Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Phan Hoàng "hầu chuyện" Văn Lê

 

Nhà thơ- nhà biên kịch Văn Lê

 

 

Văn Lê “nhập đồng” hồn vía tiền nhân

 

 

PHAN HOÀNG

 

Lần đầu trong đời ôm được 85 triệu đồng từ giải nhất kịch bản phim Long Thành cầm giả ca, Văn Lê không dám ra khỏi khách sạn, cũng không dám ngủ, sợ bọn trộm vào “thăm” thì toi. Nghe anh kể tôi vừa tức cười vừa thương anh. Văn Lê là thế, thoạt nhìn anh tưởng là người “hét ra lửa”, nhưng ẩn bên trong là một trái tim chân thành, một tấm lòng nhân hậu. Con người hiền lành, tài hoa sinh trưởng ở đất Ninh Bình ấy sớm khoác áo lính, trở thành phóng viên chiến trường, rồi lặng lẽ sáng tác, gặt hái thành tựu trên 3 lĩnh vực: thơ, văn xuôi và điện ảnh; tác giả của hơn 30 đầu sách xuất bản trong lẫn ngoài nước. Ở lĩnh vực nào anh cũng hướng cảm hứng của mình vào chiều sâu văn hoá nguồn cội, “nhập đồng” với hồn vía tổ tiên để lĩnh hội và sáng tạo, mà mới nhất là kịch bản phim Long Thành cầm giả ca đoạt giải nhất cuộc thi mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Văn Lê cũng trăn trở khi điện ảnh Việt Nam hiện nay còn nằm ở hạng yếu kém của thế giới: "Chúng ta cứ nói về nền văn hoá tiên tiến, điện ảnh tiên tiến, trong khi phim còn phải đi in tráng, làm âm thanh ở nước ngoài thì làm gì có tiên tiến".

 

 

ÁM ẢNH BỞI NGƯỜI ĐẸP GẢY ĐÀN Ở LONG THÀNH

 

Bộ phim Long Thành cầm giả ca do Đào Bá Sơn đạo diễn được trình chiếu trên khắp cả nước vào dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, ngay lập tức đã thu hút sự chú ý của dư luận. Người khen ngất trời. Người chê cũng rất chua cay. Đối với tôi, dù Long Thành cầm giả ca không tránh khỏi một vài khiếm khuyết, nhưng đây là một trong những bộ phim lịch sử hay nhất từ trước tới nay của điện ảnh Việt Nam. Sự thành công của bộ phim, ngoài tài năng của đạo diễn Đào Bá Sơn và ê kip làm phim, thì không thể không kể đến tác giả kịch bản - nhà thơ Văn Lê. Tiếp tôi trong phòng làm việc của mình ở Hãng Phim Giải Phóng, Văn Lê cho hay:

- Khi đọc bài thơ Long Thành cầm giả ca của Nguyễn Du, tôi có cảm giác như nàng Cầm chính là nguồn cảm hứng cho đại thi hào viết nên tuyệt tác Truyện Kiều. Gần mười năm qua, tôi cứ bị ám ảnh bởi bài thơ, bởi nàng Cầm…

 

* Chính nỗi ám ảnh thi ca và người đẹp đã buộc anh cầm bút viết kịch bản này, dù anh từng tuyên bố không viết kịch bản phim truyện nữa, phải không thưa nhà thơ Văn Lê?

- Tôi đã từng viết vài kịch bản phim truyện và đã dựng thành phim, trong đó có phim do Đào Bá Sơn dàn dựng, nhưng chẳng để lại dấu ấn gì. Tôi chán, chỉ muốn tập trung cho phim tài liệu, không đả động đến phim truyện nữa. Nhưng rồi Bài ca về người gảy đàn ở Long Thành đã ám ảnh, choáng hết tâm trí tôi, khiến tôi phải “nuốt lời” (cười).

