Tin mới Xem thêm

  • Ngô Liêm Khoan kẻ quên mình cho thơ

    Nghiền ngẫm “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương” (Nhà xuất bản Trẻ quý 1 năm 2014) của Ngô Liêm Khoan theo cách đọc kỹ, đọc chậm

  • Phạm Hữu Hoàng & Tuyệt lộ

    Ngày ấy, ở làng Nam Hạ, Khả Từ là người tính tình hào phóng, thích giao du, kết bạn, lấy lòng thành để đãi người. Khách văn nhân tìm đến đàm đạo

  • Bác sĩ và y đức

    Khi quyết định rời nhà nước, tôi có rất nhiều suy nghĩ, trăn trở, không lường hết được những khó khăn

  • Trương Nam Chi cho thơ gieo vần

    Bớ/ Hồn con chữ/ Bơ vơ/ Về đây/ Xích lại/ Cho thơ gieo vần/ Đời đang ủ/ Ché rượu cần

  • Khai mạc lớp bồi dưỡng lý luận phê bình VHNT

    Vào 8h30 sáng ngày 01.10.2014, tại Khu Du lịch Madagui thuộc tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật - Ban Tuyên giáo Thành uỷ TP.HCM đã khai mạc Lớp tập huấn, bồi dưỡng công tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật thành phố năm 2014

  • Ô nhiễm từ con người

    Nói tới nạn ô nhiễm môi trường thì thật thiên hình vạn trạng, nhưng dù “phong phú” tới mức nào, thì đầu mối của mọi ô nhiễm đều xuất phát từ con người. Không chỉ là từ con người trực tiếp gây ra ô

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Thanh Thảo & những chặng đường thơ

08.10.2011-23:43

 

NHÀ THƠ THANH THẢO

& những chặng đường thơ

 

NGUYỄN VĂN DŨNG

 

NVTPHCM- “Những bài thơ của ông thường tạo ra rất nhiều “không gian rỗng” để người đọc bị cuốn vào câu chữ mà tham gia đồng sáng tạo với nhà thơ. Thơ Thanh Thảo thường mở ra nhiều trường liên tưởng khác nhau, tạo ra độ mờ nhoè về nghĩa. Và người đọc cũng rất “tự do” trong việc tiếp nhận bài thơ”.

 

Cũng như một số cây bút cùng thời với mình như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy,... vào chiến trường, Thanh Thảo vừa tham gia chiến đấu vừa sáng tác văn học. Và ông cũng sớm khẳng định được vị trí của mình trên thi đàn thơ ca chống Mỹ. Từ bài thơ đầu tay ra đời trong không khí rát bỏng của chiến trường, tới nay, thơ Thanh Thảo đã đi trọn chặng đường hơn ba mươi năm. Hơn ba mươi năm ấy, Thanh Thảo đã trải qua không ít thăng trầm. Nhưng nhà thơ vẫn luôn luôn chung thuỷ với cái nghiệp mà mình đã chọn. Điều đáng trân trọng ở Thanh Thảo là ông đã đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều nét mới mẻ trên con đường hội nhập. Không ngừng lao động sáng tạo, không ngừng tìm tòi đổi mới thơ ca, thơ Thanh Thảo đã thực sự chinh phục được bạn đọc nhiều thế hệ.

 

1. Thơ Thanh Thảo trước 1975

 

Vào chiến trường năm 1971, năm 1972 Thanh Thảo viết Thử nói về hạnh phúc. Bài thơ đến được tay Chế Lan Viên (người đang phụ trách trang thơ tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn) nhưng vì bài thơ có phần đau thương quá nên nhà thơ Chế Lan Viên chưa cho in. Sau này, khi được hỏi về bài thơ đầu lòng “duyên may phận rủi ấy” ấy, Thanh Thảo tâm sự: “Nó gây ngạc nhiên thì đúng hơn, vì nó viết rất thật về chiến tranh, về những hi sinh mất mát, về cả quan điểm của một người lính trẻ không chịu chết cho một tín điều mù quáng nào, mà chỉ chết cho đất nước của mình”.Sau đó không lâu, Thanh Thảo viết và gửi đến toà soạn một chùm 13 bài thơ. Mười ba bài thơ của một người lính trẻ đã thực sự chinh phục nhà biên tập cẩn trọng Chế Lan Viên. Và Chế Lan Viên đã làm một công việc xưa nay chưa từng làm: cho in một loạt 13 bài thơ của người lính trẻ từ chiến trường miền Nam gửi ra và “Thi đàn chống Mỹ từ đấy có Thanh Thảo”. Chính những “quả đầu mùa” ấy đã làm nên gương mặt thơ Thanh Thảo trước năm 1975 như Thiếu Mai đã khẳng định: “Thơ Thanh Thảo có dáng riêng”. Và cũng từ thời điểm ấy, Thanh Thảo đã đem đến cho độc giả “một thực đơn tinh thần mới mẻ và độc đáo”, làm phong phú thêm cho tiếng nói chung của thi đàn thời chống Mỹ.

