Tin mới Xem thêm

  • Câu hỏi của Thủ tướng

    Xuyến, 31 tuổi, đã có hơn mười năm bám trụ trong các xưởng may gia công ở Bình Dương, TP HCM. Học chưa hết lớp 11, cô đã theo bạn vào làm công nhân

  • Ngô Ngọc Bội nhà văn chuyên biệt đồng quê

    Nhà văn Ngô Ngọc Bội sinh ngày 07 tháng 01 năm 1929, quê xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Ông tham gia Cách mạng từ năm 1945

  • Vũ Minh Nguyệt - Bầu trời ngoài ô cửa

    Năm tuổi, Linh đã ngồi trước khung toan và cầm cọ vẽ. Cha dắt Linh vào con đường hội họa quá sớm. Thảng hoặc, cha dắt Linh đi dạo quanh

  • Tuấn râu - nhà nghiên cứu vùng trung du Bắc...

    Nói đến Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Bảo tàng Hùng Vương tỉnh Phú Thọ, Chi hội trưởng Chi hội lý luận

  • Lê Quang Trạng & Dì và Năm

    Nửa đêm, dì kêu ú ớ, “Trạng, Trạng, cứu dì, cứu dì con ơi!”. Tôi xô cửa phòng bước vào. Dì ngồi gục đầu, mặt tái mét, không còn chút thần sắc. Dì kêu tôi đỡ dì nằm xuống, dì bị tuột máu. Trước giờ chưa từng gặp cảnh cứu người đột ngột, nên tôi hơi lập cập. Dì nói nhỏ như cơn gió, chỉ tôi, “lấy trà trong tủ, pha trà đường; lấy chai dầu dì để trong tủ…”.

  • Nguyễn Đông Thức đi qua nước mắt nụ cười

    Với "Đi qua nước mắt nụ cười", Nguyễn Đông Thức đã đứng ở góc độ chung với số phận của hàng triệu con người cùng thế hệ…

Chân dung Xem thêm

  • Ngô Ngọc Bội nhà văn chuyên biệt đồng quê

    Nhà văn Ngô Ngọc Bội sinh ngày 07 tháng 01 năm 1929, quê xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Ông tham gia Cách mạng từ năm 1945

  • Nguyễn Đông Thức đi qua nước mắt nụ cười

    Với "Đi qua nước mắt nụ cười", Nguyễn Đông Thức đã đứng ở góc độ chung với số phận của hàng triệu con người cùng thế hệ…

  • Lâm Thị Mỹ Dạ trái tim sinh nở

    Rồi có lần ngồi tán gẫu chuyện phiếm văn thơ, tôi “dọa”, phụ nữ mần thơ như Dạ là hay bị “lộ” thiên địa lắm. Dạ bảo, lộ chi mô, thiệt răng mình mần rứa

  • Rất Trần Vàng Sao...

    Nhà thơ Trần Vàng Sao vừa ra đi tại quê nhà Vỹ Dạ (Huế) ở tuổi 78, sau một cuộc đời kỳ lạ để lại nhiều nỗi xa xót, tiếc thương. Trần Vàng Sao

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Hàn Mặc Tử trữ tình trong điên cuồng đau thương

12.4.2017-18:30

 Thi sĩ Hàn Mặc Tử

 

Hàn Mặc Tử: Trữ tình gợi cảm

trong điên cuồng đau thương

 

NAM THI

 

NVTPHCM- Chất trữ tình trong thơ Hàn Mặc Tử khác biệt hẳn so với các thi sĩ cùng thời. Nếu thơ của họ truyền thẳng cảm xúc đến người đọc thì thơ của ông lại “gợi cảm” sâu xa bấy nhiêu.

 

Mỗi khi nhắc đến Thơ mới – một trong những thời đại thi ca rực rỡ bậc nhất của văn học Việt Nam, cái tên Hàn Mặc Tử, bao giờ cũng hiện ra trong tâm trí của độc giả, đặc biệt là những người yêu thơ ca bởi lẽ ông đã trở thành tượng đài lớn.

 

Trong tạp chí Ngày mới xuất bản năm 1940, Chế Lan Viên từng nhận định “Mai sau, những cái tầm thường, mực thước sẽ biến đi và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”.

 

Thơ của Hàn Mặc Tử thấm đẫm chất trữ tình chủ đạo của thời đại thi ca đó, nhưng vẻ trữ tình của ông mang nét khác hẳn. Nó không lao thẳng vào cảm xúc người đọc một cách thuần khiết như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, cũng không chỉ mang màu sắc lãng mạn tương trưng như Xuân Diệu, Huy Cận, Đinh Hùng, Bích Khê…

 

Nó là sự hòa quyện tài tình của tượng trưng và siêu thực. Vì thế mà thơ Hàn Mặc Tử không “truyền cảm” mà “gợi cảm” sâu xa để người đọc tha hồ suy tưởng rồi run lên vì hay quá, điên quá, táo bạo quá!

