Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Đỗ Hữu Thiêm ngọn nến không lụi tàn

26.4.2014-14:00

 Nhà thơ Đỗ Hữu Thiêm

 

 

ĐỖ HỮU THIÊM

NGỌN NẾN TỰ CHÁY KHÔNG CHỊU LỤI TÀN

 

QUANG HOÀI

 

NVTPHCM- Những câu thơ gồ ghề bề bộn như một bãi chiến trường chẳng khác gì văn xuôi, không một chút trang sức mỹ tự tu từ, mà ý chí của người lính chiến cứ hiển hiện, quên hẳn bản thân mình, chỉ một lòng nghĩ đến trọng trách và đồng đội ai còn ai mất…

 

Người ta thường ví nhà giáo như ngọn nến thắp sáng ánh tài hoa cho người, còn mình thì lụi tàn, mòn mỏi. Đỗ Hữu Thiêm không phải nhà giáo mà là một chiến binh - một chiến binh khi tử thủ ở dốc Tuý Thạch, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, bị thương và bị bắt, rồi bị đày đi Phú Quốc 7 năm từ năm 1966 đến năm 1973 - cũng ví mình như một cây nến tự cháy nhưng không chịu lụi tàn, mòn mỏi. Trong đời thực, một cây nến khi cháy hết tim là tự lụi tàn, không thể khác được. Trước giông tố phũ phàng, ánh lửa mong manh của một ngọn nến tự cháy làm sao có đủ sức chống đỡ nổi, nó có thể phụt tắt bất cứ lúc nào, không phụ thuộc vào mong muốn chủ quan của bất kỳ ai. Đó là sự nghiệt ngã, trớ trêu của số phận, cũng là một bi kịch tất yếu của đời người sinh lão bệnh tử. Giải cứu bi kịch đó không gì bằng văn chương nghệ thuật. Chỉ có những tác phẩm nghệ thuật mới có thể bất tử hoá được số phận khắc nghiệt của một ngọn nến trước hiện thực phũ phàng. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày bị giam cầm tại nhà lao Quốc dân Đảng Trung Quốc chẳng đã bất tử hoá bông hoa hồng bằng một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đó sao:

      Mai khôi hoa khai, hoa hựu tạ

      Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình

      Hoa hương thấu nhập lung môn lý

      Hướng tại lung nhân tố bất bình.

Cái lý của sự sống, cái lý của cuộc đời là như vậy. Cả cái sự nở lẫn cái sự tàn của bông hoa hồng đều vô tình như nhau, nó như là một định mệnh, là quy luật. Nhưng cái hồn hoa của nó không cam chịu mà lọt qua song sắt nhà tù để thổ lộ với người tù Hồ Chí Minh những bất bình về sự đoản mệnh sớm nở tối tàn của mình, đã làm ý tứ sâu kín của bài thơ bừng loé và bông hoa ấy trở nên bất tử. Đó chính là ý nghĩa cao cả, là thiên chức thiêng liêng của văn chương nghệ thuật.

Phải chăng từ sự cảm nhận như vậy mà Đỗ Hữu Thiêm đã đặt tên cho tập thơ của mình là “Cây nến cháy”. Ông đã nương tựa vào thơ, mặc dù muộn mằn, thắp lên ngọn nến của cuộc đời mình, cuộc đời của một chiến binh bị thương, bị tù đày tàn mà không phế, tù mà không tử. Tôi cho rằng đó là ý tứ thâm hậu của tập thơ “Cây nến cháy” của Đỗ Hữu Thiêm. Đó là sự thành tâm, là một ý nguyện rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, cây nến Đỗ Hữu Thiêm cháy thế nào, phát sáng ra sao, thì lại do chất lượng thơ, giá trị thơ của ông định đoạt.

 

Tập thơ “Cây nến cháy” của Đỗ Hữu Thiêm gồm 204 trang, 84 bài chia thành 3 phần: Phần I: Tiếng gà gáy, 30 bài; phần II: Trên đoạn đầu đài, 30 bài; và phần III: Bóng chim sổ lồng, 24 bài, ứng với 3 thời đoạn trong cuộc đời ông. Thời đoạn thứ nhất là thời đoạn trước tháng 6 năm 1963, thời học trò và là một nông dân trẻ, đầy khát khao hy vọng sau những “Tiếng gà gáy” báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Thời đoạn thứ hai là thời đoạn ông trở thành một chiến binh, từ khi nhập ngũ đến tháng 2 năm 1973, trong sự run rủi của số phận bị thương, bị địch bắt phải ngồi tù 7 năm liền, để thấm thía nỗi đau “Trên đoạn đầu đài”. Thời đoạn thứ ba là thời đoạn sau khi ra tù thời hậu chiến làm công nhân và nghỉ hưu tại quê như một “Bóng chim sổ lồng” trong cuộc mưu sinh đầy khó khăn phức tạp và biến động khôn lường với những tha hoá nghiêm trọng về phẩm chất và lối sống. Trong cả 3 thời đoạn ấy, thơ đều đến với Đỗ Hữu Thiêm một cách tự nhiên nhi nhiên, như một cứu cánh. Từ quan niệm: dù “trong hoàn cảnh nào cũng cần phải giữ lấy nhân cách làm người ở cõi người”, thì mới “mong có được sự thanh thản”, ông đã tìm đến thơ với ý nghĩa đó như một “sự giãi bày chia sẻ” để rồi trở thành “nguồn động viên khuyến khích” mình, “tự hoàn thiện mình hơn trong cuộc sống đời thường”. Đây không chỉ là một lời bộc bạch chân thực mà nó còn chạm tới sự thiêng hoá của thi ca, bởi với ông thơ “đã thành tri kỷ, thành cứu cánh, thành báu vật”.