Sự mới mẻ, độc đáo của thơ Thanh Thảo trước 1975 không phải ở đề tài hay cảm hứng. Nhìn chung, các sáng tác của ông giai đoạn này vẫn hướng về vùng hiện thực mà văn học cả thời đại quan tâm: hiện thực chiến tranh cùng với những vấn đề nhân sinh được đặt ra trong đó. Tuy nhiên, điều mà Thanh Thảo không nhoà lẫn với bất cứ một nhà thơ nào là cách phản ánh hiện thực với một cái nhìn, một giọng điệu rất riêng. Là một người nghĩa khí, trung thực, yêu thiết tha quê hương đất nước và quý trọng vô ngần mạng sống của nhân dân, của đồng đội mình, Thanh Thảo đã chọn cho mình một giọng thơ trữ tình đằm thắm, giàu “chất thực”“chất nghĩ” (Chu Văn Sơn). Thơ Thanh Thảo giàu chất suy tư, chất triết lí và rất trí tuệ. Nói như Thiếu Mai: “Thơ Thanh Thảo có dáng riêng. Đọc anh, dù chỉ mới một lần, thấy ngay dáng ấy… Thơ Thanh Thảo có khả năng gợi dậy những suy nghĩ của người đọc bởi vì thơ ấy là thơ của một tâm hồn giàu suy tưởng, giàu trí tuệ”. Nhiều vần thơ của Thanh Thảo thấm thía chất suy tư trăn trở: “Ai đã viết Trường Sơn hùng tráng/ tôi muốn viết Trường Sơn im lặng” (Một trăm mảnh gỗ vuông). Bởi thế, thay vì phản ánh hiện thực chiến tranh một cách sôi động và hoành tráng như một số cây bút khác, Thanh Thảo đã viết những vần thơ về chiến tranh và bày tỏ những suy tư của bản thân về số phận của nhân dân, Tổ quốc, thế hệ những người lính với mình trong cuộc chiến khốc liệt ấy. Trong Thử nói về hạnh phúc, Thanh Thảo đã bộc bạch rất thật những trăn trở của mình và của cả thế hệ:

chúng tôi không muốn chết vì hư danh

không thể chết vì tiền bạc

chúng tôi xa lạ với những tin tưởng điên cuồng

những liều thân vô ích

đất nước đẹp mênh mang

đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt

chỉ riêng cho Người chúng tôi dám chết !

đêm nay ai cầm tay nhau vào tiệc cưới

ai thức trắng lội sình

ai trầm ngâm viết những câu thơ thông minh

ai trả nghĩa đời mình bằng máu

Đây không phải là bài thơ đầu tay của Thanh Thảo nhưng có thể coi đó là bài thơ đầu lòng nhiều “duyên may phận rủi” của nhà thơ-lính Thanh Thảo. Tuy nhiên, đọc bài thơ còn rất “trẻ” ấy của Thanh Thảo, ta có thể nhận thấy Thanh Thảo không bồng bột, nông nổi. Trái lại, bài thơ lại thấm đẫm tinh thần mới của thời đại cùng với những suy nghĩ chân thành của ý thức cái tôi cá thể nhà thơ. Người chiến sĩ ý thức rất rõ về giá trị cuộc sống và sinh mệnh của bản thân nhưng vẫn sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng:

chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

(nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)

nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc

                     (Những người đi tới biển)

