Tin mới Xem thêm

  • Xe máy và người nghèo

    Câu chuyện “cấm xe máy” một lần nữa lại đốt nóng dư luận – cho dù những tranh cãi quanh vấn đề này vẫn liên tục được nâng lên

  • Áo dài xuống đường đòi quyền sống

    Cuộc đời nữ luật sư huyền thoại Ngô Bá Thành đã gắn bó với chiếc áo dài khi xuống đường đòi quyền sống

  • Đặng Huy Giang nguyên trong anh là một bất...

    Đêm giao thừa vừa rồi/ Nhà tôi kê thêm nhiều bàn, nhiều ghế/ Và mua thêm nhiều rượu, nhiều trà/ Cắm thêm nhiều hoa văn minh, văn hóa/ Đón các ông tử tế vào nhà/ Ông tên Chân Thành/ Ông tên Trung Thực/ Ông tên Đàng Hoàng/ Ông tên Ngay Ngắn...

  • Lòng tin - bài học để lại

    Khi mọi người yêu cầu tôi ký chứng nhận bản cam kết của Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung với người dân xã Đồng Tâm, tôi không do dự mà còn nói thêm là sẽ ký như một người chứng thực chữ ký của các bên, và ký xong thì sẽ điểm chỉ

  • Trần Đình Sử, tại sao?

    Có một người thấp đậm, phong cách khá chân phương với nụ cười lành đi từng bước chắc nịch theo cách riêng của mình: Trần Đình Sử

  • Việt Nga - Mùa hoa tam giác mạch

    Ngần ngại mãi, Phong mới quyết định đi Hà Giang cùng cơ quan! Đây là chuyến đi chia tay Phó Tổng giám đốc. Còn gần tháng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Dọc đường văn học

Đoàn Phương Huyền & Phận bèo

13.4.2017-15:45

Nhà văn trẻ Đoàn Phương Huyền

 

HƯỚNG TỚI HỘI NGHỊ

NHỮNG NGƯỜI VIẾT VĂN TRẺ TPHCM LẦN THỨ IV:

 

Phận bèo

 

TRUYỆN NGẮN CỦA ĐOÀN PHƯƠNG HUYỀN

 

- Dì Sáu, Dì Sáu ơi? Dì Sáu đâu rồi?

 

- …

 

- Dì Sáu…

 

An gọi mãi vẫn không có tiếng trả lời. An bấm đèn pin soi khắp căn nhà thì thấy dì Sáu ngồi thu lu trên giường, run lập cập.

 

- Dì đây rồi. Không sao nữa.

 

An ôm lấy dì. An cảm nhận được nỗi sợ hãi đang muốn nuốt trọn thân hình gầy gò bé nhỏ của dì. An vỗ về:

 

- Dì cứ ngồi đây, để con dọn. Mà không được, nước sắp lên tới giường rồi. Dì lên sập đi.

 

- Không…không được lên sập, tủ…tủ thờ mà An.

 

- Vậy để con kê bàn lên cho dì. Mà thôi, dì qua nhà con đi. Dì qua nhà con cho an toàn. Để con đưa dì qua.

 

- Không, dì…dì không đi. An, không được để ướt cái này.

 

- Dì ơi, giờ này dì còn lo mấy đồ này là sao. Chết rồi, lúa ướt hết rồi. Để con đưa nồi cơm điện lên tra(*) không là hư luôn đó.

 

- Không, con gấu này của bé Mi, của bé Mi.

 

- Con…con biết rồi. Để con đưa dì qua nhà con nha.

 

- Dì không đi hết. Bé Mi về không thấy dì nó buồn, nó khóc…

 

An nuốt cục nghẹn nơi cổ, vừa soi đèn, vừa dọn đồ đạc lên sập.

 

***

 

Mi chạy. Chạy. Những bước chân  Mi giẫm đạp lên nhau. Nước mắt hoà chung nước mũi. Mi vừa đưa tay gạt nước mắt vừa chạy. Tiếng Mi lọt thỏm giữa đồng không.

 

- Mẹ….

- Mẹ….

 

Mi té nhào giữa vũng nước. Bàn chân nhỏ xíu của Mi lặn ngụp trong vũng nước. Mi nằm gục, nửa người bò trên miệng vũng nước.

