Tin mới Xem thêm

  • Hội Nhà văn ký hợp tác khu bảo tồn Đồng Nai

    Ngày 18.8.2017, nhân dịp tổ chức trại sáng tác văn học “Kỷ niệm 50 xuân Mậu Thân” tại vùng rừng núi Chiến khu Đ - Mã Đà trước đây, Hội Nhà văn TP.HCM đã tiến hành lễ ký kết hợp tác với Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hoá Đồng Nai thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai

  • Tranh giả: Chống bằng cách nào?

    Chuyện thị trường tranh Việt Nam ngập tràn tranh giả, tranh chép dẫn đến việc các nhà sưu tầm mất niềm tin và khiến cho hội họa khủng hoảng

  • Nguyễn Chí Hoan - Thân thể như tinh thần và...

    Có thể nói mà không sợ quá lời, rằng sự khám phá tính ẩn dụ của thân thể và mọi thứ thuộc về hay liên quan của thân thể chính là đặc tính bao trùm

  • Cần thêm nhiều ý tưởng “nuôi” sáng tác văn...

    Có không ít ý tưởng, sáng kiến tốt cho hoạt động sáng tác văn học nhưng còn le lói hay đang chờ đợi ở đâu đó, cần khai thác, chào đón. Từ ý tưởng đến hiện thực, lại cần thêm nhiều điều kiện thiết thực để hỗ trợ hiệu quả cho lao động của những người cầm bút

  • Nhìn nhận công lao nhà Mạc và chúa Nguyễn

    Nhìn nhận công lao nhà Mạc cùng chúa Nguyễn và các vương triều nhà Nguyễn, không gọi chính quyền Việt Nam cộng hoà là ngụy quân, ngụy quyền như trước, chỉ đích danh quân Trung Quốc xâm lược Việt Nam... Đó là những điểm mới của bộ sách Lịch sử VN.

  • Đào Đức Tuấn viết thơ vào thinh không

    Ai đến thăm Hồ Gươm, chắc sẽ nhớ ngọn tháp bút với 3 chữ tương truyền của cụ “Thần Siêu” - Nguyễn Văn Siêu (thế kỷ XIX) là

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Phạm Đức với ca dao, dân ca là máu thịt

13.8.2017-13:30

Nhà thơ Phạm Đức

 

Nhà thơ Phạm Đức:

Ca dao, dân ca là máu thịt của thơ tôi

 

DƯƠNG KIM THOA

 

NVTPHCM- Nhiều người bảo, ca dao của ông cha ta rất hiện đại, nhưng phải đâu ai cũng chỉ ra được sự hiện đại đó là như thế nào. Với nhà thơ Phạm Đức, điều này đã được lưu giữ trong các cuốn sổ ghi chép từ những năm 70 của thế kỷ trước, thuở ông còn là anh lính thông tin trên chiến trường. Đó là những câu ca dao, không phải lúc nào cũng là lục bát, mà nếu đọc riêng lên, liệu có bao nhiêu người sẽ nhầm đó là thơ của tác giả hôm nay?

 

“Một lời em nói

Anh hong khói để bền

Dẫu bao nhiêu năm nữa không quên lời nào”.

 

Với những ai đã từng sống ở thôn quê, chuyện hong khói không có gì đâu mà lạ. Những quả bầu, quả bí được chọn để làm giống vụ sau, những bắp ngô thu hoạch về muốn giữ lại làm thức ăn cho người và gia súc trong những ngày trái vụ, những cái rổ cái rá sau khi đan, muốn bền sợi nan trong thời gian sử dụng, v.v… tất cả đều được treo lên gác bếp để hong khói tạo độ bền. Nhưng hong khói lời nói thì chắc là việc chưa ai làm bao giờ. Vậy là người xưa đã lấy một nếp sinh hoạt ngày thường để gắn vào đó một thứ tưởng như hư vô là “lời nói”. Bằng cách ấy, nhà thơ dân gian đã khiến cái ý nhị, tình tứ trở nên thực đằm thắm, thiết tha.

