Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Quang Chuyền không nỡ trách hoa

22.01.2012-16:27

@ Thư viện Quang Chuyền

 

NHÀ THƠ QUANG CHUYỀN

Ngắm hoa muốn trách mà không nỡ

 

PHAN HOÀNG

 

NVTPHCM- Gương mặt phúc hậu. Trầm tĩnh. Hay cười. Ít nói. Khi đã nói thì mở lòng, mang lại cảm giác tin yêu cho người đối diện. Ẩn sau đời người đời thơ đời lính tưởng chừng “xuôi” như dòng “lục bát không mùa” sở trường của ông, chất chứa nhiều nỗi niềm trắc ẩn không dễ chia sẻ cùng ai…

 

Nhà thơ Quang Chuyền trưởng thành từ người lính thông tin mang quân hàm trung tá. Được quen biết ông kể từ trại sáng tác văn học Phú Yên mùa thu 2010, tôi trở thành bạn nhỏ của ông những lúc “trà dư tửu hậu” cùng với một vài nhà thơ đàn anh quân đội khác như Văn Lê, Nguyễn Thái Sơn,...

“Cầm năm, cầm tháng rót ra

Trong ly long lánh toàn là hư không…”

Hai câu lục bát của nhà thơ Quang Chuyền “vận” vào không ít người, nhất là mỗi cuối năm ngồi “tổng kết” lại 365 ngày qua hoặc xa hơn nữa. Và bây giờ, một chiều giáp Tết Nhâm Thìn 2012, tôi lại được dịp “mở khoá” và nghe “tổng kết” nhiều nỗi niềm thầm kín của nhà thơ gần tuổi “thất thập” gốc Vĩnh Phúc đang sống ở Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

 

TẾT ĐÃ QUA RỒI MAI MỚI NỞ

 

* Một năm nữa lại sắp trôi qua. Vào thời điểm cuối năm, anh thường có tâm trạng ra sao, thưa nhà thơ Quang Chuyền?

- Con người ta, tuổi càng cao, hình như càng hay quay về nhớ nhung, hoài niệm. Nhất là trong những dịp tết đến xuân về. Vào những ngày này, trong khi con cháu háo hức, vui mừng chuẩn bị sắm sửa cho xuân tết, với không khí tưng bừng, chan hoà nắng ấm trời Nam… tôi thường hay chạnh lòng ngược nỗi nhớ ra phương Bắc. Tôi nhớ cơn gió lạnh, nhớ hạt mưa phùn, nhớ cảnh xuân tết nơi làng quê, nhớ mồ mả ông cha, nhớ mùi khói nhang trầm nơi đình chùa miếu mạo… Tôi tiếc mình không thường xuyên có dịp trở về thăm viếng nơi chôn giấu và gìn giữ ký ức tuổi thơ tôi.

* Nghe anh tâm sự mà nao lòng quá. Anh thường cùng gia đình đón tết Nguyên đán thế nào?

- Năm nay là lần thứ 25, tôi vui tết ở Sài Gòn. Tôi vốn là người trầm tính, ít nói. Tính tình, hình dáng con người tôi có phần cũ kỹ. Tôi giữ cung cách nếp sống sinh hoạt nhiều nét “cổ xưa”. Cảnh tết ở gia đình tôi, từ trang trí nhà cửa, đến mua sắm ăn uống mang dấu ấn y xì nền nếp Bắc, kiểu Bắc.

