Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Gặp nhà văn Anh Đức trong rừng

10.9.2014-06:45

>> Thư viện Anh Đức

 

Gặp nhà văn Anh Đức trong rừng

 

THANH THẢO

 

NVTPHCM- Những chuyện nhỏ, chuyện vui trong mâm cơm với một nhà văn nổi tiếng nhưng điềm đạm như thế đã cho tôi hình dung về cách sống và công việc của một nhà văn ở chiến trường…

 

Tôi còn nhớ, năm 1965 kỳ thi tốt nghiệp PTTH (lớp 10 - hệ 10 năm) chúng tôi thi đề văn về tác phẩm “Những bức thư từ tuyến đầu Tổ quốc”, trong đó chủ yếu là “Bức thư Cà Mau” của nhà văn Anh Đức gửi nhà văn Nguyễn Tuân. Thực ra, những bức thư ấy là những bút ký văn học của nhà văn Anh Đức (Bùi Đức Ái) viết ngay từ chiến trường miền Tây Nam Bộ, với giọng văn vừa tình cảm vừa điềm tĩnh phản ánh cuộc sống và cuộc chiến đấu của nhân dân ở mũi đất cuối cùng của Tổ quốc - mũi Cà Mau - “như ngón chân cái còn chưa khô bùn vạn dặm” (Nguyễn Tuân).

 

Đó là thời điểm Mỹ vừa mở rộng cuộc chiến tranh ra cả hai miền Nam - Bắc. Có thể coi đó là tác phẩm “nóng” nhất hồi ấy từ miền Nam gửi ra, nên được bạn đọc miền Bắc đón nhận với rất nhiều tình cảm và sự quan tâm. Tác phẩm này cũng lập tức được đưa vào phần đọc thêm trong sách giáo khoa, và đưa chính thức vào đề thi môn Văn tốt nghiệp PTTH năm 1965 ở miền Bắc.

 

May quá, trước đó tôi đã đọc tác phẩm này với nhiều thích thú, cộng tình cảm quê hương miền Nam, nên bài thi của tôi làm khá tốt, dẫn chứng cũng ổn (vì có những đoạn thư Anh Đức tôi thuộc lòng). Kết quả, tôi được 5 điểm môn thi Văn (ngang điểm 10 bây giờ), và được xét tuyển thẳng vào khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội khóa 1965 - 1969. Vậy cũng một phần nhờ nhà văn Anh Đức giúp đỡ mà tôi được vào đại học.

 

Năm 1971, khi vào Nam Bộ làm phóng viên chiến trường cho Đài Giải phóng và Đài Tiếng nói Việt Nam thuộc ngành tuyên truyền Binh vận, tôi đã “ủ mưu” làm thơ, vì thế Ban Văn nghệ R (Trung ương Cục) là địa chỉ tôi thường quan tâm nhiều. Ở cơ quan tôi lại có một nhà văn người Nam Bộ là anh Lưu Kiểng Xuân (Tư Xuân) - nguyên trung úy lái trực thăng của không quân Sài Gòn - nhưng là cơ sở cách mạng và đã lên chiến khu tham gia vào Tiểu ban tuyên truyền Binh vận.

 

Tôi với anh Tư Xuân hay đàm đạo về văn học, và anh Tư Xuân thường nhắc tới các nhà văn Trang Thế Hy, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng đang công tác bên Ban Văn nghệ. Có một lần, chính Tư Xuân đã rủ tôi đi xe đạp tìm sang “cứ” B2 - Văn nghệ thăm các nhà văn mà chúng tôi mến mộ, dù tôi chưa được gặp họ lần nào.

 

Buổi sáng, chúng tôi đạp xe từ “cứ” Binh vận mất khoảng giờ 30 phút thì tới ngã tư Nước Đá thuộc đất Campuchia. Tên là lạ này do lính ta đặt cho cái ngã tư chẳng có gì đặc biệt, ngoài một quán nước lèo tèo, bán vài món giải khát rẻ tiền như sâm bổ lượng, thạch đen. Điều đặc biệt nhất ở quán này là… nước đá. Uống nước giải khát trên mảnh đất lúc nào cũng nóng ran mà có vài cục đá lạnh thì… đã thiệt! Tôi với Tư Xuân dĩ nhiên không bỏ qua cơ hội hiếm hoi này, mỗi người vô quán làm một cốc nước đá sâm bổ lượng cho… mát mẻ, rồi mới chịu lên đường đi tiếp.