 

* Viết được một kịch bản hay đã khó, viết được kịch bản lịch sử hay càng khó hơn. Nó đòi hỏi tác giả phải dày công điều nghiên tài liệu, phân tích, lý giải những uẩn khúc lịch sử. Anh vốn là một nhà thơ, mà nhà thơ thì hay lơ mơ, vậy làm sao anh có thể nghiên cứu lịch sử một cách thấu đáo, nhất là giai đoạn lịch sử đầy phức tạp cuối Lê đầu Nguyễn?

- Tôi vốn rất say mê lịch sử. Tôi cũng từng làm thơ về lịch sử, nhân vật lịch sử. Đối với kịch bản này, tôi sử dụng lịch sử - Tôi vốn rất say mê lịch sử. Tôi cũng từng làm thơ về lịch sử, nhân vật lịch sử. Đối với kịch bản này, tôi sử dụng lịch sử hình dung thời thế lúc ấy hỗn độn thế nào; và cuộc đời con người bấp bênh, mà đặc biệt là giới nghệ sĩ có khuynh hướng sống ra sao. Nghệ sĩ là người có tài nhưng thường yếu đuối và quá nhạy cảm. Cô ca kỹ bậc nhất Long Thành- nàng Cầm và đệ nhất thi hào Tố Như là hình ảnh những nghệ sĩ tiêu biểu nhất cho thời kỳ phức tạp đó, đã chịu chung đắng cay, tủi nhục với đồng bào mình. Giữa loạn lạc hai con người tài năng ấy tình cờ gặp nhau, yêu thương nhau, xa nhau, rồi lại gặp nhau như sự lập trình của số phận. Cuộc đời họ như khúc ca buồn luẩn quẩn với thân phận con người.

 

* Vượt qua nỗi tang thương của thân phận và thời cuộc, thơ Tố Như và ngón đàn nàng Cầm vẫn sống cùng Long Thành, cùng đất Việt. Đó chính là biểu hiện sức mạnh của văn hoá. Và hình như đó cũng là thông điệp có tính triết lý mà anh muốn gửi gắm qua kịch bản?

- “Thành quách suy di nhân sự cải

Kỷ sứ tang điền biến thương hải

Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong

Ca vũ không di nhất nhân tại”

Nguyễn Du khi đặt bút viết những dòng thơ này là đã muốn gửi lại cho hậu thế bức thông điệp rằng: các triều đại có thể bị thay thế nhưng văn hoá Đại Việt thì mãi trường tồn cùng với sự trường tồn của những người làm ra văn hoá đích thực. Tôi chỉ góp phần làm rõ hơn tư tưởng vĩ đại của cụ Nguyễn Du.

 

* Nghe nói khi viết kịch bản lịch sử này, anh cố tình không muốn tham khảo ý kiến các nhà sử học…

- Không phải không muốn mà là không dám tham vấn các nhà sử học. Có người cho rằng tôi sợ họ “phá bĩnh”. Không phải thế. Tôi chỉ tự tin vào sự “nghiêm chỉnh” của mình mà thôi.

 

* Anh thấy đạo diễn Đào Bá Sơn thể hiện được bao nhiêu phần trăm tinh thần kịch bản?

- Trên tám mươi lăm phần trăm. Có nhiều lời thoại rất hay trong kịch bản không thể triển khai, như đoạn cô Cầm lúc bé ngồi trên đò trò chuyện với thầy Cả, hoặc đoạn nàng Cầm từ chối tiếp các quan chức nhân cách rác rưởi. Nhưng có nhiều chi tiết đạo diễn Đào Bá Sơn thêm vào rất đắt. Hình ảnh cái giếng cổ kết thúc bộ phim cũng không có trong kịch bản, đó là sáng tạo của Đào Bá Sơn. Cái giếng cổ chính là cái hồn kịch bản mà anh thâu tóm được. Và thật trùng hợp thú vị khi cái giếng trước đền Thái Vy ấy lại giống cây đàn vận vào cuộc đời cô Cầm ca kỹ. Đào Bá Sơn nói rằng trước khi bấm máy, đoàn làm phim có về đền thờ cụ Nguyễn Du ở Hà Tĩnh để dâng hương, nên chắc được cụ phù hộ…

