Tin mới Xem thêm

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Trần Văn Giàu tự hào hai tiếng Việt Nam!

17.12.2010-23:30

 

GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU:

Tự hào, nhưng không được tự phụ!

 

 

PHAN HOÀNG

 

NVTPHCM- Giáo sư Trần Văn Giàu - một trong những nhân vật lỗi lạc gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc ta gần một thế kỷ qua vừa đi vào cõi vĩnh hằng chiều tối ngày 16.12.2010. Trang Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu bài phỏng vấn ông do nhà báo Phan Hoàng thực hiện từng đăng trên báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện một phần cuộc đời, sự nghiệp, nhân cách và tầm nhìn của ông.

***

 

“Suốt thời tuổi trẻ, từ hồi còn đi học cho tới lúc làm cách mạng, tôi không nghe ai nói tới hai chữ Việt Nam cả. Trước năm 1945, tôi đi hàng chục nước trên thế giới cũng chưa từng nghe ai nói tới Việt Nam. Nhưng bây giờ trên thế giới không ai không biết Việt Nam”. Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động Trần Văn Giàu là một đại thụ hiếm hoi còn sót lại đã tự hào về hai tiếng Việt Nam như thế. Ông được xem là nhà cách mạng, nhà khoa học, nhà tư tưởng hàng đầu nước ta thế kỷ XX. Nhân cách và sự nghiệp của giáo sư đã trở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ học trò. Nhân dịp kỷ niệm 59 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2.9.1945, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với giáo sư với tư cách một nhân chứng quan trọng của sự kiện lịch sử này ở Sài Gòn và Nam Bộ.

 

* Thưa giáo sư, sau một thời gian dài có nhiều dịp nhìn nhận và suy ngẫm, cho đến lúc này nghĩ về cuộc Cách mạng tháng Tám giáo sư có cảm giác thế nào?

- Tôi rất tự hào và hạnh phúc, vì mình được trực tiếp tham gia và góp phần vào sự thành công của sự kiện lịch sử trọng đại này. Suốt thời tuổi trẻ, từ hồi còn đi học cho tới lúc làm cách mạng, tôi không nghe ai nói tới hai chữ Việt Nam cả. Trước năm 1945, tôi đi hàng chục nước trên thế giới cũng chưa từng nghe ai nói tới Việt Nam. Nhưng bây giờ trên thế giới không ai không biết Việt Nam. Và khi nói tới Việt Nam, người ta nói Việt Nam - Hồ Chí Minh.

Thời cổ, người ta biết đến Trung Hoa, Ai Cập, La Mã, Ba Tư chứ không ai biết Việt Nam. Ai Cập có Kim Tự Tháp, Trung Hoa có Vạn Lý Trường Thành, có Khổng Tử… Diện tích nước ta nhỏ, văn hoá thì chưa cao, thuộc hàng vô danh, nhưng đùng một cái, làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, Việt Nam danh vang nhất thế giới.

 

* Cách mạng Việt Nam danh vang nhất thế giới nghĩa là sao? Vậy còn cách mạng Nga, cách mạng Trung Hoa, thưa giáo sư?

- Cách mạng tháng Mười Nga lớn nhất thế giới nhưng giờ đã sụp đổ rồi, sụp đổ êm ru, không có một tiếng hô nào! Cách mạng Nga lớn không ai bằng, nhưng nó đổ êm cũng không ai bằng. Còn Trung Hoa có dân số đông hơn ta gấp mấy mươi lần, có bề dày lịch sử, văn hoá hơn ta, nhưng cuộc cách mạng Trung Hoa không được cổ vũ, không gây tiếng vang hơn ta. Vì người Trung Hoa chỉ làm cách mạng cho chính nước họ. Còn cách mạng Việt Nam đã thức tỉnh, kích thích hàng chục nước thuộc địa lớn nhỏ từ châu Á sang châu Phi cùng đứng lên giải phóng dân tộc. Chuông mình nhỏ nhưng gióng lên tiếng vang lớn. Nước mình nhỏ nhưng cuộc cách mạng gây tiếng vang lớn, tạo nên làn sóng đấu tranh mạnh mẽ trên khắp thế giới, phá tan xích xiềng thuộc địa nô lệ. Thành công trong một nước mà vang dội khắp thế giới. Thật đáng tự hào quá đi chứ! Tự hào, nhưng không được tự phụ. Có như vậy mới giữ được tiếng thơm cả ngàn năm dân tộc ta mới đạt được.

