Tin mới Xem thêm

  • Khi có một người đi khỏi thế gian

    Có thể là buổi sáng khi chúng ta đang uống cà phê, có thể là một buổi chiều khi chúng ta đang trở về ngôi nhà của mình, và có thể một buổi

  • Nguyễn Minh Ngọc & Những con sóng

    Ôi biển ở đây sao giống cái ao làng đến vậy! Câu cảm thán bật ra gần như ngay tức thì khi hai người vừa đặt chân lên bãi cát loang lổ ánh trăng mờ ảo xuyên qua những kẽ lá dừa. Không gian vừa hư vừa thực. Cả hai đều biết mình không còn trẻ nữa. Tuổi đôi mươi đắm say giờ đã lùi xa phía sau lưng họ.

  • Như Bình & Tết tình nhân

    Trời đã lập xuân ư? Nhìn lên cây mai trước bồn thấy lác đác những bông trăng trắng. Lạ lùng, năm ngoái khi cây mai trụi lũi hoa, khô xác một cách tội nghiệp, Hoàn Du đã mấy lần định vứt đi. Bởi trước đó chứng kiến nó đẹp quá, rực rỡ quá, cảm thấy bất nhẫn thế nào ấy...

  • Không cần thiết phải có Hội đồng Chức danh...

    TS. Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Hội đồng Lý luận TW, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo

  • Ái Duy - Lặng thầm phố chợ

    Cả đời má tôi, chốt lại chỉ gói gọn trong hai từ: nội trợ. Má thất học, biết đọc biết viết nhờ ẵm em đứng lê la ngoài cửa lớp học trường làng

  • Nguyễn Quốc Trung & Cõi U Minh

    Tôi viết Cõi U Minh sau vụ rừng U Minh hạ bị lửa thiêu nhiều mảng lớn, người nông dân lâm vào cảnh khốn cùng. Các nhân vật trong truyện đều gắn bó với tác giả, câu chuyện được sáng tạo thêm để mang thông điệp tới bạn đọc. Cõi U Minh chính là sự u minh, không rõ ràng, sự nổi giận của rừng già

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Trần Ninh Hồ sướng với “liền chị liền em”

 



NHÀ THƠ TRẦN NINH HỒ:

Việt Nam có thể đã có nhà văn lớn

mà người đương thời không thấy

 

 

PHAN HOÀNG

 

Xuất thân là một người làm thơ, nhưng Trần Ninh Hồ được biết đến khi đoạt giải nhì cuộc thi truyện ngắn năm 1969-70 của tuần báo Văn Nghệ. Tuy nhiên, thơ với ông vẫn là cuộc tình duyên không thể tách rời và, nói đến Trần Ninh Hồ mọi người thường nghĩ đến một nhà thơ hơn là người viết văn xuôi. Cho đến nay ông đã in gần cả chục tập thơ, trong ấy tập Thấp thoáng trăm năm đã được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1997. Theo nhà thơ Trần Ninh Hồ: “Nhiều khi đánh giá cao về một tác phẩm nào đó trong bảy loại hình nghệ thuật lớn, người ta thường nói nó giàu… chất thơ lắm! Tôi cũng nghĩ rằng, các nhà phê bình khi đứng trước một tác phẩm nghệ thuật mà không có xúc cảm của một thi sĩ thì tốt hơn hết là chuyển qua nghiên cứu biên khảo chứ đừng làm phê bình”.

  

- Lâu rồi không thấy cái tên Trần Ninh Hồ xuất hiện cùng truyện ngắn. Ông có nhớ mình đã viết được bao nhiêu truyện ngắn, thưa ông?

- Khoảng 30 truyện, được in thành 4 tập: Vườn hoa cổng ô (1973), Ở trận (1976), Điều không ngờtới (1984), Thư cuối năm (1985). Truyện ngắn Trong những món ăn truyền lại từng được giải báo Văn Nghệ là một trong vài truyện tôi thích nhất. Nó cũng được chọn đăng trong 100 truyện ngắn hay thế kỷ XX do Nxb Hội Nhà văn ấn hành.

 

- Rất nhiều nhà văn khởi đầu sự nghiệp bằng việc làm thơ rồi sau đó chuyển hẳn sang viết văn xuôi. Ông cũng vậy. Tuy nhiên, dù đạt một số thành công về văn xuôi nhưng vì sao cuối cùng ông quay trở lại với thơ?