Văn Lê nở nụ cười hồn nhiên sảng khoái. Nụ cười ít khi mất đi trên gương mặt hồn hậu của anh. Bộ phim Long Thành cầm giả ca đẹp như một truyện thơ, đậm chất bi, điểm xuyết chất hài, và cũng rất trữ tình lãng mạn. Mở đầu là hình ảnh cái giếng làng với cô Cầm thuở nhỏ. Kết thúc cũng lại cái giếng cổ với nàng Cầm lúc về già. Một thân phận. Một đời người. Một kết thúc đẹp và buồn. Cái buồn sạch, đẹp cũng là sự khai mở, sự thức tỉnh, là sức sống của cả một nền văn hoá. Trải qua bao biến cố, Long Thành không chỉ có tiếng gươm khua, ngựa hí mà còn có tiếng đàn, tiếng thơ và tầng tầng văn hoá sống động. Và đó chính là hiện thân, là hồn vía, là sức sống trường tồn của Thăng Long- Hà Nội ngàn năm.

 

ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM THIẾU TÀI, THIẾU TÂM, THIẾU TIỀN

 

Bộ phim Long Thành cầm giả ca là sự kết hợp đẹp và ăn ý giữa đôi nghệ sĩ tài hoa Văn Lê - Đào Bá Sơn. Đối với Văn Lê, dù mới thử thời vận với kịch bản phim truyện lịch sử nhưng từ lâu anh đã trăn trở về đề tài này. Vốn sinh trưởng ở đất Ninh Bình nơi có cố đô Hoa Lư gắn liền với những biến cố của hai triều đại Đinh - Lê ngắn ngủi và sự khởi đầu triều Lý, Văn Lê hiểu biết khá sâu rộng về chính sử lẫn dã sử. Anh thổ lộ:

- Khi phản ánh một câu chuyện phim có yếu tố lịch sử hoặc nhân vật lịch sử, người cầm bút không phải mô tả mà là làm sống lại lịch sử. Điều đó đòi hỏi người viết không chỉ am hiểu lịch sử mà còn phải giải mã được những hiện tượng bất thường của lịch sử.

 

* Anh có thể cho một ví dụ về “hiện tượng bất thường của lịch sử”.

- Chẳng hạn thời Đinh - Lê, tôi rất băn khoăn khi đọc sử về chuyện Đỗ Thích, một viên quan chi hậu lại có thể giết vua. Đỗ Thích không có phe cánh, thân thích trong triều Đinh, nên hắn không thể nghĩ quẩn đến mức giết vua để được làm vua. Đỗ Thích cũng không có thù oán gì với nhà vua, nên khó mà nói việc hắn giết vua là do tư thù. Vậy thì Đỗ Thích giết vua để làm gì? Liệu có một thế lực nào đó đứng sau lưng y?... Nhiệm vụ của người viết kịch bản phim truyện là phải tìm và lý giải cho ra cốt lõi vấn đề hóc búa này.

 

* Trong lịch sử có chính sử và dã sử. Những bộ phim nổi tiếng của Trung Quốc dường như đều kết hợp thành công hai yếu tố này. Anh và các nhà viết kịch bản phim nước ta có quan tâm tới dã sử?

- Khi nảy ra ý đồ viết một truyện phim lịch sử, tôi không nghĩ là sẽ phải chọn theo chính sử hay dã sử. Đã là lịch sử thì không có “chính” và “dã”. Chưa chắc chính đã thực sự là chính và dã thực sự là dã. Biết đâu dã lại chẳng là chính và chính lại chẳng là dã. Các cụ ngày xưa thật thâm, khi đưa ra hai khuynh hướng chính-dã song hành là muốn chúng bổ sung cho nhau nhằm giúp cho hậu thế hiểu được sự kiện một cách trọn vẹn, tránh hiểu theo một chiều một hướng.

 

* Muốn có một bộ phim hay, trước hết phải có một kịch bản hay. Theo anh, ngoài vốn hiểu biết chân thực và sâu sắc về lịch sử, thì người viết kịch bản còn cần phải chú ý đến những yếu tố nào?

