Tin mới Xem thêm

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

  • Nguyễn Quang Sáng cánh chim sếu đầu đỏ

    Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị

  • Truyện ngắn Hoàng Hiền: Mẹ con

    U nghỉ đi, con về thu xếp. Dứt lời, Hiên đi ra sân nổ máy lao vút ra cổng, mấy con chó con chạy theo sủa ăng ẳng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Chân dung & Phỏng vấn

Triệu Từ Truyền bài thơ của một thời

10.11.2012-17:45

Nhà thơ Triệu Từ Truyền (trái) trả lời phỏng vấn của nhà thơ Bùi Thanh Tuấn

 

 

NHÀ THƠ TRIỆU TỪ TRUYỀN

Bài thơ của một thời

 

NGUYỄN NGUYÊN PHƯỢNG

 

NVTPHCM- Năm 2002, sau buổi thi học sinh giỏi cấp tỉnh, tôi đưa đoàn ghé hiệu sách Đồng Nai (Biên Hòa). Trường ở tận vùng sâu được dịp các em ríu rít túa đến những quầy hàng, sản phẩm đầy hấp dẫn. Lang thang ở quầy sách tầng hai, tôi lại gặp bài "Bài thơ bắt đầu” của anh trong tuyển thơ văn thời chống Mỹ. Bút danh vẫn đề tên Nguyễn Ngàn Xưa. Thật thú vị và thoảng một chút bồi hồi…

 

Bài thơ có tựa đề "Bài thơ bắt đầu” được in trong tập san Tiếng Nói số 2(1) của phong trào SVHS đô thị miền Nam vào cuối thập niên 60 của thế kỉ trước. Tờ bìa đã sờn rách nhưng vẫn còn rõ nét ảnh người thiếu nữ hai tay nâng cánh chim bồ câu. Tập san được quay in roneo, một cách làm bí mật của các hội, đoàn thể cách mạng để thoát vòng kiểm duyệt báo chí lúc đó. Trong một lần gặp lại, tác giả hết sức ngạc nhiên muốn xin tập san nơi đăng tải lần đầu đứa con tinh thần của mình cách đây hơn ba mươi năm.

Nội dung có đủ thể loại thơ – văn – nhạc – họa do các cây bút thuộc giới học sinh, sinh viên chất chứa niềm khao khát tự do, hòa bình, những trăn trở thời đại trong những năm dài miền Nam tăm tối dưới ách ngoại bang. Ca khúc làm nên tiếng tăm của nhạc sĩ Tôn Thất Lập, "Đồng lúa reo” cũng đăng trong số này. Tất nhiên là tôi từ chối, bởi đây là kỉ niệm nhỏ và đẹp của thời trẻ tuổi cũng do chính anh, tác giả bài thơ gởi cho tôi cùng với tài liệu truyên truyền (một bài viết có tựa "Ta nhất định thắng, Mỹ nhất định thua” được kẹp đóng khéo léo trong ấn phẩm đạo Phật An Lạc).       