 

***

 

Dì Sáu vừa tắm rửa cho Mi vừa khóc. Nhưng, nước mắt dì đã không còn chảy được sau cái đêm đó. Chỉ có tiếng khùng khục nơi cổ họng. Người ta bảo đó là căn bệnh “tắc tuyến lệ”. Ở quê, ai mà quan tâm tới chuyện tắc thì phải thông. Khóc ra nước mắt hay không cũng vậy thôi. Cái cần là cái ăn cái mặc kìa. Dì Sáu lẩm bẩm bằng giọng xót xa.

 

- Mẹ nói rồi, con ở nhà, đừng có chạy ra ngoài.

 

- …

- Đau lắm không con?

 

Dì Sáu vừa nói vừa thổi thổi, xoa xoa những vết trầy xước trên chân, tay Mi. Bé Mi nói trong tiếng nấc.

 

- Con… con sợ.

 

Dì Sáu không giống như những bà mẹ bình thường. Người làng gọi Dì Sáu khùng. Dì Sáu khùng dễ thương. Dì không chửi mắng ai, không làm những chuyện phá làng phá xóm. Dì Sáu chỉ cười hề hề khi người ta chọc ghẹo mình.

 

Nhà dì Sáu đông anh em. Dì là thứ 6. Sau dì còn có cô bảy, chú tám… Ở quê dì Sáu, nhà nào cũng giàu có bởi con. Có nhà nọ còn sinh tới mười ba đứa con. Quan niệm người quê trời sinh trời dưỡng, cha mẹ sinh con trời sinh cỏ. Vậy nên người ta cứ đẻ và đẻ. Đẻ rồi nuôi, rất hồn nhiên. Tụi nhỏ khi đã biết lê la bò trườn rồi thì đứa lớn trông đứa nhỏ, nương nhau mà lớn lên. Cha mẹ suốt ngày quần quật ngoài đồng, chẳng còn thời gian ngó nghiêng đến tụi nhỏ.

 

Khi dì Sáu bước vào tuổi ba lăm, cha mẹ dì đã theo ông bà về nơi nghỉ ngơi vĩnh viễn. Anh em đông, nhưng phận ai nấy lo. Cuộc sống cơm áo gạo tiền đã đủ khó khăn rồi, cũng chẳng thể đèo bồng thêm được. Dì Sáu an phận, sống một mình trong căn nhà hương hoả cha mẹ để lại. Nói là nhà, thực ra nó chỉ hơn cái chòi một chút mà thôi. Hàng ngày dì Sáu sống bằng việc thu hoạch hai sào ruộng, rau tự trồng vườn nhà và tôm cá ngoài đồng. Những lúc rảnh rỗi dì đi vớt bèo bán cho những gia đình nuôi lợn. Mỗi thúng bèo được năm trăm đồng. Cuộc sống dì Sáu cứ êm đềm trôi qua từng ngày. Dì chẳng làm buồn lòng ai, cũng chẳng ai ganh ghét gây hấn gì với một người hoàn toàn vô hại. Vậy mà, mùa lụt năm đó…

 

Dì Sáu quằn quại giãy giụa trong tuyệt vọng. Gần như toàn thân dì cứng đờ vì cánh tay thép và đôi chân sắt đá kìm chặt lấy dì. Gã thúc mạnh. Dì cảm nhận nỗi đau như thấu tận óc. Nhưng dì không thể kêu. Hắn đã nhét thứ gì đó vào miệng dì. Dì muốn kêu lên. Dì muốn kêu thật to. Trời ơi, toàn thân dì rách toác. Tâm can dì rách toác. Dì chết đi.