- Thực ra, tôi chưa bao giờ bỏ viết truyện ngắn. Nhưng đúng là về sau tôi chăm chú vào thơ hơn và tôi cũng được bạn đọc chú ý hơn về thơ. Năm 1971, sau khi rời lực lượng thanh niên xung phong, tôi vào bộ đội và hành quân cùng Tiểu đoàn 207 bộ binh vào Nam. Đi dọc Trường Sơn không có giấy bút, nên viết nhật ký bằng thơ là tiện nhất. Nhờ vậy, mà sau này tôi đã có Nhật ký hành quân - nhật ký thơ đăng nhiều kỳ trên phụ trương Văn Nghệ Quân Đội, cùng tập thơ đầu tay Trăng hai mùa ra đời năm 1976.

 

- Đó chỉ là lý do ngoại cảnh nhất thời, đâu thể hoàn toàn thuyết phục ông trở về với thơ, nếu như không có lý do nội tại?

- Tôi nghĩ đời người rất ngắn, mà việc thì nhiều, khả năng quên thì mênh mông, nên cố gắng viết những cách ngắn gọn để kịp chia sẻ những tâm sự và để con người… đỡ quên, may mắn có thể nhớ chút ít đến mình (cười).

 

- Và thơ chính là cách ngắn nhất để ông đến với bạn đọc. Ông quan niệm thế nào về thơ?

- Thơ là điện tâm đồ được ghi lại bằng chữ có nhạc nổi nhạc chìm, là lịch sử của tâm cảm và tâm thế. Trong hành trình nghệ thuật, thơ đồng nghĩa với cái đẹp. Nhiều khi đánh giá cao về một tác phẩm nào đó trong bảy loại hình nghệ thuật lớn, người ta thường nói nó giàu… chất thơ lắm! Tôi cũng nghĩ rằng, các nhà phê bình khi đứng trước một tác phẩm nghệ thuật mà không có xúc cảm của một thi sĩ thì tốt hơn hết là chuyển qua nghiên cứu biên khảo chứ đừng làm phê bình.

 

- Ông có nghĩ mình sẽ tồn tại nhờ thơ?

- Bây giờ xã hội đang gọi tôi là nhà thơ, được những giải thưởng thơ không nhỏ, được mời làm giám khảo nhiều cuộc thi thơ… Nhưng rất có thể tôi sẽ thất bại về thơ. Cho dẫu thế, trong cuộc chơi này ít ra tôi vẫn còn lại với tư cách là một bạn đọc của thơ- loại hình văn chương cao quí và bình dị.

 

- Không cần suy nghĩ trước, ông có thể đọc tên ngay 5 bài thơ của mình mà ông cảm thấy ưng ý?

- (Cười) Có thể kể: Yên Tử, Ước vọng Hoàng Hạc Lâu, Đâu rồi áo bào vệ quốc, Viếng chồng và một chùm 10 bài tứ tuyệt tự chọn chẳng hạn.

 

- Là một trong những nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ, ông nghĩ sao về đóng góp của lớp nhà thơ thế hệ mình. Nếu được chọn vài gương mặt yêu thích trong số họ, ông chọn ai?

- Các nhà thơ chống Mỹ chúng tôi cùng một giọng điệu, dùng thơ đánh giặc giữ nước. Đó là sứ mệnh lịch sử. Khó có thể khác được. Tôi đánh giá cao thơ của các bạn thơ Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Thi Hoàng, Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Ý Nhi.

 

- Không chỉ sáng tác, mà ông còn tỏ ra am hiểu về nền văn học sử nước nhà. Thế kỷ XX vừa kết thúc. Bằng cảm quan riêng mình, ông cảm thấy tác phẩm của những nhà văn nhà thơ nào của thế kỷ qua có thể “trụ” được lâu dài với thời gian?

- Thật khó mà hiểu và nhìn nhận đúng giá trị của cả một thế kỷ văn chương. Riêng tôi, về thơ tôi rất mê các cụ Chế Lan Viên, Huy Cận, Văn Cao, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử và Tố Hữu thời Từ ấy. Còn văn xuôi thì tôi thích Nam Cao, Tô Hoài, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu.

 

- Ông có cảm thấy nền văn chương Việt Nam hiện đại vẫn còn thiếu những nhà văn có tầm cao tri thức để có thể hình thành những tác giả lớn?