 

Cũng đã có lần, nhà thơ Phạm Đức nói tới nét hiện đại của ông cha ta xưa được thể hiện trong những bài ca dao rất “táo bạo” về tình yêu đôi lứa:

 

“Ước gì anh hóa ra cau

Anh hóa ra bẹ ôm nhau suốt đời”

 

Trời ạ, ước gì mà ước gớm ước ghê, đúng là… bõ công để ước. Nếu nói về độ dũng mãnh trong tình yêu, có lẽ, cho tới hôm nay, cũng còn hiếm người nói được tới mức đó. Nhưng với nhà thơ, ông đọc ca dao để biết rằng, người xưa đã nói theo cách đó rồi, ta cần lựa cách nói khác để tránh lặp lại, để gắng tìm một cách tiếp cận mới hơn, hoặc chí ít, cũng khác hơn so với những gì mà tiền nhân đã nói. Ý thức rất sâu sắc điều đó nên khi ngắm nhìn hòn vọng phu và nghĩ về câu chuyện buồn thương thuở xưa trong truyền thuyết, nhà thơ Phạm Đức ngẫm thấy, đã có quá nhiều người khai thác câu chuyện này. Nhưng phần đông vẫn cho rằng nàng là người phụ nữ bất hạnh. Nhưng có thực nàng hoàn toàn bất hạnh không? Hình như không phải thế. Ở một góc độ nào đó, ông cho rằng, khi người ta còn có điều gì đó để chờ đợi, để mà hóa đá, khi người ta còn một niềm tin để hướng tới thì người ta vẫn còn hạnh phúc.

 

Với tác giả của những câu thơ, “tôi tìm em, em tìm ai – Để đôi khi tiếng thở dài hòa chung”, đọc ca dao, cũng để thấy cái tinh tế trong nghệ thuật khái quát hóa của người xưa. Ca dao hiếm khi nói những điều to tát. Người nghệ sỹ xa xưa chỉ thường thông qua một cái nhỏ để nói về những điều lớn hơn, bao quát hơn. Còn nhớ câu ca dao xưa, khi nói về sự thay lòng đổi dạ, người ta đã “đổ thừa” rất hay thế này:

 

“Ba năm ăn ở trên thuyền

Bởi anh hàng muối cho nên mặn mà

Xuống thuyền chân dậm nhịp ba

Bởi anh hàng trứng hóa ra hai lòng”.

 

Từ chuyện quả trứng có lòng trắng lòng đỏ để rồi từ đó nói về chuyện ăn ở hai lòng của con người, ngẫm ra, thật cảm phục tài dùng chữ, tài bóng gió của các cụ ta xưa. Học cái tinh tế đó, Phạm Đức đã chọn cho mình một cách viết về Trường Sơn, về những năm tháng ông cùng đồng đội dãi nắng dầm mưa trên những nẻo đường chinh chiến. Không giống với những câu thơ đầy dũng khí của Nguyễn Đức Mậu trong Ngủ theo đội hình đánh giặc, Phạm Đức chọn cho mình một ý nghĩ bắt đầu từ những cành cây làm chỗ bám víu cho chiến sỹ dọc theo lối chiến trường. Không biết những cành cây đó đã khô và chết chưa, chỉ biết chúng chẳng bao giờ kịp mọc lá khi những bàn tay người, cứ lớp sau kề lớp trước, bám vào để vượt qua từng chặng đường chiến dịch. Từng đoàn quân nối tiếp đi qua, gợi cho nhà thơ một cảm giác như hư như thực. Hình như, hơi ấm của người đồng đội mình vừa đi qua vẫn còn vương vấn, lưu luyến trên nhành cây đó và truyền lại trong lòng tay mình. Rồi đến lượt mình, mình lại gửi lại một chút hơi ấm của lòng bàn tay cho những người kế tiếp đi sau. Và ông đã viết:

 

“Cành cây nhẵn bóng chìa tay

Đưa ta qua quãng dốc này chung chiêng

Ta nghe hơi ấm lan truyền

Của tay ai vẫn giữ nguyên trên cành

Vui sao khi thấy tay mình

Lại truyền hơi ấm để dành cho ai”

 

               (Hơi ấm bàn tay)

 

Qua một chi tiết để thấy được vấn đề, cách nhìn đó thực ra không phải chỉ là nghệ thuật riêng của mỗi nhà thơ, nhưng dường như, ở nhà thơ, đó là cách nhìn sẽ phát lộ những trực cảm đậm đà cá tính hơn cả. Và câu chuyện của nhà thơ Phạm Đức có lẽ cũng là điều để mỗi người tự đúc rút cho mình những kinh nghiệm riêng trong nghề viết.