- Người viết phải tìm cách nắm bắt cho được các sự kiện lịch sử với nhiều chiều kích khác nhau, rồi chọn lựa sàng lọc hiện thực để đưa vào phim. Có khi người viết dùng bối cảnh lịch sử như một phương tiện để truyền tải nội dung câu chuyện mà mình muốn chia sẻ.

 

* Nhà văn Nguyễn Quang Sáng từng tỏ ra rất tâm đắc với chi tiết đứa bé được bỏ vào túi ni-lông để dìm xuống nước tránh máy bay địch trong phim Cánh đồng hoang. Với anh thì sao?

- Điện ảnh vốn ăn nhau ở chi tiết. Chi tiết nhỏ đôi khi lại làm nên thành công lớn. Ngược lại, một chi tiết sai có thể làm hỏng cả bộ phim. Làm phim lịch sử dễ rơi vào sự giả tạo nếu sai chi tiết. Chẳng hạn làm phim về Điện Biên Phủ mà quên mất thời điểm đó có mưa, chiến hào nhầy nhụa bùn đất; hoặc các nhân vật trong phim ăn mặc tươm tất như đi dự hội nghị thì hỏng rồi. Tất nhiên cũng có những chi tiết mà người làm phim lịch sử rất khó thực hiện, như tìm chọn những nhân vật có ngón chân Giao Chỉ, hoặc buộc mọi nhân vật đều phải có răng đen, trong khi ai cũng biết dân Đại Việt từ thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 20 đều để tóc dài, ăn trầu và nhuộm răng đen. Đó là cốt cách văn hoá độc đáo của người Việt.

 

* Nhìn vào thị trường và đời sống phim ảnh gần đây, có vẻ như phim truyện Việt Nam đang được mùa sau thời gian dài bị thoái trào. Anh có thấy vậy không?

- Vào thập niên 1980, phim truyện Việt Nam phát triển rực rỡ, cho ra đời nhiều phim hay. Nhưng sau đó khi không còn được nhà nước bao cấp thì nền điện ảnh nước ta hết chỗ dựa. Bước vào thời kỳ đổi mới, hàng loạt hãng phim tư nhân ra đời, đẻ ra đủ thứ Oan, oan tình!, Ngả ba lòng,… báo hiệu giai đoạn suy thoái của điện ảnh Việt Nam. Đến nay nó mới bắt đầu lấy lại thể diện, nhưng để lấy lại được phong độ như thập kỷ 1980 thì còn là điều mơ ước.

 

* Là người trong cuộc, anh hãy thật lòng cho biết nền điện ảnh Việt Nam hiện nay nằm ở hạng mức nào của thế giới.

- Hạng yếu kém. Chúng ta cứ nói về nền văn hoá tiên tiến, điện ảnh tiên tiến, trong khi phim còn phải đi in tráng, làm âm thanh ở nước ngoài thì làm gì có tiên tiến. Kỹ thuật kém. Chi phí cao. Cả nhà nước lẫn tư nhân đều chưa có điều kiện đầu tư…

 

* Giả sử ta có đủ tiền để đầu tư kỹ thuật làm phim, thì liệu điện ảnh Việt Nam sẽ nhanh chóng có nhiều phim hay?

- Khó lắm. Tôi có cảm giác phần lớn các nhà làm điện ảnh của ta đang thiếu cảm xúc. Mà một khi đã thiếu tài, thiếu tiền lại thiếu tâm nữa thì khó mà làm phim hay. Một số người sau khi nhận phim, chưa bàn đến chuyện làm phim thế nào mà lại bàn chuyện mình được bao nhiêu tiền. Khi đồng tiền xâm nhập vào tâm hồn nghệ sĩ như thế thì đòi hỏi có phim hay là không thực tế.