 

* Theo giáo sư, trong tương lai liệu tiếng thơm đó của Việt Nam có còn gìn giữ được trọn vẹn và lâu dài? Và giữ bằng cách nào, nhất là trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi như thời gian gần đây?

- Tôi nghĩ câu hỏi này để các “ông lớn” trả lời, chứ tôi chỉ là ông già về hưu sắp “gần đất xa trời”. Phải giữ tiếng thơm Việt Nam như thế nào? Khó đấy! Cái khó này có thể so sánh với cái khó khi giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám, của kháng chiến cứu nước. Tuy nhiên, dù khó mấy cũng phải làm, còn làm được hay không thì tuỳ thuộc vào các thế hệ người Việt Nam chúng ta. Vinh dự của Việt Nam lớn hơn số người Việt Nam. Nhiều nước lớn hơn ta nhưng không có được vinh dự đó. Có những nước nền văn hoá rất cao nhưng không được thế giới yêu mến, trân trọng như Việt Nam. Chúng ta ở trong tình thế khó giữ, khó bảo toàn. Liên Xô tan vỡ. Phong trào cách mạng thế giới rơi xuống đất. Phe tư bản do Mỹ đứng đầu đang lên… Bây giờ nước ta đầy rẫy khó khăn, nhưng theo tôi không có khó khăn nào hơn khó khăn làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi. Nghĩa là, nếu có khó khăn hơn thì ta cũng vượt qua được. Với tinh thần cách mạng của người Việt Nam, dù khó khăn mấy tôi tin cũng sẽ vượt qua. Cái chính là lòng tin. Hãy tưởng tượng bối cảnh Cách mạng tháng Tám khó khăn như thế, thù trong giặc ngoài, mình vẫn vượt qua. “Khó khăn nào ta cũng vượt qua, kẻ thù nào ta cũng đánh thắng”- câu nói của Bác Hồ linh lắm!

 

* Giáo sư và phần lớn các đồng chí thân cận của ông khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám ở Sài Gòn và Nam Bộ đều còn rất trẻ. Sinh ra và lớn lên trong một đất nước trải qua hàng trăm năm chìm dưới  bóng đêm nô lệ, nhờ đâu mà tuổi trẻ thế hệ của giáo sư có được tài năng và bản lĩnh cách mạng như thế?

- Trong Cách mạng tháng Tám đúng là thanh niên cả nước có vai trò đặc biệt to lớn, nhưng rõ nhất, lớn nhất là thanh niên Sài Gòn. Điều đó không phải nước nào cũng có, và trong nước ta không phải tỉnh nào cũng có. Tuy nhiên, không phải lúc nào thanh niên Sài Gòn cũng thể hiện được tài năng và bản lĩnh của mình, mà đó là nhờ quá trình thức tỉnh tinh thần yêu nước và cách mạng, chủ yếu từ hai nhân vật lỗi lạc Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn An Ninh. Chính nhờ tác động tuyên truyền của hai ông cùng một số bậc đàn anh đi trước khác mà thanh niên Việt Nam, thanh niên Sài Gòn bắt đầu tỉnh ngộ. Tiếp đến là sự ra đời của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, Hội kín và Đảng Cao vọng của Nguyễn An Ninh. Nghĩa là sau khi nói thanh niên nghe, các ông bắt đầu dạy cho họ làm, từ tuyên truyền đi đến tổ chức đoàn thể...

 

* Nói đến Cách mạng tháng Tám không thể không nói đến Nam Bộ kháng chiến, mở đầu cho cuộc kháng chiến toàn quốc trường kỳ chín năm chống Pháp tái xâm lược. Lúc bấy giờ, với trọng trách Bí thư Xứ uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ, giáo sư đã viết bản kêu gọi khởi nghĩa có tính lịch sử, xin giáo sư có thể cho biết rõ hơn sự kiện trọng đại này?

- Ngày 22.9.1945 tôi ở dinh Xã Tây, tức trụ sở Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Độ 2g chiều, anh Phạm Ngọc Thạch- phụ trách đối ngoại của Uỷ ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ đến phòng làm việc của tôi. Anh Thạch có tính là gõ cửa rồi mở liền.