***

Năm 1968, cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân vào tận hang ổ Sài Gòn, Gia Định và hàng loạt tỉnh thành khác. Một cú sốc lớn làm choáng váng chính quyền Sài Gòn. Tác giả (sau này tôi mới biết là một Đảng ủy viên lãnh đạo cánh TNHSSV Sài Gòn - Gia Định) mới vừa qua tuổi 20 (sinh năm 1947). Ngoài mối quan hệ văn chương, tác giả là em bạn dì của mẹ, tôi gọi bằng cậu. Tuổi đời suýt soát nhau nên chúng tôi xưng hô anh em cho gần gũi. Lần chở mẹ tôi đến thăm anh vừa được trả tự do từ nhà tù Côn Đảo (1969) ở căn nhà nhỏ phía sau Bệnh viện Ung Bướu Gia Định (nay là quận Bình Thạnh). Anh chống hai tay lết ra do hai chân bị liệt vì những đòn tra tấn dã man trong tù chào mẹ tôi. Vậy mà chỉ hai ba tháng sau, anh đã tìm găp tôi nói chuyện thơ, đọc tôi nghe những bài thơ anh sáng tác. Lúc đó tôi vừa thi đậu Tú Tài phần I, 17 tuổi. Học ban Toán nhưng yêu thích thơ văn, tôi cũng đã bước đầu làm thơ nên tôi hâm mộ thơ và cả "hành tung” đến, đi bí mật của anh. Dáng người nhỏ nhưng sôi nổi khi đọc thơ, độc trên người là chiếc áo xanh với thẻ sinh viên Đại học Vạn Hạnh tên Tân cùng chiếc cặp luôn bên người. Nhiều đêm hai chúng tôi trò chuyện về thơ, về thời cuộc trên chiếc đi-văng duy nhất trong căn phòng trống tuyếch, vì mẹ tôi làm ăn thất bại, đồ đạc đều bán tất, ngay căn nhà cuối cùng cũng bán và thuê lại ở. Mờ sáng hôm sau, anh đã mang cặp đi. Và tôi đến với thơ, với phong trào như thế. Bằng chiếc xe Suziki dame cà tàng tôi cùng anh rong ruổi (thực ra anh đang gầy dựng lại phong trào) nhiều nơi trong thành phố. Khi thì sinh hoạt với nhóm thanh niên Phật tử ở chùa Quán Thế Âm (Phú Nhuận), khi lại gặp nhóm nòng cốt bàn việc ra báo ở quán Cà-phê Triệu Minh, đường Nguyễn Huỳnh Đức. Có lúc theo đoàn học sinh lên thăm các em nhỏ ở Cô nhi viện Long Thành, nhưng chủ yếu là họp khối báo chí của các trường Thành phố. (tôi là trưởng ban báo chí của một trường trung học). Cuối ngày, điểm chia tay thường là đầu con hẻm ở Cây Gõ. Vẫn chiếc áo xanh, chiếc cặp nhỏ khuất dần theo lối sâu dẫn vào ngôi chùa của người bà con. (Sau ngày giải phóng miền Nam, tôi đến ngôi chùa ấy vẫn còn căn hầm bí mật anh ẩn nấp đặt dưới bàn để sư cô độ cơm chay mỗi bữa). Tôi gắn bó với phong trào chỉ một thời gian ngắn, khoảng hai năm. Năm 1971 đứt mối liên lạc vì anh bị bọn mật vụ phục bắt tại chợ Bà Chiểu (Gia Định), sau đó chúng đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Ngoài tài liệu tuyên truyền thất lạc, một tập thơ cùng ấn phẩm "Tiếng Nói” đăng bài "Bài thơ bắt đầu” của anh tặng với bút danh Nguyễn Ngàn Xưa tôi vẫn còn giữ đến nay. Bài thơ có giọng điệu trầm lắng tâm tình nhưng đầy ưu tư, nặng lòng với lý tưởng đang theo đuổi. ”Tôi viết bài thơ trầm tỉnh hơn bao giờ/ Có những cơn mưa nặng hạt bất ngờ/ Trên đường đi không tiền mua áo khoác…”. Thơ là tiếng lòng của người viết hằn sâu những trăn trở, suy tư. Như nhiều cán bộ, chiến sĩ dấn thân đấu tranh kiếm tìm hòa bình, tự do giữa lòng đô thị kẻ thù đang ngự trị, chiếm đóng anh phải đương đầu trước bao gian nan, bất trắc. Sau khi anh bị bắt, tôi mới biết thêm anh đang đi tiếp con đường của người cha từng hoạt động thời kháng chiến chống Pháp. "… Đừng nhìn tôi với mắt nai ngơ ngác/ Đừng hỏi thầm có lạnh lẽo gì không?/ Như cánh chim mất tổ mãi phiêu bồng/ Bay đi nhặt lại từng cọng cỏ ngàn xưa/ Dưới bầu trời sau mỗi cơn mưa/ Góp phần làm tổ mới..”. Cha anh cũng vì roi đòn tra tấn nhà tù, lâm trọng bệnh đã mất khi anh đang vào tù lần đầu! Trong tù anh khóc cha, người đồng chí lớn "Bổn phận làm dân, trách nhiệm làm cha/ Người hoàn tất cuộc đời như tác phẩm”. (2) Anh nén chặt nước mắt, nước mắt "cứng như song sắt/ tròn như chiếc còng/… chảy như đấu tranh/ nhỏ như tuổi trẻ/ lăn như cách mệnh.” (3) Song hành cùng truyền thống của cha anh, của dân tộc là niềm đam mê thơ ca như có từ trong máu. Mười bốn, mười lăm tuổi làm thơ và tập thơ đầu đã ra đời từ độ tuổi ấy. Tập thơ tặng tôi là tập thứ hai, "Đêm lên cơn dài” anh viết năm 18 tuổi(4). Hơi thơ lạ, có nhiều bài được viết trong tù, ngôn từ cách tân, giàu triết lí trĩu nặng ưu tư thời đại. Tôi còn nhớ khi lên căn gác nhỏ của anh ở Gia Định, với những sách bộn bề, không gian như một "thánh đường thi ca” bởi trên vách treo bảng tuyên ngôn của nhóm Bộ Lạc Mới soạn thảo.(5)