 

Có lần, nhà thơ Phạm Đức đã chia sẻ, theo ông, đã là người Việt Nam, nếu muốn làm thơ nhưng lại không muốn học, muốn đọc bất cứ tác phẩm của tác giả nào đi trước hoặc cùng thời với mình, thì chí ít, anh phải học hỏi cái kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca của cha ông ta nghìn xưa để lại. Đó là sản phẩm của một quá trình chọn lọc tự nhiên theo thời gian, là những gì được truyền giữ, lưu lại qua hàng nghìn năm, suốt bao nhiêu thế hệ. Và như thế, nó hẳn phải là những gì tinh túy nhất, hồn cốt nhất, tiêu biểu nhất. Vậy nên, nếu ai đã từng làm thơ, mà nhất là đã từng có những câu thơ lục bát, chắc hẳn, dù có thừa nhận hay không, trong họ, phải có sự thấm nhuần hay ảnh hưởng đâu đó ít nhiều từ một nguồn thơ ca dân gian vô tận đó.

 

Là một người yêu đến say mê ca dao, dân ca, ngay từ hồi còn đi học phổ thông, nhà thơ Phạm Đức đã có những cuốn sổ tay ghi chép lại những câu tục ngữ, ca dao tâm đắc. Sau này, cả khi vào quân ngũ, thói quen này vẫn được ông duy trì đều đặn. Và mặc dù bây giờ, nếu để kể ngay ra những câu ca dao, tục ngữ nào đó thì chưa hẳn ông đã nhớ hết, nhưng chắc chắn, cái hồn cốt, cái tinh thần, tư tưởng của ca dao thì từ lâu đã thấm nhuần vào nếp sống, nếp nghĩ và cả phong cách thơ của ông.

 

Với bài thơ Thì anh lại sợ của Phạm Đức chẳng hạn. Đó là một bài thơ được rất nhiều bạn trẻ yêu thích, nhiều người đã chép vào sổ tay nhưng có khi cũng quên mất tác giả của nó là ai. Thậm chí, bài thơ này cũng đã được phổ nhạc thành bài hát, nhưng có lẽ ít người biết rằng, nội dung hay tư tưởng của bài thơ đó đã được nhà thơ Phạm Đức học hỏi gần như nguyên vẹn từ tinh thần của một bài dân ca Nghệ Tĩnh: “Anh đến giàn hoa thì hoa đã nở - Anh đến bến đò, thì đò đã sang sông – Anh đến tìm em thì em đã có chồng – Hỏi rằng em yêu anh như thế chứ đã mặn nồng hay chưa?” Tinh thần của bài dân ca đó thấm vào hồn thơ Phạm Đức từ lúc nào không biết. Ông ấn tượng bởi sự bao dung đầy xúc cảm chân thành của chàng trai – nhân vật trữ tình trong bài ca dao đó. Sự lỡ làng duyên phận, xét tới cùng, chẳng phải chính vì những người trong cuộc đó hay sao. Chẳng phải chính vì anh đã không tìm đến lúc hoa chưa nở, lúc đò chưa đầy, lúc duyên em còn đương “kẻ đón người đưa” đó sao. Vậy nên giờ đây, người con trai đâu có dám trách cứ gì, chỉ biết tự trách mình, một nỗi trách móc đầy nuối tiếc. Tâm trạng đó, cảnh huống đó đã đi vào bài thơ Thì anh lại sợ của nhà thơ Phạm Đức thật tự nhiên:

 

“Anh đã mất em

Lẽ ra là được

Anh chẳng có em

Lẽ ra có được.

Bởi vì cần nói

Với em một lời

Thì anh lại sợ

Âm thầm nuốt trôi.

Bởi vì cần đến

Tìm em trước nhà

Thì anh lại sợ

Đừng nhìn từ xa.

Bởi vì cần hiểu

Những lời lặng yên

Thì anh lại sợ

Cái điều anh tin.

Thế là hoa nở

Khi mùa nở hoa

Thế là xuân đến

Khi mùa đông qua.

Và anh chẳng kịp

Nó ra một lời

Và anh giữ lại

Nỗi lòng chơi vơi”.