Đó là lời tuyên ngôn cho sự lựa chọn của cả thế hệ mình. Một sự chấp nhận rất dứt khoát nhưng không hề đơn giản, một sự hi sinh lặng lẽ mà cao đẹp. Anh và những người lính với anh “không chết vì hư danh”, “không chết vì tiền bạc”, “xa lạ với những tin tưởng điên cuồng”, “những liều thân vô ích”. Sự lựa chọn của các anh là sự lựa chọn cho Tổ quốc: “đất nước đẹp mênh mang/ đất nước thấm sâu đến tận cùng máu thịt/… chỉ riêng cho Người chúng tôi dám chết!” (Thử nói về hạnh phúc). Và một khi đã lựa chọn như vậy, những băn khoăn chung – riêng sẽ không còn nữa, những gian khổ hi sinh cũng trở nên bình thường trong suy nghĩ các anh. Và trong cái khốc liệt của chiến tranh, người lính đã tìm được những giây phút riêng cho mình:

tôi gặp thằng bạn thân trong một chuyến bất ngờ

đêm Mỹ Long hai đứa nằm lộ đất

trải dưới trời một tấm ni lông

nơi khi chiều B52 bừa ba đợt

nơi mấy năm rồi hố bom không đếm hết

nơi tôi chợt thốt niềm mơ giản dị của mình

… chừng nào thật hoà bình

ra lộ Bốn trải ni lông nằm một đêm cho thoả thích

thằng bạn tôi đăm đăm

nhìn một ngôi sao mọc trong hố bom nhoè nước

đôi mắt nó lạ lùng mà tôi thấy được

chứa đầy một hố bom và một ngôi sao…

           (Một người lính nói về thế hệ mình)

Rõ ràng Thanh Thảo đã nói về những gian khổ, những hi sinh trong chiến tranh một cách giản dị. Một “niềm mơ giản dị” của người lính nhưng lại nói lên được một khát vọng tự do đến cháy bỏng của cả dân tộc. Đọc những dòng thơ trên, nhà thơ Boey Kim Cheng từng viết: “Đây là giây phút cảm động, là phút giải khuây đầy nhân bản trong sự kinh hoàng của chiến tranh, khi bản thân vượt ra ngoài giới hạn của sự chịu đựng để chia sẻ nỗi đau và hi vọng với người khác. Ở mức độ cùng cực nhất, cái tôi không thu mình trong những mất mát của chính nó mà hướng tới những người khác, và đó là giọng điệu mong manh nhưng quả quyết trong thơ chiến tranh của Thanh Thảo”.

Viết về chiến tranh, Thanh Thảo cũng không thể lảng tránh cái chết. Tuy nhiên, cách nhìn về sự ra đi của đồng đội ở Thanh Thảo có phần khác với những nhà thơ khác:

với người chết bình thường

thời gian không quý nữa

nhưng tôi biết các anh

đã cháy ruột cháy gan

khi phải giữa đường nằm lại

Anh đọc được trong sự hi sinh của đồng đội mình sự ra đi không thanh thản. Bởi cuộc đời họ là cuộc đời chưa bao giờ yên nghỉ: “Nếu một ngày ta dựng những hàng bia/ xin hãy đề “nơi đây những cuộc đời chưa bao giờ yên nghỉ”” (Những người đi tới biển). Trong thâm tâm nhà thơ – lính Thanh Thảo, đồng đội vẫn dõi theo bước hành quân của các anh: “soi lối cho chúng tôi/ bằng ánh tân linh trong đêm tối”. Và với Thanh Thảo, cuộc hành quân của những người lính hôm nay như được tiếp thêm sức mạnh từ những người đi trước và là niềm tin cho mai sau. Nhìn những dấu chân qua trảng cỏ mà nhà thơ hình dung được sức mạnh đó trên từng gương mặt người:

ai đi gần ai đi xa

những gì gửi lại chỉ là dấu chân

vùi trong trảng cỏ thời gian

vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta

vẫn đằm hơi ấm thiết tha

cho người sau biết đường ra chiến trường…

                       (Dấu chân qua trảng cỏ)

Cách nhìn hiện thực chiến tranh như thế đã làm nên nét độc đáo trong thơ Thanh Thảo, nói như nhà thơ Paul Hoover: “Thanh Thảo đã xử lí một cách tuyệt đẹp sự màu nhiệm của cái hiện hữu và cái phi hiện hữu, của quá khứ và hiện tại… Ông viết với nỗi khát khao cực kì mãnh liệt về sự chứng nghiệm tuổi thơ ông, về cuộc chiến chống Mỹ và về những gì ngỡ đã khuất đi trong dĩ vãng” (lời tựa Thanh Thảo 1 2 3, nhà thơ Nguyễn Đỗ dịch).