 

Gần trưa mới tới B2 thì hay tin nhà văn Trang Thế Hy đã đi xuống chiến trường đồng bằng, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã lên đường ra Bắc an dưỡng do đau ốm. Chúng tôi hơi buồn. May được gặp nhà văn Anh Đức vốn quen biết với Tư Xuân. Tôi mừng quá, chợt nhớ chuyện mình thi đề văn tốt nghiệp trung học về tác phẩm của Anh Đức, nhưng mới gặp nhà văn lần đầu nên tôi không dám kể. Vợ chồng nhà văn Anh Đức ở trong một ngôi nhà nhỏ mái lợp lá trung quân, nhà đơn sơ nhưng gọn gàng ngăn nắp. Chị Loan - vợ Anh Đức - quê gốc Hà Nội nhưng đã lặn lội vượt Trường Sơn vào Nam theo chồng. Anh chị đã có một bé trai. Cả hai vợ chồng đều gầy ốm, nước da xanh tái, dấu vết của những trận sốt rét rừng. Đó cũng là “màu da đặc trưng” của Việt Cộng hồi ấy. Một nhà văn nổi tiếng như Anh Đức, lại đã có gia đình con cái, mà phải sống trong rừng khổ cực như thế, thì đúng là chỉ ở chiến tranh Việt Nam mới có, phía Việt Cộng mới có.

 

Anh Đức tiếp Tư Xuân và tôi rất niềm nở, lúc ấy cũng gần trưa, vợ chồng anh thịt hẳn một con gà nhà nuôi đãi cơm chúng tôi. Ở rừng, đó là chuyện lớn, ít nhất là đối với chúng tôi. Đã khá lâu rồi tôi không biết mùi thịt gà là gì. Vì phải rất khó khăn mới nuôi được một con gà trong rừng. Có lẽ vợ chồng Anh Đức nuôi gà vì có con nhỏ, nuôi gà lấy trứng cho con bồi dưỡng.

 

 Trong bữa cơm, đúng ra Tư Xuân mới là nhân vật chính, còn tôi chỉ ăn theo. Anh Đức cũng chẳng biết tôi là ai, ngoài là một cậu lính làm báo và mê văn nghệ. Nhưng tôi rất vui, ăn theo mà được ăn theo… thịt gà thì quá tươm! Tôi để ý thấy nhà văn Anh Đức nói năng nhỏ nhẹ, chị vợ anh còn nhỏ nhẹ hơn. Vậy mà khi ấy Anh Đức đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng, nhiều trận xuống chiến trường đồng bằng, ăn chịu với bom đạn khiến tôi rất ngưỡng mộ.

 

Những chuyện nhỏ, chuyện vui trong mâm cơm với một nhà văn nổi tiếng nhưng điềm đạm như thế đã cho tôi hình dung về cách sống và công việc của một nhà văn ở chiến trường. Anh Đức kể về trận càn lịch sử năm 1970, gia đình anh đã phải vất vả như thế nào khi cùng cơ quan chạy càn, lại vừa phải mang bản thảo, chỉ sợ mất hay thất lạc.

 

Buổi chiều, chia tay gia đình nhà văn Anh Đức, tôi với Tư Xuân lại lóc cóc đạp xe ra về, qua một trảng cỏ voi thiệt rộng. Chúng tôi đạp xe theo lối mòn, và tôi chợt để ý thấy chi chít những dấu chân người in trên lối mòn chưa kịp khô sau cơn mưa.

 

Có lẽ một đơn vị bộ đội vừa hành quân qua đây để ra chiến trường. Buổi tối về “cứ”, tôi viết luôn được bài thơ “Những dấu chân qua trảng cỏ”, sau này thành tựa đề chung cho tập thơ đầu tay của tôi “Dấu chân qua trảng cỏ”. Tính ra, dù chưa được gặp nhà văn Trang Thế Hy và Nguyễn Quang Sáng, nhưng lại được gặp nhà văn Anh Đức, được ăn thịt gà do Anh Đức chiêu đãi, và nhất là, cuối cùng viết được bài thơ không đến nỗi nào. Tôi biết ơn nhà văn Anh Đức vì điều đó. Vào năm 1974, khi Anh Đức làm Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Giải phóng, anh và nhà thơ Diệp Minh Tuyền (làm biên tập viên) đã quyết định chọn in bài thơ “Một người lính nói về thế hệ mình” của tôi trên số tạp chí vừa ra lại sau nhiều năm phải ngắt quãng.

 

 Vì bài thơ ấy, Anh Đức và Diệp Minh Tuyền đã bị phiền hà, thậm chí phải giải trình và bị kiểm điểm. Nhưng sau đó tôi được nghe anh em kể lại, anh Anh Đức đã giữ vững quan điểm của mình, không coi bài thơ ấy của tôi là “độc hại” hay gì cả. Lại một lần nữa tôi biết ơn anh. Sau này, tôi cũng rất ít khi có dịp được gặp nhà văn Anh Đức, nhưng lần gặp anh đầu tiên trong rừng là một kỷ niệm đẹp khó quên với tôi, một “lính mới” yêu văn học vừa chân ướt chân ráo vào chiến trường Nam Bộ.

 

Xin vĩnh biệt Anh, nhà văn Anh Đức!

 

 

 

>> XEM CHÂN DUNG & PHỎNG VẤN NHÂN VẬT KHÁC...

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.