 

Toàn bộ bài thơ này, nếu xét về tinh thần và tình cảm thì hoàn toàn giống với những gì bài dân ca Nghệ Tĩnh đã đề cập. Nhưng ai dám bảo nhà thơ Phạm Đức “đạo ý tưởng” ca dao phải không? Nếu “đạo” được theo cách đó, tôi đồ rằng không đơn giản, và không phải ai cũng làm được.

 

Đọc ca dao, yêu thích và say mê ca dao, với nhà thơ Phạm Đức, dường như trong ông luôn hàm ẩn một sự biết ơn vì ca dao đã giúp ông có được sự nhuần nhụy, tự nhiên, khả năng biến báo về vần, về điệu, về nhịp và cả về ý tưởng trong những bài thơ của mình, nhất là thơ lục bát. Đã có không ít bài thơ ông làm, nếu độc giả cảm nhận được, có một chút gì dân dã, gần gụi, một chút gì giống với ca dao, dân ca, thì đó chính là nhờ ông đã thẩm thấu được chút gì đó từ lời ăn, tiếng nói của ông cha ngàn đời truyền lại. Một bài thơ khác nữa cũng cho thấy sự thấm nhuần của chất ca dao, dân ca trong thơ Phạm Đức là bài Phố Bùi Xương Trạch. Bùi Xương Trạch là ai, trước khi trở thành một cư dân ở con phố này, nhà thơ không biết. Tuy nhiên về sau, qua tìm hiểu, ông biết đó là tên của một vị tiến sỹ, lại cũng từng làm quan văn. Nhưng chuyện về vị tiến sỹ đó có thể chỉ là một điểm gợi mở mà thôi, bởi cái điều mà nhà thơ Phạm Đức muốn gửi tới người đọc thì lại là một điều hoàn toàn khác, chúng ta hãy cùng đọc lại bài thơ này:

 

Phố Bùi Xương Trạch là đâu

Nghe như xa lắc, xa sâu, xa mờ

Xa xôi, xa tít, xa xưa

Xa xăm, xa vắng, xa lờ lững xa

Phố Bùi Xương Trạch đâu ta

Em ơi đừng hỏi khéo mà lạc nhau

Phố Bùi Xương Trạch là đâu

Là nơi người muốn có nhau thì tìm.

 

Toàn bộ bài thơ như được thoát thai từ bài ca dao về một đất nào đó mà có thể bây giờ, nếu hỏi, nhà thơ Phạm Đức cũng không thể biết được. Ngay trong đó, chỉ nhìn về phương diện câu chữ, ta cũng thấy sự ảnh hưởng khá nhiều từ ca dao, dân ca. Ví dụ, riêng chữ “xa” thôi, nhà thơ đã cung cấp tới người đọc một loạt các trạng huống khác nhau của nó: “xa xôi”, “xa tít”, “xa mờ”, “xa xăm”, “xa vắng”, “xa lờ lững xa”,… Chắc chắn, những trạng huống cảm giác khác nhau này chỉ có một tâm hồn tinh tế và sâu sắc mới nhận biết được những khác biệt giữa chúng với nhau. Cái đó, rõ ràng là học từ ca dao. Nhà thơ đã học được thủ pháp điệp từ, cách tạo nhịp điệu, vừa như đơn giản, khiêm tốn, lại vừa như có một sự nghịch ngợm, thú vị, và phần nào có đôi chút kiêu ngạo trong đó. Con phố xa lạ, có thể chẳng ai biết nó ở đâu, vì sao nó có tên là vậy, thậm chí người ta cũng sẽ chẳng quan tâm tới sự tồn tại của nó nếu không có một sự liên đới nào đó về mặt cảm xúc. Và nhà thơ đã nhìn ra điều đó. Nếu người ta thực sự muốn tìm nhau, người ta sẽ biết tìm tới nơi, tìm tới con phố đó, dù nó xa lạ thế nào.

 

Học ca dao, dân ca, ai cũng nói là quan trọng, là cần thiết, nhưng liệu mấy ai dám bỏ công sức, tâm huyết để học cho tới nơi tới chốn? Ngẫm cho tới cùng, các cụ xưa vẫn nói, “xỏ một cây kim còn tốn thời gian”, vậy thì có việc gì trên đời không phải lao tâm khổ tứ mà lại thành nên kết quả vang dội?

 

 

 

>> XEM CHÂN DUNG & PHỎNG VẤN NHÂN VẬT KHÁC... 

 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.