ sân trường vẫn nở/ Võng ai đưa kẽo kẹt trưa hè/ Thuyền ai về neo dưới bóng hàng tre".

 

Học xong trường huyện, cô gái mới lớn Đặng Nguyệt Anh mỗi ngày qua đò theo khoá 7+2 của Trường Sư phạm Nam Định. Người thầy chủ nhiệm của chị cũng là một giáo viên Toán cự phách - Phạm Thanh Liêm. Những giờ học giữa phập phồng tiếng kẻng báo động máy bay địch, thầy giáo Phạm Thanh Liêm vẽ hình tròn không cần compa và vẽ đường thẳng không cần thước kẻ, khiến bao nữ sinh muôn phần ngưỡng mộ.

 

Cô học trò Đặng Nguyệt Anh cũng để ý thầy giáo Phạm Thanh Liêm lớn hơn mình 8 tuổi, nhưng chỉ âm thầm gửi gắm vào thơ: "Em như trái đậu trên cành/ Ướp hương trời đất... chín... thành tương tư/ Giữa đời thường, thực và mơ/ Anh như ngọn gió... bất ngờ thoảng qua".

 

Hết khoá học, thầy giáo Phạm Thanh Liêm bắt đầu theo đuổi cô học trò Đặng Nguyệt Anh. Quê chàng - Xuân Trường và quê nàng - Trực Ninh ngày càng gần gũi hơn, cho đến ngày nàng viết "Câu hát trao duyên vương vào khóm trúc/ Để một đời thương nhớ gỡ không ra".

 

Cưới nhau vừa được mấy tháng, thì thầy giáo Phạm Thanh Liêm được lệnh chi viện cho chiến trường miền Nam. Tiễn chồng đi xa, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh an ủi bản thân: "Vùi trong lòng mẹ yêu thương/ Thoáng đôi mắt mẹ nét buồn xa xăm/ Đời người dài cả trăm năm/ Chồng con ra trận vài năm rồi về".

 

Ngày qua ngày, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh ở lại quê nhà chỉ biết ngóng trông bằng niềm riêng xao xác: "Ngày ấy/ Câu ca dao mảnh quá/ Không níu được đời em/ Phận gái như cánh chuồn kim/ Lại say miền bão lửa".

 

Sau 4 năm chồng vào Căn cứ trung ương Cục miền Nam, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh được một người quen báo tin: "Chồng của chị bị sốt rét, nằm ở Lộc Ninh. Bây giờ tổ chức có cho anh ra Bắc, thì anh cũng không tự đi được!".

 

Dẫu biết sự chia ly vì lý tưởng giải phóng dân tộc, nhưng trái tim người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh vẫn nghẹn ngào, nửa thương chồng nửa xót mình. Chị tự nhủ: "Người đàn bà sinh ra mọi nỗi cô đơn/ Và chính họ đã nhận về tất cả", nhưng chị không thể tiếp tục đứng ngồi không yên, vào ra một bóng với những giấc mộng hoang mang.

 

Nhiều đêm thao thức, chị có một quyết định táo bạo: xung phong vào chiến trường miền Nam: "Biết rằng bom đạn gian nan/ Xin cha mẹ, con vào Nam tìm chồng/ Mưa chiều giăng trắng dòng sông/ Trũng sâu mắt mẹ lưng tròng lệ xa". Cả cha mẹ ruột và cha mẹ chồng đều thương cảm ngập tràn, nhưng họ không thể không đồng tình với ý chí của Đặng Nguyệt Anh.

Chụp lại ảnh cưới sau 50 năm chồng vợ!

 

Cuối năm 1968, Đặng Nguyệt Anh từ giã con sông Ninh ôm ấp bao nhiêu êm đềm tuổi thơ để lên đường. Khoảnh khắc ấy được chị viết thành Trường ca Mẹ: "Thiên cổ hùng văn chưa thuộc/ Luận ngữ trên tường để mốc/ Đội câu Kiều đi suốt Trường Sơn/ Dép cao su mòn đá/ Gót chân son không đợi dấu hài/ Dồn dập những trận bom tọa độ, B52/ Trường Sơn rùng rùng đất đá/ Vẫn mơ phương trời lạ/ Khát cháy lòng một ban mai".

 

Cô giáo Đặng Nguyệt Anh tuổi 24 lần đầu tiên xa nhà, không chỉ gửi lại phấn trắng bảng đen và những đôi mắt học trò thơ ngây, mà còn gửi lại bao nỗi hy vọng của hai bên nội ngoại.

 

Bao lần vấp ngã đường mưa, bao lần co ro gió lạnh, bao lần khóc thầm bơ vơ, Đặng Nguyệt Anh vẫn cắn răng chịu đựng: "Nhìn ánh lửa gần/ Nghĩ đến chiến trường xa/ Lòng rạo rực mong trời mau sáng/ Ngày mai/ Đồng đội cùng con lại hành quân/ Đêm Trường Sơn mông mênh…".

 

Vốn có sẵn sự đa cảm của người làm thơ, hành trình vượt Trường Sơn gập ghềnh và cam go vẫn giúp nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh nhận ra nhiều vẻ đẹp quanh mình: "Trăng liềm lơ lửng góc trời/ Cho em đưa võng một thời Trường Sơn".

 

Sau đúng 90 ngày đêm lặn lội, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh đặt chân đến chiến khu Nam bộ trong niềm hạnh phúc vỡ oà, như những câu thơ chị tâm sự cùng người mẹ ở quê nhà Nam Định: "Chiều hè vui thật là vui/ Cao su lòa nắng xanh trời Lộc Ninh/ Đi qua trăm thác ngàn ghềnh/ Gặp chồng, con nghĩ là mình chiêm bao".