 

Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi. Chất trữ tình trong thơ ông thủơ ban đầu là chất trữ tình cổ điển, với lối so sánh ước lệ và cách gieo vần theo thể Đường luật. Điều đó được thể hiện rõ trong tập Lệ Thanh thi tập của ông:

 

“Khóc giùm nhân thế hoa rơi lệ

Buồn giúp công danh, dế tạo đàn”

 

                      (Đêm không ngủ)

 

Tuy nhiên, ngay trong những bài thơ Đường luật ấy, mầm mống của sự cách tân khác biệt đã bắt đầu lộ rõ. Đó là ngày 11/10/1931, ba bài thơ gồm: Chùa hoang, Gái ở chùaThức khuya (hay còn có tên khác là Đêm không ngủ) được in trên Thực dân Nghiệp báo có ký tên P.T (tức Phong Trần).

 

Ba bài thơ này đã được Ông già Bến Ngự - Phan Bội Châu chú ý và hết lòng khâm phục. Cũng vẫn là thơ trung đại đấy, nhưng nội dung thơ đã chẳng còn ngâm vịnh gió trăng hay bàn đến hào khí anh hùng, mà bao trùm lên đó là nhục cảm và thân xác, điều gần như cấm kỵ thời bấy giờ lại là hai yếu tố chính trong thơ Hàn Mặc Tử.

 

Thật chẳng quá lời khi có người nói rằng, Hàn Mặc Tử đã thực sự đưa thơ ca Việt Nam sang một giai đoạn mới, phá tung xiềng xích của lễ giáo cũ kỹ, chật cứng trong xã hội cổ, để mở ra một không gian mới, một hành trình khám phá mới cho nghệ thuật chỉ với hai câu thơ:

 

“Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”

 

         (Đêm không ngủ)

 

Ở thời điểm đó, đã làm gì có ai dám “điên” như Hàn Mặc Tử, “leo song” rồi “rờ rẫm” đều là những động từ nhạy cảm và có tính gợi cảm cực kỳ cao độ, mùi xác thịt nằm cả ở gió trăng.

 

Trong nhiều bản in, bạn đọc sẽ bắt gặp “sờ sẫm gối” thay vì “rờ rẫm gối”, em trai Hàn Mặc Tử là Nguyễn Bá Tín cho rằng có thể do người bạn thân Quách Tấn đã sửa, để câu thơ trở nên lịch sự hơn nhưng vô tình lại làm mờ đi ý đồ của tác giả khi muốn mang lại cảm giác ram ráp, rạo rực cho người đọc hơn là sự nhẵn bóng, trơn tru của âm “s” trong từ miêu tả.

 

Nhờ có cái chất trung đại từ thủơ ban đầu ấy, mà sau này khi Hàn Mặc Tử chuyển sang thơ mới, ông lập tức định vị được cái vẻ trữ tình riêng biệt cho mình thật khác với các thi nhân cùng thời. Chính bởi căn cốt phương Đông đã ăn sâu mà sự tượng trưng của thơ ông mang dáng vẻ Đường thi, rõ hơn nữa là tính siêu thực đậm chất liêu trai “điên cuồng” với trăng, hồn và máu.

 

Đọc thơ của Hàn Mặc Tử, có khi người ta cảm thấy bứt rứt kinh khủng bởi lối nói đậm vẻ phương Đông vừa lộ liễu vừa kín đáo. Thơ ông không áp đặt người đọc phải cảm nhận những gì ông cảm nhận, những con chữ chỉ đóng vai trò đòn bẩy, là phương tiện mở ra những liên tưởng độc đáo, làm bật lên cảm xúc riêng biệt trong mỗi người, từ đó mà ta đón nhận những mỹ cảm một cách tròn đầy hơn, đã đời hơn mà reo lên thích thú:

 

“Trăng nằm sõng soài trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi”

 

                    (Bẽn Lẽn)

 

Chúng ta đều biết, Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong, những ngày tháng cuối đời trong trại phong Quy Hòa – Bình Định cũng là lúc chất trữ tình siêu thực trong đau thương, điên cuồng trở nên rõ rệt nhất.

 

Cái thực – cái ảo vốn đã nằm sẵn trong ông, và nay khi căn bệnh nan y xuất hiện làm chấn động tâm lý, kéo thi nhân vào nỗi đau cùng cực của cả tinh thần lẫn thể xác, thì những ẩn sâu đó được phát lộ mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

 

Ông tan biến vào thế giới của riêng mình ở các bài thơ, nhìn vạn vật đẹp mà đầy “đau thương”, “sao bông phượng nở trong màu huyết/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”. Có những lúc, người đọc không khỏi rùng mình ám ảnh bởi những vần “thơ điên”, thơ hay nhưng xót xa quá, xót cho con người cuồng loạn mê man trong miền không gian hư ảo:

 

“Thưa, tôi không dám say mê

Một mai tôi chết bên khe ngọc tuyền

Bây giờ tôi dại tôi điên

Chắp tay tôi lậy cả miền không gian…”

 

                (Một miệng trăng)

 

Thật may mắn rằng, dù có mộng mị đến đâu, siêu thực nhường nào, thơ của Hàn Mặc Tử vẫn có yếu tố lãng mạn níu kéo. Sự hòa hợp tài tình này, đã khiến cho “đau thương” trong cuộc sống thường ngày của ông trở nên lộng lẫy, kỳ ảo, huyền bí bằng phương tiện ngôn từ. Thơ ông quả thực có sức “gợi cảm” mạnh liệt tới tận đáy sâu tâm hồn của tất cả những ai thưởng thức nó.

 

 

>> XEM CHÂN DUNG & PHỎNG VẤN NHÂN VẬT KHÁC...  

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.