- Theo tôi, tầm tri thức tất nhiên là rất cần. Nhà văn phải là nhà tư tưởng (không nhất thiết phải sáng tạo ra tư tưởng) đi từ cảm xúc thân phận. Có những nhà triết học (với những tầm cao và bề dày trí tuệ văn hoá) đã viết văn. Có những nhà văn đi từ cuộc sống thường nhật đến những tư tưởng và triết lý nhân sinh. Và họ đã gặp nhau. Thời nào cũng có những nhà văn lớn của thời ấy. Đối với Việt Nam đương đại, có thể đã có nhà văn lớn mà người cùng thời không thấy hết.

 

- Trong gần 20 năm, trên cương vị phó ban thường trực Ban Công tác nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam, ông đã trực tiếp góp phần quan trọng vào việc tổ chức 4 hội nghị nhà văn trẻ toàn quốc. Gần gũi với giới trẻ, ông đánh giá ra về văn học trẻ thời gian qua?

- Sau năm 1975, đặc biệt là từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986, nền văn học mới có điều kiện mở ra nhiều góc độ. Cũng từ đó bắt đầu xuất hiện một lớp nhà văn trẻ mang đến nhiều giọng điệu mới mà chính thế hệ chúng tôi không có được. Mười lăm năm, một thời gian quá ngắn để các nhà văn trẻ có thể viết nên những tác phẩm lớn. Nhưng cái đáng quí là đã xuất hiện những giọng điệu đặc sắc, mở ra triển vọng đầy lạc quan cho nền văn học Việt Nam bước vào thế kỷ XXI.

 

- Một câu hỏi cuối cùng, thưa nhà thơ, ngoài văn chương, ông còn có đam mê tương tự nào khác không?

- Âm nhạc. Tôi rất khoái hát karaoké (bật cười khanh khách). Nhạc Việt Nam tôi đặc biệt thích là của Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Lưu Hữu Phước, Đặng Thế Phong và dân ca đồng bằng Bắc Bộ. Những đêm trăng mà lang thang đi nghe hoặc hát cùng với các “liền chị liền em” quan họ thì sướng lắm!

***

 

Nhà thơ Trần Ninh Hồ không chỉ thích... "liền chị liền em"

mà còn là một MC "duyên dáng" của các chương trình thơ

 

“Chợt nhớ một thời thơ

Chưa kịp viết đã cũ

Chợt nhớ những chồng vợ

Không một ngày tình nhân”

Thơ Trần Ninh Hồ có một giọng điệu riêng, thông minh, hóm hỉnh và chiêm nghiệm sâu sắc. Người đọc tìm thấy trong thơ ông sự sẻ chia thế thái nhân tình, cả lòng trắc ẩn bao dung. Đặc biệt là nhiều bài tứ tuyệt như “chén rượu hào hoa” của Trần Ninh Hồ đã làm "say" người yêu thơ nhiều thế hệ:

“Những muốn đem thơ trang trải nợ

Nào ngờ nghi ngút chút lửa rơm

Câu thơ tuyệt tác ngâm cho vợ

Chén rượu hào hoa nhắm với cơm” 

 

 

CHÂN DUNG NHÂN VẬT KHÁC:

>> Lê Bá Thự gặp tác giả Xin cạch đàn ông! ở Ba Lan

>> Nguyễn Văn Vĩnh- một dịch giả uyên bác

>> Hoàng Như Mai với những nhân vật văn hoá Việt Nam

>> Mai Cao Chương trong ký ức Lê Trí Dũng

>> Tài năng & tấm lòng Trần Hữu Nghiệp

>> "Thuốc trường sinh" của Trần Thanh Giao

>> Một chiều của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

>> Nhà văn Thanh Giang chạy đua với thời gian

>> Nhà thơ Lâm Xuân Thi & văn hoá doanh nhân

>> Nhà văn Nguyễn Khắc Phục- người hiền ở chốn phù du

>> Nhà văn Trần Kim Trắc một đời... tự cười

>> Nhà thơ Văn Lê "nhập đồng" hồn vía tiền nhân

 >> Thanh Tùng và mối duyên Thời hoa đỏ

>> Trần Văn Tuấn với văn hoá người lính

>> Tiếng lòng xót xa hướng về đồng đội của Phạm Sỹ Sáu

>> Lê Văn Thảo- nỗi niềm và thân phận

>> Bí ẩn trang văn Nguyễn Nhật Ánh

>> Nỗi bức xúc thơ và đời của Bùi Chí Vinh

>> Ngôn ngữ mới của Phạm Thiên Thư 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.