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, trước 1975, những đóng góp của Thanh Thảo cho toàn bộ sự nghiệp văn học của dân tộc là chưa nhiều. Ở giai đoạn sáng tác này, Thanh Thảo chưa có những tác phẩm đặc sắc cả trên phương diện nội dung và hình thức sáng tác. Những bài thơ của Thanh Thảo ở giai đoạn này chủ yếu thiên về bộc bạch giãi bày cùng với những suy tư, trăn trở của một người lính mới bước vào hiện thực khắc nghiệt của chiến trường. Nó chưa có sức khái quát cao cũng như chưa có nhiều khám phá trong tư duy thơ và chưa có những cách tân rõ rệt về hình thức. Cùng với suy nghĩ này, khi đọc tập thơ Thanh Thảo 1 2 3, Mai Bá Ấn ví các con số 1, 2, 3 được xếp theo trình tự bậc thang trên tiêu đề tập thơ như các bước vận động và đổi mới tư duy thơ Thanh Thảo. Theo tác giả bài viết “1 2 3 của Thanh Thảo và ba bậc tư duy trong quá trình hiện đại hoá thơ ca” thì bậc thang thứ nhất thể hiện nấc thang đầu tiên của một lối tư duy thơ. Ông viết: “Rõ ràng, cái giọng thơ táo bạo gai góc như là tuyên ngôn thơ chiến tranh của một thế hệ đã làm nên cái mới, cái lạ của “Một người lính nói về thế hệ mình” nhưng tư duy thơ thì vẫn nằm nguyên trong cách diễn ý theo cảm xúc trình tự…”. Nhận xét trên của tác giả Mai Bá Ấn đã chỉ ra được những chuyển biến trong tư duy thơ Thanh Thảo trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà thơ. Như vậy, thời kì sáng tác trước 1975 có thể xem là bước chuẩn bị quan trọng cho những giai đoạn sáng tác sau này của Thanh Thảo.

 

2. Thơ Thanh Thảo từ 1975 đến 1985

 

Có thể khẳng định giai đoạn từ 1975 đến 1985 là thời kì sáng tác sung sức nhất của Thanh Thảo. Sau chiến tranh, tác giả có được quãng lùi thời gian cần thiết để có một cái nhìn sâu hơn về những vấn đề mà ông đã nghiền ngẫm trong chiến tranh. Thanh Thảo đã tìm đến trường ca và thể loại này đem lại cho nhà thơ nhiều thành tựu. Và ông được xem là “ông vua trường ca” (Chu Văn Sơn). Trường ca đầu tiên gây tiếng vang lớn đó là Những người đi tới biển (1976). Tiếp sau đó là một loạt 7 trường ca khác: Trẻ con ở Sơn Mỹ (1976 – 1978), Những nghĩa sĩ Cần Giuộc (1978 – 1980), Bùng nổ của mùa xuân (1980 – 1981), Đêm trên cát (1982), Trò chuyện với nhân vật của mình (1983), Cỏ vẫn mọc (1983), Khối vuông ru - bích (1984). Tám trường ca trong khoảng mười năm quả là một thành tựu đáng nể đối với một nhà thơ. Tuy nhiên, chỉ có 6 trường ca được xuất bản trước 1985, còn lại hai trường ca Trò chuyện với nhân vật của mình Cỏ vẫn mọc vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà mãi đến năm 2002 mới được xuất bản. Trong khoảng thời gian này, Thanh Thảo còn sáng tác khá nhiều thơ ngắn nhưng chưa có tuyển tập riêng. Chỉ có tập Khối vuông ru – bích xuất bản năm 1985 cùng với trường ca cùng tên của nhà thơ. Sau này, Thanh Thảo cho xuất bản tập thơ Thanh Thảo 70, tuyển những bài thơ được tác giả viết trong những năm 70 của thế kỉ trước. Đây là kết quả của một đời lao động nghệ thuật đầy đam mê và nghiêm túc của một nhà thơ “giàu nghĩa khí”. Mỗi sáng tác của Thanh Thảo đều thể hiện một phong cách thống nhất, độc đáo của một cây bút ham cách tân, dám dấn thân trên con đường cách tân văn học. Thơ Thanh Thảo thực sự đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hoá thơ ca Việt Nam hiện đại.