Trong mấy ngày tết, phòng khách nhà tôi thường có cây hoặc cành đào. Tôi mua về trước đó ở Công viên Hoàng Văn Thụ. Có nhiều loại đào từ Nhật Tân Hà Nội hay Hải Dương, Đà Lạt chuyển về. Hoa đào không mau rụng như hoa mai. Nhiều năm, cây cành đào nhà tôi liên tục nở hoa từ 25-27 tết đến gần rằm tháng giêng. Giữa ngày tết, tôi cùng con cháu vui vầy, chúc tụng, thăm hỏi, mừng tuổi, mừng xuân. Mâm cơm ngày tết của gia đình không thể thiếu bánh chưng gói kiểu Hà Nội, dưa hành làm kiểu Hà Nội… So với tết xưa, nếu có thiếu thì đó là cây nêu trước cửa, tràng pháo và đôi câu đối đỏ…

*Anh có thường khai bút đầu xuân không? Và có bài thơ viết về mùa xuân ngày tết nào của mình mà anh ưng ý…

- Nếp khai bút đầu xuân, tôi có duy trì nhưng không được thường xuyên, năm có năm không. Một vài năm trước, trên bồn hoa ban công nhà tôi, tôi có trồng một cây mai. Cây mai lá cành tươi tốt quanh năm. Chỉ hiềm một nỗi không hiểu do phân tro, tưới tắm hay kỹ thật chăm sóc, hay số phận cây mai tương hợp với số phận người trồng… mà không năm nào cây nở hoa đúng vào những ngày xuân tết.

Chuyện cây mai nở không đúng vụ đã gợi ý cho tôi có được một tứ thơ. Khai bút Tết Giáp Thân 2004, tôi viết bài thơ Mai nở muộn thể tứ tuỵêt:

Tết đã qua rồi mai mới nở

Muộn màng khoe sắc trước ban công

Ngắm hoa muốn trách mà không nỡ

Tự trách tay ta chẳng khéo trồng …

 

BÓNG MẸ HIỀN ĐANG DÕI MẮT TRÔNG THEO

 

Nhà thơ - nhà báo Quang Chuyền còn có bút danh Việt Nguyên, Quang Thanh, tên khai sinh là Trần Quang Chuyền, sinh ngày 02 tháng 08 năm 1945, quê quán Làng Gốm, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuổi thơ ông trôi qua trong cảnh mồ côi, nghèo khó, phải tự lập mưu sinh. Vượt qua trở ngại, ông cố gắng phấn đấu học tập, tốt nghiệp trung cấp sư phạm, rồi ngành văn Trường đại học Tổng hợp Hà Nội.

Quang Chuyền bắt đầu làm báo viết văn từ những năm 1965- 1966 ở tạp chí Văn Nghệ Việt Bắc. Năm 1968, ông nhập ngũ vào Binh chủng Thông tin liên lạc, trước khi về hưu ông từng là Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 596, Phó tổng biên tập báo Thông Tin thuộc Bộ Tư lệnh Thông tin.

Không kể hai tập thơ in chung, đến nay nhà thơ Quang Chuyền đã xuất bản chín tập thơ riêng: Khoảng cuối mùa thu (1999), Hạt giống chim gieo (2000), Lặng thầm (2002), Mắt đêm (2003), Khát (2005), Trở lại cánh rừng (2006), Sông gọi (2008), Chiều đi qua cửa (2009) và mới nhất là Lục bát không mùa năm 2011.

“Đời người thấp thoáng chút thôi

Sáng vừa loé nắng, chiều rơi trắng đầu

Đem buồn giấu xuống sông sâu

Đem vui con bắc cây cầu vào mây

 

Bây giờ con mới tới đây

Nổi trôi bao tháng, bao ngày con xa

Bây giờ đứng trước mộ cha

Người ơi! Người có nhận ra con mình…”

Xa quê từ tóc xanh, Quang Chuyền trở về khi tóc đã bạc, đứng trước mộ cha thảng thốt. Hồi tưởng thời thơ ấu của mình, nhà thơ xúc động thổ lộ thêm:

- Cha tôi là một nhà nho nghèo mất năm mới 36 tuổi. Năm ấy mẹ tôi 32 tuổi, một nách 5 con thơ dại. Gia đình vừa làm ruộng vừa làm hàng xay, hàng xáo. Kinh tế gia đình lúc này vô cùng gieo neo. Chị gái tôi chưa đến tuổi lao động đã trốn nhà đi làm công nhân ngành đường sắt. Năm tôi học dở lớp 6, các em tôi đến tuổi đi học, tôi buộc phải nghỉ học để giúp mẹ nuôi các em. Phải bỏ học ngang chừng, tôi buồn lắm. Cùng lúc này tôi nghe nói tỉnh Tuyên Quang, nơi có nhiều người làng tôi trôi dạt lên đó làm ăn kiếm sống. Tôi xin mẹ cho tôi lên Tuyên Quang tự túc ăn học. Lúc đầu vì thương con mẹ tôi không đồng ý. Tôi nằn nì xin mãi, rồi mẹ cũng đồng ý cho đi. Năm ấy tôi sắp bước vào tuổi 15. Tôi xa gia đình, tự thân lập thân từ độ ấy.

* Chắc hình ảnh ngày xa nhà trong buồn tủi ấy mãi ám ảnh anh?

- Không thể nào quên được. Ngày ra đi trời mưa. Mẹ và các em tôi đứng trước ngõ nhìn theo, ai cũng khóc. Xúc cảm trong ngày ra đi xa gia đình, tôi sáng tác được bài thơ nhỏ. Tuy còn vụng về non ớt về câu chữ nhưng là bài thơ đầu tiên trong đời tôi, đến nay tôi còn nhớ:

Tôi ngoái lại nhìn căn nhà yêu dấu

Bóng mẹ hiền đang dõi mắt trông theo

Em chỉ tay nhìn anh qua hàng dậu

Đã khuất rồi dòng nước mắt tuôn reo

 

Tôi nén lòng trên đường đi bước tiếp

Nỗi nghẹn ngào ứ đọng trong tôi

Dưới mưa rơi con chim non chiêm chiếp

Tập bay chuyền… xa tổ… cũng như tôi…

* Vâng, câu chữ còn vụng về nhưng thật cảm động. Đây cũng có thể xem là bài thơ đầu tiên của anh?

- Tôi có may mắn là năm học lớp 4, được học một thầy giáo trường làng yêu văn thơ và sáng tác thơ. Có lần thầy ra đề văn cho lớp là làm một bài ca dao miêu tả cảnh làng quê. Bài của tôi được thầy chấm và hạ bút cho điểm 9. Là điểm số chưa khi nào các bài làm văn đạt được. Thầy đọc bài thơ của tôi cho cả lớp nghe và khen hay. Kết thúc năm học, trong học bạ thầy nhận xét tôi “có triển vọng về văn” và ghi kèm bên dưới hai câu thơ của thầy “Văn hay chữ tốt mới cừ, văn hay chữ xấu thì hư mất đời”. Chả là chữ tôi xấu do không được theo học và rèn chữ từ các lớp mẫu giáo, vỡ lòng. Đề văn của thầy và bài thơ năm ấy đã như một sự nhen nhóm, gieo mầm cho tình yêu thơ ca mà cả đời tôi sau này đeo đuổi.

Tiếc là tôi không nhớ và đã để bài thơ đầu tiên này thất lạc.

Nhà thơ Quang Chuyền (đứng giữa) cùng đoàn nhà văn TP.HCM tham gia

trại sáng tác ở Phú Yên 9.2010; ảnh chụp trước đền thờ chí sĩ Lê Thành Phương

 

TÌNH - TỨ - TỪ

 

Tuổi thơ luôn là một phần rất quan trọng cho hành trang mỗi đời người, đặc biệt là cho những người sáng tạo thi ca. Đọc nhiều bài thơ day dứt về cố hương của nhà thơ Quang Chuyền càng hiểu rõ hơn điều ấy. Trong bài Hương quê ở phố, anh phát hiện và bày tỏ:

“Ta nhờ sữa mẹ cưu mang

Lớn lên từ hạt lúa vàng… Người ơi…

 

Đất nuôi ta để nên người

Nồng cay trái ớt, ngọt bùi quả na…

 

Bây giờ ta được là ta

Chất chồng năm tháng đi qua bão bùng

 

Bây giờ ta ở phố đông

Bữa ăn vẫn có hương đồng quẩn quanh

 