- Có chuyện gì anh Thạch? Tôi hỏi.

Anh Thạch có vẻ rất khẩn trương:

- Thưa anh, từ bên Pháp có đại biểu của De Gaulle qua báo cho biết, De Gaulle đã gởi thư trả lời vấn đề của chúng ta yêu cầu Pháp về việc thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Bây giờ phía Pháp mời anh và tôi tối nay tới dinh Norodom để ăn tối và nghe báo cáo về thư trả lời của De Gaulle. Đi không anh?

- Phải đi nghe chứ! Mình chờ câu trả lời bấy lâu nay. Anh chuẩn bị đi.

Anh Phạm Ngọc Thạch về, tôi ngồi ngẫm nghĩ: “Nếu mình đi, chúng bắt cóc mình thì làm sao?”. Tôi vốn đọc truyện Tàu rất nhiều, bao nhiêu vụ bắt cóc kiểu “Hồng môn hội yến” đã xảy ra… Trong khi mấy bữa nay quân Pháp- Nhật còn đánh nhau nhiều nơi. Tôi nghĩ đây là kế của bọn Pháp, nên kiên quyết không đi. Độ 5g anh Thạch quay lại chỗ tôi gõ cửa:

- 6g đi nghen anh!

- Chuẩn bị hết rồi, nhưng mà không đi- Tôi trả lời.

Anh Thạch bước tới đấm mạnh tay xuống bàn:

- Trẻ con à! Hẹn đi không đi!

Tôi nói anh Thạch ngồi xuống rồi bình tĩnh đem chuyện “Hồng môn hội yến” bên Tàu kể cho anh nghe. Tôi bảo:

- Tôi với anh đi, nó bắt luôn thì làm sao? Thôi cứ cho anh em chuẩn bị hết mọi thứ, để địch tưởng mình đi thật, đánh lạc hướng chúng. Tôi về Chợ Lớn. Còn anh cũng đi khỏi nhà. Anh em khác cũng vậy, phải lánh mặt. Tôi sẽ báo việc này cho các anh lãnh đạo Trung ương đang ở đây.

Tối đó, anh em trong Uỷ ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ nghe lời tôi phần lớn đã dời chỗ ở. Đúng 10g đêm, quân Pháp nổ súng tái chiếm một số điểm quan trọng trong thành phố. Đang ở trên đường Ngô Quyền, Chợ Lớn tôi ngồi viết 15 phút xong bản kêu gọi khởi nghĩa, đưa cho anh Huỳnh Văn Tiễng- phụ trách tuyên truyền và thanh niên của Uỷ ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ đem đến đài phát thanh cho phát liên tục kêu gọi nhân dân đứng lên chống xâm lăng.

 

* Vâng, bây giờ đọc lại lời kêu gọi khởi nghĩa mà giáo sư viết chỉ trong vòng 15 phút ấy mới thấy thời khắc lịch sử lúc quân Pháp tái xâm lược rất khẩn cấp và hệ trọng. 15 phút để viết nên một văn bản có giá trị như một tuyên ngôn, một áng hùng văn giữa cơn dầu sôi lửa bỏng. Đó cũng là một vinh dự không chỉ của riêng giáo sư, mà là của người dân Sài Gòn, Nam Bộ và cả Việt Nam. Thưa giáo sư, so với Việt Nam thì các dân tộc khác ở phương Đông có được truyền thống tự hào chống xâm lăng?

- Qua nghiên cứu lịch sử, tôi thấy không có dân tộc nào bị xâm lăng nhiều như dân tộc Việt Nam, mà lần nào cũng phải đương đầu với kẻ địch mạnh hơn gấp hàng chục, hàng trăm lần. Các dân tộc ở phương Đông không có truyền thống chống xâm lược nhiều và mạnh mẽ như Việt Nam. Đó cũng là cái đặc sắc, là yếu tố phân biệt giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác ở phương Đông.