Dấn thân làm cách mạng cho đời và phải chăng anh cũng khao khát làm cuộc cách mạng cho thơ? "... Dù làm thơ siêu thực/ Dù lí luận hiện sinh/ Nhưng chính bản thân mình/ có hơn gì nô lệ/ Chiếc xích ngàn năm ít nhiều rĩ sét? Mà hai chân người còn kéo lết thương đau/ Đừng phết son lên Xích để trang sức cuộc đời/ Đừng mang ý nghĩ sơn xanh màu lá chết..”  Xích xiềng nô lệ phải đập tan! Thơ phải đến với đời bằng một diện mạo mới lắng sâu giá trị nhân văn trong tứ thơ, từng con chữ sản sinh từ hồn thơ ray rứt, đau đáu đời không thôi. Từ nhà ngục của kẻ thù anh bước ra và lại dấn bước, lại bắt đầu vào cuộc hành trình mới.

" … Tôi xin cầm bút từ đây

Hát đêm sông Cửu ca ngày Trường Sơn”

***

Nhà thơ Triệu Từ Truyền (bên phải) ở Hoa Kỳ

 

Năm 1973, Hiệp định Paris được kí, anh và nhiều đồng chí được trao trả ở Lộc Ninh, sau đó anh về công tác ở miền Tây. Còn tôi thoát đợt bắt lính sau mùa Hè đỏ lửa 1972, tốt nghiệp Đại học Văn Khoa về dạy giờ ở một trường trung học thuộc tỉnh lị Gò Công. Mối liên lạc với anh đứt hẳn nhưng tình còn vấn vương mối duyên thi ca. Thơ chiếm lĩnh tâm hồn bởi tính chân thực đồng thời nói thay tâm tình, nghĩ suy của người người đọc. "Bài thơ bắt đầu” của anh là vậy. Nhiều bạn  trẻ thời bão lửa trong lòng đô thị Miền Nam cũng yêu thích bài thơ. Nó khơi gợi người đọc chọn hướng đi cuộc đời lẫn thơ ca trong bối cảnh nền văn hóa dân tộc bị tiêm thuốc độc, bị gây nhiễm bởi các luồng tư tưởng, triết lí khó mà tỉnh táo, phân định rạch ròi.