 

Phan Hoàng "hầu chuyện" Văn Lê

 

 

THƠ VẪN LÀ ƯU TIÊN 1 TRONG 3

 

Văn Lê tên thật Lê Chí Thuỵ, sinh ngày 02.3.1949 tại Gia Viễn, Ninh Bình. Do chiến tranh, sớm phải rời ghế nhà trường lên đường nhập ngũ, nên để có được vốn kiến thức cho hoạt động văn hoá và sáng tạo, Văn Lê đã nỗ lực tự học tự đọc không ngừng. Có thể nói Văn Lê là một trong những hình ảnh văn nghệ sĩ tiêu biểu tự vượt lên hoàn cảnh, nắm bắt và làm chủ tri thức để khẳng định giá trị của mình.

Trước khi trở thành nhà thơ, nhà văn, nhà biên kịch nổi tiếng anh đã từng là lính chiến trường Đông Nam Bộ, làm phóng viên báo Văn Nghệ Quân Giải Phóng, Văn Nghệ Giải Phóng, Văn Nghệ. Đến năm 1977, anh tái ngũ, vừa cầm súng vừa cầm bút ở mặt trận 479 cho tới năm 1982 về làm việc tại Hãng Phim Giải Phóng ở TP.HCM. Những năm tháng trấn thủ ở biên giới phía Tây Nam, Văn Lê sống và sáng tác rất nhiệt thành bằng tâm thế như hai câu thơ anh viết:

Nếu có chết xin làm ma nước Việt

Để muôn đời ôm ấp với non sông

Nếu như đến bây giờ Văn Lê mới nở nụ cười tươi với phim truyện cùng Long Thành cầm giả ca sau những thất bại đắng cay với Những đứa con thần linh, Vua lửa, Ngọn lửa Tà Peng, thì từ lâu tài năng của anh đã được khẳng định ở phim tài liệu với vai trò nhà biên kịch lẫn đạo diễn. Văn Lê đã đoạt 4 giải kịch bản phim tài liệu xuất sắc nhất, 1 giải Bông sen vàng, 5 giải Bông sen bạc và một số giải thưởng quốc tế…

Đầu tiên phải kể đến phim Sài Gòn xuân 68 nói về sự hy sinh của chiến sĩ, đồng bào thành phố trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Đây là bộ phim tài liệu ưng ý nhất của Văn Lê, đã được trao giải thưởng Galaxy của Nhật Bản. Tiếp đến là Nữ thanh niên xung phong, bộ phim thật xúc động về những bông hoa thầm lặng trên tuyến lửa ở cả hai miền Nam Bắc, đã đoạt giải Bông sen bạc và giải kịch bản xuất sắc nhất năm 1995. Và có một bộ phim tài liệu cho tới nay chưa được công chiếu rộng rãi nhưng trong giới vẫn ghi nhận dấu ấn của Văn Lê, đó là Cuộc đổi mới sinh tử nói về cuộc đổi mới kinh tế TP.HCM giai đoạn 1976-1983. Văn Lê tâm sự: “Trong phim có mặt của nhiều nhân chứng sống bấy giờ, đặc biệt là phát biểu của những nhà lãnh đạo thành phố như Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Võ Trần Chí,… Bộ phim từng làm một số người có trách nhiệm giật mình, tự cảnh tỉnh. Với tôi, dù bộ phim có gây cho mình phiền toái, nhưng đây là bộ phim tôi rất tâm huyết, khi phản ánh được những gì thật nhất trước lúc đất nước có công cuộc đổi mới”.

Trong khi trước đó, trên lĩnh vực văn xuôi, chủ yếu là tiểu thuyết, Văn Lê cũng đạt nhiều thành công qua những tác phẩm tiêu biểu như: tiểu thuyết Nếu anh còn sống (giải thưởng Bộ Quốc phòng, được dịch sang tiếng Hàn), Những cánh đồng dưới lửa (giải thưởng Bộ Quốc phòng) và đặc biệt là Mùa hè giá buốt ám ảnh về sự tàn khốc của chiến tranh, về thân phận con người, mà nếu không phải ở giai đoạn hiện nay thì tiểu thuyết này khó ra đời và còn được trao giải B (không có giải A) 5 năm một lần của Bộ Quốc phòng.