***

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Giáo sư Trần Văn Giàu

 

Trần Văn Giàu sinh ngày 6.9.1911 tại xã An Lạc Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An, nay thuộc tỉnh Long An. Là con của một gia đình trung nông, ông học tiểu học ở Tầm Vu, năm 1925 lên Sài Gòn học trường trung học Chasseloup Laubat, tức trường Lê Quý Đôn sau này, rồi đến năm 1928 sang Pháp du học trường Đại học Toulouse. Tháng 6.1930, do biểu tham gia biểu tình ở Paris ủng hộ cuộc khởi nghĩa Yên Bái của lãnh tụ Nguyễn Thái Học, ông bị trục xuất về nước; tiếp tục hoạt động cách mạng và dạy học ở trường Huỳnh Công Phát ở Sài Gòn. Đầu năm 1931, ông bí mật sang Pháp lần thứ hai, rồi sang Liên Xô học trường Đại học Phương Đông, tốt nghiệp với luận án Vấn đề ruộng đất ở Đông Dương, đến đầu năm 1933 thì về nước. Cùng một số đồng chí của mình, ông gầy dựng lại tổ chức Đảng Cộng sản ở xứ bộ Nam Kỳ sau một thời gian bị thực dân Pháp khủng bố.

 

Cuối năm 1933, Trần Văn Giàu bị chính quyền thuộc địa bắt kết án 5 năm tù treo, đến giữa năm 1935 bị địch bắt lại kết án 5 năm tù giam ở Khám lớn Sài Gòn, rồi đày ra Côn Đảo. Hết hạn tù, ông về đất liền được chín ngày thì bị bắt đưa đi an trí ở “căng” Tà Lài nằm sâu trong rừng thượng nguồn sông Đồng Nai. Đầu năm 1941, ông cùng với chín đồng chí của mình là Dương Quang Đông, Tô Ký, Nguyễn Công Trung, Châu Văn Giác, Trương Văn Nhâm, Nguyễn Hoàng Đức… tổ chức vượt ngục thành công, về xây dựng lại cơ sở cách mạng, được cử làm Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ, lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn trong Cách mạng tháng Tám.

Sau khi viết bản kêu gọi khởi nghĩa có giá trị lịch sử vào ngày 23.9.1945, nhà cách mạng Trần Văn Giàu được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Nam Bộ lãnh đạo nhân dân cương quyết đánh Pháp tái xâm lược. Sau đó, từ năm 1946-1948, ông được Trung ương điều sang giúp tổ chức lực lượng kháng chiến ở nước bạn Campuchia. Năm 1949, ông ra Hà Nội, lên chiến khu Việt Bắc nhận chức vụ Tổng giám đốc Nha Thông tin tuyên truyền, tới năm 1941 theo yêu cầu của tổ chức muốn chuyển ông sang quân đội làm binh vận, nhưng ông xin sang ngành giáo dục, vì ông thích dạy học và nghiên cứu khoa học hơn. Từ đó, ông lần lượt thực thi sứ mệnh mới mẻ của mình ở các trường Dự bị đại học, Đại học Sư phạm văn khoa, Đại học Tổng hợp, Viện Sử học. Đây cũng là bước ngoặt quan trọng của cuộc đời Giáo sư Trần Văn Giàu, khi chuyển từ một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp sang nhà nghiên cứu, giảng dạy sử học; cho dù với ông làm khoa học cũng là làm cách mạng, hai lĩnh vực này hoà quyện với nhau, và những đóng góp của ông trong khoa học cũng to lớn không kém công lao của ông trên hành trình làm cách mạng giải phóng dân tộc. Vì vậy, trong tác phẩm Cách mạng 1945 của Việt Nam (The Vietnamese Revolution of 1945), nhà sử học nổi tiếng của Bắc Âu Stein Tonnesson đã rất đúng khi gọi Trần Văn Giàu là “giáo sư- nhà cách mạng”.

 

Đối với Giáo sư Trần Văn Giàu, lý tưởng cao đẹp mà ông theo đuổi bây giờ đã thành sự thật. Dân tộc thoát khỏi xích xiềng nô lệ. Tổ quốc được độc lập, thống nhất và đang trên đường xây dựng, phát triển. Nền sử học cách mạng mà ông góp phần dày công gầy dựng từ thuở ban đầu, giờ đã dần lớn mạnh. Riêng ông, đã hoàn thành hơn 100 công trình nghiên cứu, gồm hàng chục vạn trang sách, được Nhà nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học xã hội và nhân văn, tiêu biểu như: Chống xâm lăng 1858- 1898 (3 tập), Lịch sử Việt Nam cận đại1858- 1930 (4 tập), Giai cấp công nhân Việt Nam (4 tập), Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám (3 tập), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Triết học và tư tưởng… Đặc biệt, gần giữa tuổi cửu tuần ông vẫn làm việc không ngừng nghỉ, tiếp tục nghiên cứu, viết sách, liên tục tiếp khách trong và ngoài nước, trả lời các cuộc phỏng vấn… Một bộ óc minh triết khác thường. Một sức làm việc đáng nể. Và dù rất muộn, Giáo sư Trần Văn Giàu đã được Chủ tịch nước trao tặng danh hiệu cao quí Anh hùng Lao động vào năm 2002. Vinh dự ấy hoàn toàn xứng đáng đối với một nhà trí thức cách mạng tài ba, kiên trung, thuỷ chung, cao thượng, suốt đời làm việc cật lực vì dân vì nước.