 

Khi dì Sáu tỉnh dậy, nước lụt đã chuẩn bị qua mép giường. Toàn thân dì lạnh buốt, đau nhức rã rời. Dì run lên bần bật. Phải rất lâu, dì mới có thể lết ngồi dậy. Đau! Nhưng dì vẫn phải cố ngồi dậy. Không thể chết như thế này được. Dì phải chạy lụt. Dì phải dọn đồ lên tra. Không thể để lúa ướt hết. Không thể để nồi niêu xoong chảo trôi đi hết. Điện tắt tối thui. Không còn tìm ra đèn dầu nữa, chắc nó đã theo dòng nước trôi đi rồi. Dì Sáu lần mò trong quen thuộc. May quá, hôm qua thằng Bảy đã đóng hết thóc trong sập vào bao cho dì và để ở trên nóc. Nhưng giờ làm sao để đưa lên tra? Chân yếu tay mềm, một mình dì không thể làm gì được. Dì đành cố hết sức, nhích từng chút một, đưa cái bàn lên nóc sập. Lôi được mấy bao lúa xong, dì Sáu lại lần mò thu dọn đồ đạc vặt vãnh trong nhà. Dì gom từng cái rổ, cái rá, nồi niêu, bát đĩa, cả những cái sứt mẻ. Khi gom được hết những đồ đạc trôi lềnh bềnh trong nhà lên sập, trời đã hửng sáng. Dì Sáu ngồi thu lu trên chiếc ghế đặt trên giường. Lúc này dì mới nhớ ra từ chiều hôm qua lo soạn lụt dì vẫn chưa kịp ăn gì. Nồi cơm nấu trên bếp cũng hoà trong nước bạc. Dì Sáu đưa tay bốc nắm gạo sống, trệu trạo nhai. Dì vừa nhai, vừa khóc. Dì khóc không phải vì nỗi cực nhọc phải chạy lụt cả đêm. Người dân miền Trung quê dì đã quá quen với cảnh này rồi. Năm nào chả thế. Cứ vào mùa mưa thì thiên tai lại ập tới. May mắn thì hai ba năm mới bị ngập. Nhưng cũng có những năm chỉ trong vòng một hai tuần trận này chưa qua, trận khác lại ào tới. Người dân khổ miết cũng thành quen. Người dân khóc miết cũng tự lau nước mắt cho mình. Kêu trời hoài trời đâu có thấu. Quen. Đứa trẻ lên ba ở miền Trung cũng phải tập quen với lụt. Bản năng dạy người ta sống. Nên dù có ngờ nghệch khờ khạo, dì Sáu cũng biết cần phải tự cứu lấy cuộc sống của mình khi ông trời nổi giận. Nhưng lúc này dì Sáu đau. Tại sao dì không thể nào quên được những gì đã xảy ra đêm qua? Khi nước vào mấp mé sân, gã đến. Lúc đó trời đã lờ mờ tối. Dì đang lui cui với đống củi ướt, hì hụi thổi để nấu cho xong bữa cơm chiều. Trước giờ cha mẹ đã dạy phải no bụng để soạn lụt. Không còn gì thì cũng còn vại mít muối mặn ăn qua mùa lụt. Mấy hôm trời mưa suốt, củi ẩm quá, dì cứ chổng mông lên thổi. Đang chúi mặt vào bếp, dì Sáu giật thót người vì ai đó chạm vào mình. Quay lại chưa kịp nhìn mặt gã, dì ú ớ vì bàn tay hộ pháp của gã đã bịt miệng dì lại.

 

- Im… không được la lên, không là tao đánh chết.

 

Gã lôi dì vào chiếc giường ọp ẹp. Dì giãy giụa. Hai chân dì đạp liên hồi. Dì ú ớ. Vô ích. Gã kẹp hai chân dì bằng gọng kìm đầy lông lá.

 

Cổ họng dì ứ nghẹn. Nhúm gạo sống ngọt thơm mùi cám bỗng trở nên đắng nghét. Dì đau đớn. Toàn thân dì đau đớn. Dù không cảm nhận hết cái gọi là thiêng liêng quý giá nhất của người con gái đã mất đi bởi một gã khốn, dì vẫn cảm nhận sự đau đớn đến cùng cực. Dì khóc rống lên. Thế nhưng, nước mắt đã không còn có thể chạy được nữa. Chỉ có tiếng mưa ai oán thúc dòng nước lụt dâng cao.