Giành nhiều vinh quang và được công chúng biết nhiều đến tên tuổi trên lĩnh vực phim ảnh và văn xuôi, nhưng với bản thân Văn Lê, thơ vẫn là ưu tiên số 1 của anh. Văn Lê chính thức xuất hiện trên thi đàn bằng giải A cuộc thi thơ báo Văn Nghệ năm 1975-76, sau đó là nhiều giải thưởng khác. Hãy nghe anh tâm sự:

- Nếu chỉ được chọn 1 trong 3 - thơ, văn xuôi và điện ảnh thì tôi chọn thơ. Cho dù làm thơ rất khó, càng ngày càng khó, càng lớn tuổi càng khó. Chỉ khi thật sự xúc động tôi mới có thể làm thơ.

 

* Cái khó nhất của người làm thơ là gì, thưa nhà thơ?

- Khó nhất của người làm thơ là sự chai lì cảm xúc, đánh mất cảm xúc. Dù là thơ chính luận thì cũng cần phải có cảm xúc. Tất cả mọi sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là thơ, nếu đánh mất cảm xúc thì đều thất bại.

 

* Còn điều quan trọng nhất mà thơ cần hướng tới?

- Sự giản dị. Điều này rất khó. Có những câu chữ rất bình thường mà đọc cứ rưng rưng. Có những câu chữ xủng xoảng nhưng vô cảm. Thường khi bế tắc về cảm xúc, bế tắc về khả năng nhận biết thì nhà thơ phải thay đổi cấu tứ cho thơ hợp với thời đại. Nhưng theo tôi thơ quan trọng nhất vẫn là sự giản dị và sâu sắc. Như các cụ nói thơ phải có dị biệt: nghe bằng tai, nghe bằng tâm, nghe bằng thần. Ta chỉ mong nghe được bằng tâm thôi chứ chưa nói bằng thần.

 

* Theo anh, giới làm thơ có đẳng cấp, có chiếu trên chiếu dưới?

- Thơ chỉ có hay và không hay. Một tác giả có nhiều bài thơ hay thì được đặt ở vị trí cao, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương là vô địch.

 

* Còn đối với thế hệ thơ chống Mỹ cùng thời, anh trân trọng tài năng những nhà thơ nào?

- Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Mạnh Hảo,…

 

* Sống, chiến đấu và phản ánh được hơi thở nóng hổi của cuộc chiến cùng một số ưu điểm khác của thế hệ thơ này đã được nói tới nhiều. Vậy còn khiếm khuyết của anh và bạn thơ cùng thời?

- Ít nói về nỗi đau. Ít nhắc tới mặt trái của chiến tranh. Điều đó làm giảm đi tính chân thực của thơ chống Mỹ. Nó chỉ được bù đắp lại sau chiến tranh. Tuy nhiên, phải công bằng mà nói, các nhà thơ cũng có viết về cái bi trong chiến tranh nhưng không muốn đăng tải ngay thời điểm cả dân tộc đang ra trận, hoặc có gửi thì các báo cũng không thể đăng. Họ chỉ viết và đọc cho nhau nghe.

 

… Vâng, thời nào cũng thế, nhất là thời đất nước lâm cảnh chiến tranh, người nghệ sĩ cũng cùng chung số phận của cả dân tộc. Tuy nhiên, khác với người bình thường, người nghệ sĩ còn có nhiệm vụ gìn giữ, ghi lại lịch sử bằng tiếng lòng chân thực của mình. Tố Như hay nàng Cầm ngày xưa cũng thế, mà Văn Lê hay các nhà thơ cùng thế hệ trên tuyến lửa với anh sau này cũng thế. Hoàn cảnh mỗi thời mỗi khác, tài năng mỗi người mỗi khác, song giá trị văn hoá đích thực thì đều vĩnh hằng.

Nguồn: Đương Thời

 

Tin liên quan:

>> Những người làm chủ biển Đông - thơ Văn Lê

>> Văn Lê hứng khởi với... nàng Cầm

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.