 

Không ai tin một cô giáo trẻ nhỏ nhắn và mỏng manh như Đặng Nguyệt Anh lại có thể vượt Trường Sơn bom đạn để tìm chồng. Vậy mà sự thật ấy đã xảy ra, như một câu chuyện cổ tích. Và chính sự hiện diện của người vợ yếu đuối nhưng kiên cường, đã trở thành liều thuốc bổ để nhà giáo Phạm Thanh Liêm nhanh chóng bình phục. Hai vợ chồng cùng được bố trí công tác ở Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam.

 

Sau chuỗi ngày dằng dặc cách ngăn, họ lại ở bên nhau san sẻ đắng cay ngọt bùi, mà nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh ghi lại thành những dòng lục bát rưng rưng: "Mẹ ru anh ngủ ngày xưa/ Em ru anh thức nắng mưa trọn đời/ Mẹ ru yên ấm biển trời/ Ru anh em biết chọn lời nào đâu/ Ru cùng biển rộng sông sâu/ Con chim về tổ, con tàu về ga/ Ru cùng trời đất bao la/ Hồn mê lộ biết lối mà tìm không".

 

Sang năm 1974, hạnh phúc của họ được nhân lên khi con gái đầu lòng Ngọc Anh ra đời dưới tán lá trung quân rợp bóng chở che những người kháng chiến. Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh viết về phút giây diệu kỳ và nhân ái ấy: "Chọn một bình minh mùa hạ, con ra đời/ Sáng nay tiếng chim rừng ríu rít/ Nắng chan hoà mặt đất/ Trời xanh hơn mọi ngày/ Bố con mừng cuống quít/ Mọi người trong cứ đều vui/ Từ nay lại được nghe tiếng trẻ khóc cười…/ Các bác thương con dặm lại mái nhà dột/ Các bác thương con dành dụm từng viên thuốc/ Mấy cô thương con cho nắm rau rừng/ Mấy chú thương con xách từng xô nước/ Mọi người thương con chia nhau bế bồng…".

 

Đất nước thống nhất, vợ chồng họ cùng ở lại TP HCM. Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh dạy Văn tại Trường trung học Lê Quý Đôn, còn nhà giáo Phạm Thanh Liêm gắn bó với Trường Quản lý cán bộ giáo dục. Thêm hai đứa con nữa sinh ra giữa hoà bình vun đắp ngọn lửa yêu thương cho gia đình họ. Thanh bạch và trong sáng, họ cùng nhau đi qua từng mùa xuân mơ ước, dẫu lắm phen chật vật và hắt hiu: "Đồng lương vợ chồng nhà giáo/ Cộng lại, chia năm/ Chia cho cả mấy tên lừa đảo/ Dẫu chắt chiu, không đủ tiền về thăm cha mẹ… Mùa này Tết, quê ta rét lắm/ Thương mẹ tay cóng chân run lưng gầy/ Chiếu chăn nào cản nổi, gió mùa đông bắc tới/ Xin cho con làm hơi ấm bên người".

 

Rồi những câu thơ của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh cũng thong dong hơn, nhưng những vần điệu xôn xao vẫn khôn nguôi ký ức một thuở gian lao tìm chồng: "Đạn bom một thời đã qua/ Cơn sốt rừng theo em về phố/ Đắng nghẹn từng hơi thở/ Những khớp xương nhức nhối/ Vẫn thương buốt lòng/ Trường Sơn ơi…".

 

Nhà giáo Phạm Thanh Liêm với đặc thù nghề nghiệp, luôn đứng khiêm tốn phía sau một người vợ làm thơ nổi tiếng. Thế nhưng, nhà giáo Phạm Thanh Liêm yêu vợ và yêu cả những tác phẩm của vợ hơn ai hết.

 

Nhà giáo Phạm Thanh Liêm nhận ra những nuối tiếc xa xưa trong thơ vợ: "Cái thời lúng liếng đong đưa/ Bao nhiêu cậu ấm cù cưa theo mình/ Dẫu rằng không hát trúc xinh/ Mà ai cứ đứng sân đình đợi ai".

 

Từ ngày nghỉ hưu, nhà giáo Phạm Thanh Liêm thường xuyên đưa vợ về thăm quê nhà Nam Định, để nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh được ngụp lặn trong xanh mát những cánh đồng bên sông Ninh mơ mộng: "Vườn ai còn ngát hương cau/ Giếng khơi thuở ấy gội đầu. Trăng lên/ Đây rồi những lối thân quen/ Gọi hồn phiêu lãng, gọi tên bồi hồi".

 

Nửa thế kỷ có nhau, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh và nhà giáo Phạm Thanh Liêm có được một đám cưới vàng giữa vòng tay con cháu và bạn bè. Mối tình của họ còn được làm chứng bởi những câu thơ đắm đuối của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh: "Anh và em lẫn vào nhau/ Lẫn vào nhau tự lúc nào không hay/ Như trời xanh lẫn trong mây/ Như nước trong đất, như cây trong rừng/ Như sông hoà biển mênh mông/ Như ngàn gió lẫn vào trong đất trời/ Như lời ru quyện vành môi/ Như bao la sóng suốt đời biển xanh/ Lẫn vào nhau nữa đi anh/ Cái tên riêng đã hoá thành tên chung".

 

 

>> XEM CHÂN DUNG & PHỎNG VẤN NHÂN VẬT KHÁC...    

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.