 

Chín tháng sau bé Mi ra đời. Người làng săm soi dè bỉu xem con bé giống ai. Lạ thay, con bé biết thương mẹ, hay bà mụ thương mẹ nó mà tất cả những đường nét kháu khỉnh trên khuôn mặt nó đều không chỉ mặt đặt tên bất kì ai. Thế nhưng nhiều người tự dưng siêng năng qua lại với hai mẹ con không phải vì yêu thương. Dì mặc kệ. Hoặc dì cũng không đủ khôn ngoan để nhận biết điều đó. Dì cười khi con cười. Cả khi con khóc dì cũng thấy mình hạnh phúc. Hạnh phúc và bản năng của người phụ nữ dạy dì làm mẹ. Và dì là một người mẹ cực kì yêu con.

 

Nhưng cũng bắt đầu từ lần đó, dì sợ lụt. Mỗi năm cứ đến mùa lụt, dì lại như chết đi sống lại. Cơn động kinh bộc phát bất thường. Nỗi sợ hãi bao bọc lấy dì. Có những lần dì cứ ngồi như thế, ôm bé Mi, không hề biết nước sắp cuốn hai mẹ con.

 

***

 

An lấy cái chăn còn khô, choàng lên người dì Sáu. Vừa làm, An vừa canh chừng dì Sáu và ngó mực nước. Dì vẫn ngồi im trên giường, ôm khư khư con gấu bông của Mi. Nước thì vẫn đang lên dù ngoài trời mưa đã bớt. An không biết phải làm sao để thuyết phục dì qua nhà An. Dì không bao giờ chịu bỏ căn nhà để đi. An lôi chiếc điện thoại cùi bắp ra ngó. Pin còn hai nấc. Chắc chỉ ráng qua được vài tiếng nữa thôi. An bấm máy gọi điện cho ba nói con ở lại giúp dì Sáu, ba yên tâm. Ba An dặn đi dặn lại phải cẩn thận, không liều với ông trời được đâu.

 

An cúp máy, để dành pin điện thoại. Lạnh quá. Phải thu dọn đồ cho nhanh rồi lên giường ngồi thôi. Nói cho ba yên tâm chứ chưa biết tình hình sẽ thế nào. An ngồi lên chiếc giường ọp ẹp của dì, cởi chiếc quần dài đã ướt cho đỡ lạnh. Điện thoại sáng đèn. Là Mi.

 

Giọng Mi thảng thốt:

 

- Anh An, anh qua nhà xem mẹ thế nào giùm em? Em xem ti vi thấy nước lên cao lắm rồi. Em lo quá.

 

Nghe giọng Mi, tự dưng An thấy ấm áp lạ lùng. An cười nói với Mi:

 

- Mi yên tâm, anh đang ở bên nhà với dì. Anh vừa giúp dì dọn mọi thứ lên sập xong. Không sao hết đâu Mi.

 

- Nước vào tới đâu rồi anh?

- À… mấp mé ngoài cửa thôi, không sao.

 

Mi cúp máy rồi, An vẫn còn thấy ấm áp lắm. Mi đi học xa, mọi thứ ở nhà đều nhờ cậy vào An. An vui lắm. Chỉ cần Mi nghĩ tới An thôi, là đủ rồi. Mà mai này, lỡ Mi học xong ở lại thành phố luôn thì sao nhỉ? Mi có quên An không?

 

Mà kệ đi, còn lâu mà.

Không sao mà, đúng không dì?

 

An rọi đèn pin một vòng rồi bấm tắt. Vô tình An nhìn xoáy theo cánh bèo trôi. Có lẽ bèo từ chiếc thúng dì hay đi vớt còn vương lại. An ngồi sát vào dì Sáu, vỗ vỗ lên vai dì. Dì đã ngủ từ lúc nào. Anh chợt nghĩ, phận dì, phận Mi cũng mong manh như cánh bèo mùa lụt. Mắt An cay cay.

 

______

(*): Gác gỗ áp mái để trú lụt. Miền Trung gọi là tra.

 

>> Mong manh như gió

>> Sáo ơi về đâu?

>> Lệ đá

>> Mèo hoang

 

 

>> XEM TRUYỆN NGẮN TÁC GIẢ KHÁC...   

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.