Dẫu đời ngọt mía chua chanh

Lòng ta đâu dám vô tình với quê”

Và hồi tưởng về Người quê, anh viết:

“Đường làng trơn ướt mồ hôi

Vụ năm tiếp đến vụ mười chẳng khô

Sẻ san miếng đói, miếng no

Ngọt bùi ki cóp đem cho láng giềng

Như cây, như cỏ hồn nhiên

Người quê giằng díu với miền đất quê

Người đi, người ở, người về

Bao nhiêu thắm thiết, bộn bề, ngoài, trong…

 

Nhìn trời thấy hiện dòng sông

Ngắm sao gặp dáng Thần Nông của làng…”

Từ bệ phóng chân quê, Quang Chuyền bước vào đời vào thơ, để rồi anh luôn ngoái lại quay về nuôi mình nên người để “tiếp sức” mà đi tiếp. Nhớ về thuở mới chính thức bước vào làng thơ, nhà thơ cho biết:

- Sau khi từ Văn Nghệ Việt Bắc đầu quân vào binh chủng thông tin quân đội, tôi may mắn được bố trí vào bộ phận mà những người ở bộ phận ấy bây giờ đều trở thành các nhà thơ, nhà văn của quốc gia. Ấy là Nguyễn Duy Nhuệ (Nguyễn Duy), Phạm Đức, Nguyễn Thuỵ Kha, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Trọng Tân,… Công việc của chúng tôi lúc bấy giờ là sáng tác văn thơ, làm báo, viết báo, tuyên truyền động viên quân đội. Tuổi đời chúng tôi xấp xỉ hơn kém nhau vài tuổi. Chúng tôi hầu hết là hạ sĩ quan, chiến sĩ.

Cùng đồng nghiệp, cùng chí hướng, chúng tôi học hỏi ở nhau, trao đổi chuyện công, chuyện tư cùng nhau. Nhóm ba người chúng tôi gồm Nguyễn Duy, Phạm Đức, Quang Chuyền những lúc gần gũi trao đổi, mạn đàm thường hay nói về thơ. Chúng tôi thống nhất với nhau nguyên tắc cơ bản cấu thành bài thơ bao gồm ba yếu tố, có thể tóm tắt thành 3 chữ T. Đó là Tình-Tứ-Từ. Tình chính là sự dâng trào của cảm xúc. Tứ là ý tưởng của bài thơ. Từ là ngôn ngữ chuyển tải ý tưởng. Bài thơ hay là bài thơ tìm được tứ lạ, ngôn ngữ chắt lọc, tìm tòi và mạch cảm xúc thăng hoa, dâng trào.

Thơ Phạm Đức thủa ấy chặt chẽ, hàm xúc, có chiều sâu, nhưng sự mượt mà xúc cảm không được như sau này. Thơ Quang Chuyền dạt dào tuôn chảy nhưng cấu tứ chưa chặt, câu thơ lễnh loãng, ngôn từ chưa chắt lọc… Riêng thơ Nguyễn Duy khi ấy đã đạt đến độ chín trong cả ba chữ T. Thơ anh có nhiều tứ mới, sử dụng ngôn ngữ tài hoa, câu thơ giản dị dễ nhớ, dễ thuộc.

Năm 1971, ba chúng tôi được cử đi thực tế chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Sau khi trở về, Nguyễn Duy tung lên mặt báo chùm thơ dự thi gồm các bài Cây tre, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông,… trên báo Văn Nghệ. Anh đã đạt giải nhất đồng hạng cùng Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị Mỹ Dạ,… Chùm thơ chủ yếu là lục bát ấy đã làm nên tên tuổi Nguyễn Duy.

Tôi kể kỷ niệm vui này để thấy rằng cái công thức bài thơ gồm 3 chữ T, tuy đơn giản nhưng cũng có những điều để suy ngẫm, tham khảo. Đây chưa phải lý luận, mà chỉ là lượm lặt kinh nghiệm thức tế khi sáng tác.