Với tôi thi phẩm còn mang kỉ niệm khó quên. Tháng 3 năm 1975, chiến dịch lịch sử  mở màn bằng cú đột phá Tây Nguyên làm rung chuyển cả miền Nam. Thầy trò đến trường không còn tâm trí nào để dạy và học. Hằng buổi tôi mang báo đến lớp cập nhật tin chiến sự qua các tờ Tin Sáng, Chính luận… Nào là cuộc bỏ phiếu bằng chân của sĩ quan, binh lính chế độ cũ cùng dân chúng hoảng loạn tháo chạy, nào là các dấu đỏ, tỉnh thành được quân cách mạng giải phóng, trên bản đồ từ vĩ tuyến 17 trở vào ngày càng dày đặc. Dường như cả thầy lẫn trò chúng tôi đang cùng nhau chờ đợi một kết cuộc. Một buổi chiều tháng tư, nơi phòng dạy lớp 11, cách dãy phòng Hiệu trưởng, Giám học không đầy mười bước chân, tôi đọc bài thơ của anh như một tâm sự, một khát khao của chính mình. Không gian chùng xuống, tiếng ve râm ran, giọng tôi sôi nổi dần theo mạch thơ, Tôi viết bài thơ trầm tỉnh hơn bao giờ... Như cánh mất mất tổ mãi phiêu bồng… Không chỉ làm thơ khóc tro tàn gạch vụn/ Hãy căm hờn như lửa đốt khai hoang/ Đưa bàn tay đập phá tối tăm/ Bằng chiếc búa của người thợ sắt/ Với niềm tin khi mùa lúa trở về/ Trên khắp cả miền quê rực rỡ…” Bao ánh mắt chăm chú lắng nghe. Vừa dứt câu thơ cuối, một học sinh gữa lớp đứng lên hỏi, thưa thầy bài thơ có phải do thầy sáng tác? Tôi trả lời ngay, không, của người bạn tôi viết. Bài này là của Việt cộng! Tôi sửng người, không ngờ em nhạy thật. Cả lớp im ắng hẳn. Nhưng là một bài thơ hay và thầy đọc cũng hay phải không các em.  Rào rào tiếng vỗ tay. Em học trò vừa hỏi cũng vỗ theo. Thế là tôi thoát nạn. Và điều gì đến phải đến, 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, tỉnh Gò Công giải phóng, lớp thầy giáo trẻ như tôi hòa nhập nhanh chóng  vào dòng chảy lịch sử của dân tộc. Tôi vừa giảng dạy vừa làm công tác đoàn. Năm 1978 tôi tham gia khóa đào tạo cán bộ đoàn trường học một tháng rưỡi của Trường Đoàn Lê Thị Hồng Gấm ở Thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang). Là lớp phó học tập, được đề nghị hát một bài trong giờ giải lao của lớp. Tôi lại đọc bài "Bài thơ Bắt đầu” của anh, đọc công khai, tự tin vì tôi đang làm một cuộc bắt đầu với cả niềm say mê trong sáng. Tôi tiếp tục giảng dạy dưới mái trường mới, làm công tác Đoàn và vẫn làm thơ, viết văn cho các báo ở Thành phố, cho báo địa phương Văn Nghệ Tiền Giang.

***

Những ngày đầu giải phóng, tôi gặp lại anh. Có lần đến nhà anh bên Cầu Đỏ, Bình Triệu. Dẫu ở cương vị mới, phó chủ tịch Quận 4, gặp nhau chúng tôi chỉ nói chuyện về thơ. Trong căn phòng khách nhỏ thoảng chút trầm hương, anh vẫn nhẹ nhàng, điềm tỉnh đọc những bài thơ mới nhất. Còn tôi nói về mấy bài viết của mình đăng báo. Đúng là thơ mình vợ người! Một thời gian sau chuyển công tác về Đồng Nai, nghề dạy học cứ tưởng ngẫu nhiên chọn vào lại trở thành nghiệp với tôi đến tận giờ. Còn anh, bạn bè đều nghĩ con đường "hoạn lộ” hanh thông, vì anh vừa mới qua tuổi 40, "lí lịch” không gì tốt hơn thì được biết anh xin nghỉ công tác lãnh đạo chỉ làm nhân viên để chuyên tâm vào văn học nghệ thuật, vào thơ. Làm đại diện của Hội Nhà văn Việt Nam ở phía Nam, chủ biên chuyên san về thơ ở Đồng Nai, trưởng biên tập một vài tờ báo của Trung ương, của tỉnh. Anh viết truyện ngắn, truyện dài, bình thơ, khảo luận về nguồn cội của thơ bằng niềm đam mê máu thịt. Huỳnh Kim, một bạn viết ở Cần Thơ gởi lời mừng "đã trở về với đúng vị trí của mình” khi anh cho in tập  thơ "Bên dòng Măng Thít”.(6) Từ năm 1990 anh liên tiếp gởi đến bạn đọc bốn tập thơ (7), vẫn giọng điệu riêng, tứ thơ ngôn từ đòi hỏi người yêu thơ bỏ công khám phá. Nhưng có một điều dễ nhận ra, anh vẫn nồng nàn, sống tận cùng với thơ.