  • Sat, 04/22/2017 - 01:32 — chienthy

    Tôi đã đọc 5 tác phẩm của nhà văn Phương Huyền trên NVTPHCM (Phận bèo, Mong manh như gió, Sáo ơi về đâu, Lệ đá, Mèo hoang), cả 5 câu chuyện đều gắn với những hoàn cảnh trớ trêu của kiếp người. Đó là người đàn bà bị XYZ trong mùa lũ nước ngập lai láng, và kết quả là một số phận khác được mặc định như bèo dạt mây trôi (Phận bèo), một tình yêu tưởng chừng thoảng bay nhưng nhiểu cung bậc cảm xúc (Mong manh như gió), một người đàn ông tật nguyền thổi sáo ngoài bến sông mang theo nỗi niềm Trương Chi (Sáo ơi về đâu?), Một mối tình ngang trái với những cảm xúc đau đớn (Lệ đá), Một tâm hồn vị tha chỉ cần một sự quan tâm rất nhỏ nhoi với mình là đã cảm thấy đủ đầy (Mèo hoang).
    Đối với cả 5 truyện ngắn này, phần mở và kết nói chung ổn, điều này cho thấy tác giả viết có định hướng chứ không bị cuốn đi theo bản năng. Với một tác giả truyện ngắn, việc không bị cuốn đi theo bản năng có điểm lợi và cũng có điểm hại. Lợi là không bị sa đà, còn hại là đôi khi câu chuyện sẽ giảm đi sự sinh động. Tôi cho là phần mở của những câu chuyện của Phương Huyền là tốt, bởi nó khắc họa ngay, giúp cho người đọc định hình tính cách nhân vật. Ví dụ, Lệ đá được mở đầu bằng câu: “Mẹ tôi bảo, năm tôi 4 tuổi, không bao giờ tôi đòi mua búp bê, hay váy, như những đứa con gái khác. Mỗi lần theo mẹ đi siêu thị, đi chợ, tôi chỉ nhìn ngắm những thứ đó một cách thèm thuồng”, thì đã mở ra cho người đọc ấn tượng về tính cách nhân vật mà tác giả nhằm tới. Hoặc việc tả chân trong khúc mở đầu và khúc kết ở Mèo hoang: “Căn nhà không có hoa, không có nắng và không có cả mùi hương vào mỗi sớm mai. Không một chiếc quần đùi của đàn ông, mùi cơ thể cũng không nhưng gạt tàn luôn đầy tàn thuốc…. Tôi muốn người khác phải nếm trải cảm giác mà mẹ con tôi đã trải qua. Cuối cùng, tôi đã đạt được mục đích. Vậy mà, sao lòng tôi lúc này lại như có sóng? Và càng đớn đau, khủng khiếp hơn khi tôi nhận ra rằng, nửa trái tim của tôi đã dành cho anh, người mà tôi gọi là anh rể tôi mất rồi”. Hoặc, đột ngột bằng một câu hỏi trong Mong manh như gió: “Ừ, tìm em để làm gì? Chẳng lẽ chỉ để nói chuyện cho vui?”
    Tôi có cảm nhận tác giả những câu chuyện này có một vốn sống khá thú vị, bởi để viết những câu chuyện về thân phận người thì dù ít hay nhiều đều có sự trải nghiệm nào đó. Ngôn ngữ và không khí truyện cũng khá tốt, thậm chí đôi lúc dẫn dụ người đọc vào trạng thái ma mị, ví dụ như trong Sáo ơi về đâu. Mặc dù có những ưu điểm như vậy, truyện ngắn Phương Huyền nên chăng có thể cải thiện việc dẫn dắt câu chuyện, lựa chọn chi tiết để tránh làm sao lãng tâm trí người đọc, khiến cho người đọc phải ám ảnh. Việc sử dụng thơ cũng vậy, phải gắn với câu truyện. Thơ ở trong phần kết của Mong manh như gió hơi bị lạc, vô tình đã làm loãng đi sự hồi hộp “nếu có em ở đây, ngay lúc này, anh sẽ mặc kệ, anh chỉ muốn hòa tan vào em để quên hết mọi thứ…Giọng anh đứt quãng, hòa vào trong gió, mong manh…” của chính truyện ngắn này! Cao Chiến