* Điều ấy lý giải vì sao anh hay làm thơ lục bát và xuất bản cả một tập thơ Lục bát không mùa với nhiều bài khá ấn tượng vào năm 2011…

- Thơ lục bát dễ làm, khó hay. Điều này ai cũng rõ. Tôi mê thơ lục bát. Những năm gần đây, tôi hay “thử sức “ở thể loại này.

“Giản dị là điều kiện thiết yếu của cái đẹp”, một nhà văn nước ngoài đã nói đại ý như thế. Thơ hay thường là thơ giản dị. Với thơ lục bát càng giản dị bao nhiêu, thơ càng hay bấy nhiêu. Chẳng hạn hai câu lục bát của nhà thơ Nguyễn Duy trong bài Thơ tặng người xa xứ mà tôi thích:

“Quê nhà ở phía ngôi sao

Qua sông mượn khúc ca dao làm cầu”

* Làm thơ từ rất sớm, nhưng thưa anh, có một thời gian khoảng mười năm anh không xuất hiện trên thi đàn, lý do vì đâu?

- Cuộc đời mỗi người ai cũng có lúc tiến lúc lùi trong sự nghiệp hoặc trong đường đời. Tôi cũng có giai đoạn nghiệp đời nghiệp thơ chìm lắng trong khoảng 10 năm (1987-1997). Lý do thì nhiều. Nguyên do đầu tiên là tôi được đơn vị điều chuyển công tác từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh. Công việc được giao không phù hợp sở trường, lại trong môi trường mới mẻ, xa lạ, thân cô thế cô… Sự “thất sủng” bất ngờ, gây nên sự hẫng hụt, choáng váng về mặt tư tưởng. Cùng lúc này kinh tế gia đình tôi gieo neo, chật vật. Ba đứa con tôi còn nhỏ. Vợ tôi luôn ốm đau do vết thương cũ tái phát.

* Người bạn đời anh cũng từng tham gia quân đội?

- Vợ tôi dạy học, sau này mới tham gia công tác trong quân độii. Vết thương nói trên có từ lúc chúng tôi chưa cưới nhau. Vợ tôi vốn là giáo viên học cùng trường sau tôi hai năm. Trong một buổi xây dựng nhà trường cùng học sinh, do bất cẩn, một cây cột gỗ đổ vào đầu chấn thương sọ não. Vết thương nặng tưởng không qua nổi. Từ ấy mang thương tật 4/1. Thay đổi thời tiết đầu lại đau, thường xuyên phải đi viện.

* Trong hoàn cảnh éo le ấy “nàng thơ” cũng “bỏ” anh?

- Tôi chính thức “về vườn” trong lặng im năm 45 tuổi. Mang đơn đi xin việc không nơi nào nhận, do bậc lương trung tá tương đối cao, không có “ghế ngồi” hợp lý. Hàng ngày tôi phụ giúp gia đình khi thì bán báo, khi thì tạp hoá, lúc thì nuôi heo, gà, vịt hoặc tham gia công tác phường, phố… Nghĩa là làm những công việc “không thơ” chút nào. Đã vậy, bạn bè không hiểu, tưởng tôi bỏ thơ đi làm giàu. Giàu sang đâu đến số tôi? Biết nói sao để bạn hiểu.

Tôi vẫn sáng tác nhưng không gửi đăng báo. “Nàng” thơ chê tôi, xa lánh tôi. Bao nhiêu bản thảo viết rồi lại xé, đốt bởi những câu thơ, bài thơ nhợt nhạt, vô hồn…

Đây có lẽ là giai đoạn “hâụ lên voi” đang tụt xuống thành… buồn chán, vô duyên nhất của đời tôi.

* Cuối năm, hy vọng sự tỏ bày ấy sẽ làm anh nhẹ lòng. Năm mới, chúc anh bay bổng hạnh phúc hơn nữa với "nàng thơ" của mình!

 

>> Xem chân dung & phỏng vấn nhân vật khác

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.