Phú Thọ Hoà- tháng 8.2004

 

CHÂN DUNG NHÂN VẬT KHÁC:

>> Bút Tre... con đò dịch đít sang ngang

>> Nguyễn Đông Thức sức viết còn... "vượng" lắm!

>> Lê Quang Trang với tình hình lý luận phê bình

>> Bruce Weigl- "sứ giả" văn hoá Việt

>> Lê Bá Thự "phu chữ" văn học Ba Lan

>> Phan Ngọc- nhà "bách khoa" cuối cùng của một thế hệ

>> Sơn Tùng xứng đáng vinh danh anh hùng

>> Đoàn Giỏi- nhà văn của "núi cả cây ngàn"

>> Võ Thị Xuân Hà và công tác nhà văn trẻ

>> Lê Nguyễn và nhân cách người trí thức

>> Nguyễn Đăng Mạnh từ bục giảng đến văn đàn

>> Trần Quang Quý trăn trở về thơ Việt 

>> Nguyễn Thu Trân từ Lá me đến Xóm sở Mỹ

>> Lê Phương Liên bức xúc về văn học thiếu nhi

>> Ngô Kha trung thực một đời thơ

>> Nữ thi sĩ Nga xuất chúng Bella ra đi

>> Xuân Hoàng- Người đi bên lề thơ mình

>> Lâm Quang Mỹ- Một nhà thơ nước Nam

>> Nguyễn Quảng Tuân vì Kiều chạy nhiều hơn đi

>> Triệu Từ Truyền dấn thân và lưu đày

>> Trần Ninh Hồ sướng với "liền chị liền em"

>> Lê Bá Thự gặp tác giả Xin cạch đàn ông! ở Ba Lan

>> Nguyễn Văn Vĩnh- một dịch giả uyên bác

>> Hoàng Như Mai với những nhân vật văn hoá Việt Nam

>> Mai Cao Chương trong ký ức Lê Trí Dũng

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.

  • Sat, 12/18/2010 - 15:47 — quanghuy

    Bài viết có ích về một nhân vật lớn đáng kính. Chỉ có những người như bác Trần Văn Giàu mới có được tầm nhìn sâu rộng như thế. Người hỏi hay, người trả lời càng hay.
    Việt Nam chắc còn lâu mới có được người thay thế TVG. Tôi luôn nghĩ thế.

  • Sun, 12/19/2010 - 19:35 — Quynh Nhu

    Tìm được một con người như ông Trần Văn Giàu suốt đời hy sinh cho dân tộc, vượt qua bao phong ba của sự tị hiềm ích kỷ, đứng lên vững chải như bức thành đồng, thật khó lắm thay. Xin cúi đầu vĩnh biệt "giáo sư đỏ" TVG.

  • Sun, 12/19/2010 - 19:44 — Phạm Đình

    Đúng là khó tìm được một nhân cách lớn như Bác Sáu. Qua cuộc đời Bác cho thấy, chỉ có tác phẩm giá trị cùng sự lương thiện thì mới ở lại với cuộc đời, còn phản trắc, lọc lõi, khôn vặt, hại người thì chẳng ai thèm nhớ.

  • Mon, 12/20/2010 - 20:57 — Thuý Nguyên

    Nam Bộ, Sài Gòn tự hào có bác Giàu trong thế kỷ qua. Sao nhiều trí thức bây giờ cứ lo làm giàu, lo thăng chức thăng quyền mà không chịu học tấm gương hy sinh, cống hiến cho nền văn hiến nước nhà như Bác Sáu nhỉ?