Có thể nói tinh thần ấy đã được quán xuyến một cách thấu triệt trong cả ba phần của tập thơ, nhất là phần thứ hai - phần “Trên đoạn đầu đài”, một thời đoạn gay cấn và khốc liệt của cuộc đời ông, tưởng như ngọn nến có thể phụt tắt bất cứ lúc nào trước sự trớ trêu của số phận. Nhưng tuyệt nhiên ở ông không hề hé lộ một kêu ca, một phàn nàn hay rên rỉ xa xót nào trước bất hạnh mà mình phải nếm trải. Tôi nghĩ, cái tạo nên bản ngã ấy ở ông chính là ý chí, cái ý chí của một chiến binh luôn một lòng một dạ hướng thiện để đến với sự thanh thản của cuộc đời, từ cái bất thường trở về với cái bình thường như những con người bình thường trong cuộc sống bình thường. Theo tôi, đó là một nét đẹp trong thơ ông và ta có thể sẻ chia, cộng hưởng với ông ở nét đẹp nhân cách, nét đẹp tâm hồn đó.

Giữa lúc đau đớn tưởng như tuyệt vọng của người lính trận là giờ khắc bị đối phương tấn công “Trúng đạn ổ khoá nòng vỡ toác/ Súng gục!... gãy đôi/ Tay tôi… gân đứt tim giật buốt thót/ Máu chảy tràn xuống mắt xuống mặt”… “Quả phóng lựu chém bay của tôi bắp chân”, trong hoàn cảnh khốc liệt ấy, Đỗ Hữu Thiêm không hề rên rỉ, ta thán mà chỉ nghĩ đến nhiệm vụ: “Nhiệm vụ chặn bước tiến quân giặc/ Tiểu đội tôi trọng trách/ Bảy người bám đất còn ai?”. Chỉ có ý chí và tinh thần nhân văn mới có thể tôi luyện ông có được cái bản lĩnh tự tại như vậy. Những câu thơ gồ ghề bề bộn như một bãi chiến trường chẳng khác gì văn xuôi, không một chút trang sức mỹ tự tu từ, mà ý chí của người lính chiến cứ hiển hiện, quên hẳn bản thân mình, chỉ một lòng nghĩ đến trọng trách và đồng đội ai còn ai mất. Đó là một nét đẹp đặc trưng của “Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện qua cá thể Đỗ Hữu Thiêm mà tôi cảm nhận được.

Đấy mới chỉ là màn giáo đấu của mội chiến binh khi lâm trận bị địch tấn công, nhưng khi chiến binh đó trở thành tù binh của địch, nhất là khi anh bị địch sử dụng làm mồi nhử để tiêu diệt đồng đội của mình, thì màn kịch mới thực sự bước vào hồi kịch tính ghê gớm nhất. Ấy là khi “Những cột khói đen húc vào bụng không gian/… Tôi bị trói vào thân cây cháy dở/ Đen thui đoạn đầu đài!.../ Máu nhầy nhụa bả vai”, chính lúc ấy Đỗ Hữu Thiêm không nghĩ đến cái chết mặc dù nó chỉ trong gang tấc, mà ông lại nghĩ đến: “Tôi chỉ mong trưa hồng dịu đi chút lửa”“Bao giờ đất nước hết thương đau?...”. Từ tư tưởng nhân văn ấy của một người lính bình thường, Đỗ Hữu Thiêm đã tìm đến sự thanh thảnh qua lời nhắn gửi đồng đội:

       “Đừng, xin đừng cứu tôi… đồng đội

        Hãy cảnh giác chuẩn bị cho mặt trận tới

        Mỹ thả câu đang dùng tôi làm con mồi

        Đừng phiền hà!... Chết đã là phận của riêng tôi”.

Trên đây là hai bài thơ “Chiến bại” và “Trên đoạn đầu đài” tôi dẫn ra để minh chứng cho sự cảm nhận của mình về một nét đẹp tiêu biểu cho nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” trong thơ Đỗ Hữu Thiêm.

Tôi xin chân thành chia sẻ cùng ông với tư cách một người đồng đội và mong ông trong những năm tới của tuổi ngoại 70 như hoài vọng của mình “Đãi cát thật kỹ càng/ Sẽ được vẩy nhót vàng đỏ óng/ Chắt chiu gạn trong cuộc sống/ Dày công ắt gặp tứ thơ”, sẽ có những bài thơ chắt lọc hơn, ý tứ trầm ẩn hơn…, để ra mắt bạn đọc, hoà với cuộc đời rộng lớn, với quê hương thân yêu của một người chiến binh quê Phùng Xá, Mỹ Đức, Thủ đô Hà Nội:

        “Chiến trường xưa gửi lại chút máu xương

         Về quê lụa lại nong tằm canh cửi

         Dệt mộng đời với những ước mơ xa…”.

Phố Vương Thừa Vũ, 10.4.2014

 

_____________

* “Cây nến cháy” - tập thơ của Đỗ Hữu Thiêm, Nxb. Hội Nhà văn, 2014

 

 

 

>> XEM CHÂN DUNG & PHỎNG VẤN NHÂN VẬT KHÁC...

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.