Đóng góp mới mẻ của thơ Thanh Thảo trước hết được thể hiện qua phương diện nội dung. Thanh Thảo là nhà thơ của “nghĩa khí”, của “chất người” lấp lánh. Ông đam mê đi tìm kiếm “chất người” của những con người lấy “nghĩa khí” làm lẽ sống. Bởi vậy, không ngẫu nhiên mà Thanh Thảo viết nhiều và viết rất hay về nhân dân, về thế hệ mình, về mẹ, về những nhân vật đã làm nên lịch sử, văn hoá của dân tộc và nhân loại. Đó là nhân dân trong cuộc trường chinh gian khổ hy sinh cuộc đời mình trên từng tấc đất “địa hình” để làm nên Tổ quốc. Đó là những người lính cùng thế hệ nhường nhau một giọt nước mát cuối cùng để tiếp sức cho đồng đội trong cuộc chiến đấu ác liệt với kẻ thù: “buổi sáng ấy tôi bước vào tuổi 25/ ở đường dây 559 – trạm 73/ ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn sốt/ cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc/ bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng/ hớp nước cuối cùng giữa cơn sốt đầu tiên/ ngày sinh nhật tuổi 25 mình được uống” (Những người đi tới biển). Đó là những người mẹ với tấm lòng mênh mông như “sông Hồng trằn sóng đỏ” thầm lặng hi sinh cả cuộc đời để yên bước chân con. Đó là người anh hùng Trương Định ngoảnh mặt với triều đình bạc nhược để đứng về phía nhân dân để cùng họ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng bảo vệ mảnh đất cha ông để lại. Đó là “nhà thơ làm loạn” Cao Bá Quát, nhà thơ mù “dùng bút đâm gian” Nguyễn Đình Chiểu luôn đứng về phía nhân dân để đấu tranh cho “tự do”“sự thật”. Đó còn là Lor-ca của đất nước Tây Ban Nha, là Maiacốpxki, A.Puskin của nước Nga,… những nhà thơ giàu nghĩa nặng tình với quê hương, đất nước và cả cuộc đời cống hiến cho nghệ thuật. Những con người ấy, dù có tên hay không tên, là người của thời hiện tại hay quá khứ, là người Việt Nam hay một đất nước nào trên thế giới đều gặp nhau ở vẻ đẹp của “chất người nghĩa khí”, “chất người” “lấp lánh”.

Cùng với việc khám phá vẻ đẹp của “chất người” “lấp lánh”, thơ Thanh Thảo còn đặt ra nhiều vấn đề có tính phổ quát của cuộc sống: vấn đề được – mất, niềm vui – nỗi đau, cá nhân – cộng đồng, hạnh phúc, nhân tính, nghệ thuật,… Khi đề cập đến những vấn đề này, Thanh Thảo không chỉ dừng lại ở khám phá, phản ánh mà còn thể hiện những suy tư, trăn trở và dự báo bằng một cảm quan tinh tế và nhạy bén. Dù viết về cái đẹp hay cái xấu, cái ác hay cái thiện, hạnh phúc hay đau khổ, được hay mất,… Thanh Thảo luôn tin tưởng tuyệt đối ở mỗi “phẩm chất người”, tin tưởng ở lòng tốt của con người, tin tưởng ở cái đẹp, ở sức sống mãnh liệt, trường tồn của nghệ thuật, dĩ nhiên là nghệ thuật chân chính.