Năm 2002, sau buổi thi học sinh giỏi cấp tỉnh, tôi đưa đoàn ghé hiệu sách Đồng Nai (Biên Hòa). Trường ở tận vùng sâu được dịp các em ríu rít túa đến những quầy hàng, sản phẩm đầy hấp dẫn. Lang thang ở quầy sách tầng hai, tôi lại gặp bài "Bài thơ bắt đầu” của anh trong tuyển thơ văn thời chống Mỹ. Bút danh vẫn đề tên Nguyễn Ngàn Xưa. Thật thú vị và thoảng một chút bồi hồi. Bởi tên thật của anh là Triệu Công Tinh Trung, bút danh của anh trong nhóm Bộ Lạc Mới Triệu Cung Tinh, hiện nay là Triệu Từ Truyền. Đáng tiếc, túi đã cạn tiền nên tôi không mua được tuyển thơ ấy.

Nhưng có hề gì, tôi vẫn nhớ vẫn yêu thích bài thơ. Bởi bài thơ gắn với thời trẻ tuổi, thời lãng mạn, mê làm thơ, viết văn một cách để tồn tại, "mà cuộc đời có thơ như có sống” trong từng phút giây, một cách sống "mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”. (Trịnh Công Sơn)

"Bài thơ bắt đầu”, với tôi mãi vẫn là một kỉ niệm nhỏ, đẹp và khó quên.

Gia Ray - TP.HCM, tháng 8.2011

 

____________

(1) "Bài thơ bắt đầu” của Nguyễn Ngàn Xưa (còn có bút danh Triệu Cung Tinh) đăng trên tập san Tiếng Nói do Lê Văn Nuôi chủ biên phát hành năm 1969. Ngay sau đó đăng lại ở nhật báo Tin Sáng và tập tuyển thơ Tiếng Hát Những Người Đi Tới ký tên Nguyễn Văn Biên năm 1970, và năm 1974 đăng lại Văn Nghệ Giải Phóng; sau 1975, in trong Tập thơ văn nhạc hoạ Tiếng Hát Những Người Đi Tới, 1993, NXB TRẺ.

(2) (3) (4) Bài thơ Tác phẩm và cuộc đời”, "Nước mắt” (Đêm lên cơn dài -  Triệu Cung Tinh, nhóm Bộ Lạc Mới xuất bản, Sài – gòn, 1965)

(5)  Nhóm Bộ Lạc Mới gồm các thành viên: Triệu Cung Tinh, Từ Kế Tường, Trần Hồng Nhan (Nguyễn Tôn Nhan)…   

(6)  "Bên dòng Măng Thít” (Triệu Từ Truyền, NXB HVHNT Cửu Long, 1986)

(7) "Dật dờ trong sương” (1990), "Mảnh vỡ hồn nhiên” (1994), "Va chạm hư không” (1999), "Mặt cắt cõi ngoài” (2006)

 

 

 

 

>> Xem Chân dung & phỏng vấn nhân vật khác

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.