Cùng với những đóng góp về nội dung, thơ Thanh Thảo giai đoạn này luôn thể hiện những đột phá táo bạo trong cách tân nghệ thuật. Điều này đã góp phần làm nên nét độc đáo trong phong cách thơ Thanh Thảo. Với nhiều trường ca trong giai đoạn này, Thanh Thảo đã tìm cho mình một “lãnh địa’ để cách tân, đó là trên phương diện cấu trúc tác phẩm. Mỗi trường ca của Thanh Thảo là một sáng tạo trong cấu trúc và xử lý ngôn ngữ. Qua các trường ca của Thanh Thảo, người đọc dễ dàng nhận thấy trường ca của ông không thiên về tổ chức câu thơ theo mạch cảm xúc của thơ ca truyền thống, đồng thời nhà thơ cũng khước từ kiểu cấu trúc tác phẩm theo một “vỏ” tự sự đơn giản. Các kiểu kết cấu mà Thanh Thảo thường sử dụng trong các tác phẩm của mình là: kết cấu ru-bích, kết cấu giao hưởng, kết cấu điện ảnh,… Nhờ vậy mà hầu hết trường ca Thanh Thảo không sa vào bộn bề chi tiết hiện thực, không sa vào kể lể mà đào sâu vào tư duy, mang tính triết luận sâu sắc. Điều đáng ghi nhận ở Thanh Thảo trên con đường tìm tòi đổi mới hình thức biểu hiện của thơ ca là việc ông phát hiện và thử nghiệm một cấu trúc hoàn toàn mới cho thơ: “Ru-bích – đó là cấu trúc của thơ” (Khối vuông ru-bích). Đó chính là bản lĩnh của một cây bút dám dấn thân vì nghệ thuật: “Người ta yêu những người cố mở đường mà thất bại, yêu những người biết thất bại mà dám mở đường. Bởi vì những người đó đã nghĩ đến sự tiến bộ của nghệ thuật”” (Thanh Thảo - Thơ chính là số phận).

Sự tìm tòi đổi mới trong thơ Thanh Thảo còn thể hiện qua những tìm kiếm, thể nghiệm và đổi mới về mặt ngôn từ, giọng điệu. Xuất phát từ lối tư duy thơ giàu chất nghĩ, chất thực, ngôn từ trong thơ Thanh Thảo có độ nén năng lượng rất cao. Thanh Thảo đặc biệt ghét kiểu “chuốt chữ” cầu kì và cố gắng khai thác thứ ngôn ngữ “thô sơ mà hực sáng” (Thanh Thảo) của nhân dân. Trong thơ của Thanh Thảo, ngôn ngữ đời thường Nam Bộ, ngôn ngữ phổ thông của nhân dân được tiếp nhận một cách tinh tế và sâu sắc. Bằng tài năng và bản lĩnh của mình, Thanh Thảo đã biến ngôn ngữ của nhân dân thành những công trình nghệ thuật tuyệt mỹ. Đó là thứ ngôn ngữ giàu sức gợi, giàu chất nghĩ và chất trí tuệ. Và những tác phẩm thơ của Thanh Thảo lại góp phần làm giàu thêm cho ngôn ngữ của nhân dân.

Vợ chồng nhà thơ Thanh Thảo ủng hộ tiền trong buổi ra mắt

Quỹ “Vì những trái tim bé bỏng” tháng 2.2011

 

3. Thơ Thanh Thảo từ 1986 đến nay

 

Nếu so với giai đoạn sáng tác trước đó, thì đây là giai đoạn sáng tác có phần dịu lắng của Thanh Thảo. Không còn sáng tác ồ ạt như thời kì chiến tranh vừa kết thúc. Sau khi sáng tác xong Khối vuông ru – bích, chính Thanh Thảo tưởng như mình không còn gì để viết nữa. Nhưng chính “bản tính thông minh khôi hài hóm hỉnh của ông đã dìu ông ra khỏi trạng thái rỗng của người vừa viết xong một tác phẩm tâm huyết. Nó dìu ông, hay nói đúng hơn, nó đã bốc ông ra khỏi chính sự ngộ nhận tài năng để đem ông trở lại với khả năng lao động tìm tòi đích thực đầy khốc liệt” (Trung Trung Đỉnh). Như vậy, với bản chất của một cây bút ham tìm tòi đổi mới, Thanh Thảo đâu chịu đứng yên một chỗ. Thanh Thảo “vẫn trên đường” (Nguyễn Việt Chiến) mà mình đã chọn. Ông vẫn âm thầm đổi mới, đem đến những cái mới cho thơ ca, cho nghệ thuật. Với năm tập thơ được xuất bản (gồm cả một số sáng tác trước 1975): Tàu sắp vào ga (1986), Bạch đàn gởi bạch dương (1987), Từ một đến một trăm (1988), Thanh Thảo 1 2 3 (2007), Thanh Thảo 70 (2008) và một trường ca viết về Trường Sơn vừa ra mắt bạn đọc – trường ca Mêtro, Thanh Thảo tiếp tục có những đóng góp quan trọng cho nền văn học của dân tộc. Ngoài thơ ca, ở giai đoạn này Thanh Thảo còn viết tiểu luận, phê bình văn học. Ba tập tiểu luận phê bình: Ngón thứ sáu của bàn tay (1995), Mãi mãi là bí mật (2004), Trò chuyện với dòng sông (2009) là minh chứng hùng hồn cho quá trình lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi của Thanh Thảo. Điều đáng chú ý ở nhà thơ – nhà phê bình Thanh Thảo là ông viết phê bình như sáng tác văn học. Trong bài viết “Không đề Thanh Thảo”, tác giả Nguyễn Đỗ nhận xét khá xác đáng về cách viết tiểu luận này của Thanh Thảo: “Tôi cho rằng điều mà Thanh Thảo có được trong tập sách này – cái thành công nhất – chính là anh đã được sáng tác, anh viết tiểu luận như là một hối thúc bên trong, giống khi làm thơ”. Ở một chỗ khác, tác giả viết tiếp: “Chưa có ai gọi viết tiểu luận là sáng tác nhưng với tôi tiểu luận của Thanh Thảo là một sáng tác, hay rõ hơn là một biến thái của sáng tác”.

Tư duy thơ Thanh Thảo đến giai đoạn này đã tiến thêm một bậc nữa. Nó được ví như nấc thang thứ ba trong hành trình vận động tư duy thơ của ông. Trong bài viết “1 2 3 của Thanh Thảo và ba bậc tư duy trong quá trình hiện đại hoá thơ ca”, tác giả Mai Bá Ấn cho rằng:“Bậc 3 là 13 bài thơ còn lại được anh sáng tác gần đây với một ý thức bứt phá rõ nét, đẩy thơ Việt tiệm cận cùng những trào lưu thơ hiện đại thế giới”“…tư duy thơ đã nghiêng hẳn về lối sáng tác của chủ nghĩa hậu hiện đại. Chính lối tư duy này đã khiến Thanh Thảo cấu trúc tác phẩm thơ hoàn toàn mở, nhằm “rủ rê” sự tham gia của người tiếp nhận theo quan niệm “cái chết của tác giả” của chủ nghĩa hậu hiện đại”. Đây có thể xem là bước đột phá táo bạo của Thanh Thảo trong việc đổi mới hình thức thơ ca. Những bài thơ của ông thường tạo ra rất nhiều “không gian rỗng” để người đọc bị cuốn vào câu chữ mà tham gia đồng sáng tạo với nhà thơ. Thơ Thanh Thảo thường mở ra nhiều trường liên tưởng khác nhau, tạo ra độ mờ nhoè về nghĩa. Và người đọc cũng rất “tự do” trong việc tiếp nhận bài thơ. Mai Bá Ấn đã đánh giá khá cao lối tư duy thơ của Thanh Thảo trong những bài này: “Ở bậc tư duy thơ này, ta còn thấy rất rõ việc từ bỏ cách phản ánh “đại tự sự” của chủ nghĩa hiện đại để đi vào phản ánh “tiểu tự sự” của chủ nghĩa hậu hiện đại”. Mặc dù khái niệm “hậu hiện đại” theo Thanh Thảo là còn “mù mờ” nhưng những đóng góp của ông trên bình diện hiện đại hoá thơ là điều mà ai cũng nhận ra rất rõ.

Về mặt nội dung, thơ Thanh Thảo giai đoạn này chủ yếu hướng vào hiện thực cuộc sống đời thường với những trăn trở về con người và những vấn đề nóng hổi của cuộc sống. Tuy nhiên không vì thế mà thơ Thanh Thảo bớt đi tính trí tuệ. Ngược lại, chất trí tuệ trong thơ ông được nâng lên một tầm khái quát mới. Những vấn nạn của cuộc sống, sự giả dối của con người, cùng bao nhiêu cái xấu, cái ác nhan nhản tồn tại xung quanh khiến Thanh Thảo phải chạnh lòng: “Có những lúc ra về lòng rỗng không/ vì phải gặp trong cơ quan một thằng cặn bã” (Tôi chào đất nước tôi). Nhưng dù thế nào thì Thanh Thảo cũng tin tưởng vào “một lòng tốt bình thường” của con người: “vì tôi tin mãi mãi con người là bí mật/ mãi mãi chúng ta không đi hết bản thân mình” (Gởi Iu.Bonđarep).

 

CHÂN DUNG & NHÂN VẬT KHÁC:

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.