Tin mới Xem thêm

  • Bạn đọc và người viết trẻ cùng đi tìm thần...

    Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần 4 khai mạc sáng 21-6 quy tụ hơn 70 cây bút, với nội dung chính là tọa đàm 'Sứ mệnh văn chương trẻ trước sự đổi mới cuộc sống' nhận được nhiều ý kiến của những người trong cuộc...

  • La Mai Thi Gia hạnh phúc với văn chương

    Hội nghị Những người viết văn trẻ TPHCM lần thứ IV do Hội Nhà văn TPHCM tổ chức diễn ra trong 3 ngày (từ 21-23.6.2017) tại TP.HCM

  • Viết cho những người nghèo

    Càng lớn lên cùng công việc viết lách, tôi bắt đầu đặt cho mình một câu hỏi: “Mình viết để làm gì?”. “Để chia phần trên mảnh đất chữ nghĩa, hay dùng chữ nghĩa để phục vụ?” Tôi tỉnh ngộ khi nhận ra rằng được ơn viết lách, là cách cuộc đời cho chúng ta thêm sức lực, thêm cánh tay để đóng góp lại cho cuộc đời.

  • Đoàn Thị Diễm Thuyên - Tình như chiếc gương...

    Tôi bảo em trong trẻo quá. - Nếu vậy thì thầy đừng làm cho em vẩn đục, dù chỉ là một hạt bụi! Em nói và cười rất vô tư, sự vô tư như vết cắt

  • Phùng Hiệu giây phút được... dại khờ

    Nhà thơ trẻ Phùng Hiệu tốt nghiệp Khoa Mỹ thuật công nghiệp Trường đại học Mỹ thuật TP.HCM, tác giả 3 tập thơ Tình không dám ngỏ

  • Hồ Thuý An nước mắt ướt đẫm nụ cười

    Quán cũ cạnh bờ sông/ Hào sảng gió, dư dả trăng, và sóng./ Mái lá xạc xào/ Trời cao lồng lộng/ Quán ngả nghiêng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Dọc đường văn học

Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận Hồ Chí Minh

19.5.2017-09:45

 Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Nghệ thuật tuyên truyền

trong văn chính luận Hồ Chí Minh

 

PHẠM THỊ NHƯ THUÝ

 

NVTPHCM- Bài viết đi sâu tìm hiểu nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Hồ Chí Minh, chỉ ra sự thống nhất cao độ giữa các phương diện cấu thành văn bản, từ nội dung tới hình thức, từ tinh thần dân chủ tới sự quan tâm tới đối tượng được tuyên truyền, từ việc nắm bắt cốt lõi của vấn đề đến việc chọn hình thức diễn đạt ngắn gọn, súc tích... Bài viết cũng tập trung phân tích những nét nổi bật của mảng văn chính luận đề cập các vấn đề giáo dục - mảng trước tác vốn thể hiện mối quan tâm lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tiền đồ của đất nước, về các thế hệ tương lai.

 

1. Đặt vấn đề

 

Trong sự nghiệp văn chương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn chính luận có vai trò to lớn trong việc nắm bắt hiện thực cuộc sống và thể hiện những nội dung xã hội quan trọng, có liên quan đến vận mệnh dân tộc và số phận của mỗi con người Việt Nam trong từng thời điểm lịch sử cụ thể. Qua văn chính luận, tình cảm nhân đạo và tầm vóc, phong cách nghệ thuật tuyên truyền của nhà cách mạng, nhà văn xuất sắc Hồ Chí Minh hiện lên thật rõ nét.

 

Văn chính luận của Hồ Chí Minh rất độc đáo, đa dạng về bút pháp, giàu hình ảnh, đa giọng điệu, ngôn từ ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, luận điểm, luận cứ thuyết phục, giàu tính luận chiến, dù đó là các bức thư, lời kêu gọi chiến sỹ, đồng bào hay các bài báo, tiểu phẩm…

 

Khảo sát bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập) gồm 1.513 tác phẩm viết từ 1910 đến 10.5.1969, có thể nhận thấy: trong 50 năm viết báo, viết văn, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã viết 228 bài văn chính luận hướng về đồng bào cả nước nói chung, 129 bài cho ngành giáo dục (34 bài cho giáo dục phổ thông và đại học, 94 bài cho giáo dục đào tạo và dạy nghề).

 

Với bài viết này, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu về nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Hồ Chí Minh, chỉ rõ sự nhất quán về tư tưởng, sự mềm dẻo, linh hoạt trong cách viết hướng tới các đối tượng khác nhau. Do văn chính luận Hồ Chí Minh chiếm một vị trí đặc biệt trong chương trình môn văn ở các cấp phổ thông và đại học, bài viết vì thế cũng mong muốn tìm hiểu sâu hơn thể văn chính luận của Hồ Chí Minh, nhằm đóng góp một phần vào công tác giảng dạy văn chính luận trong nhà trường.

 

2. Khái quát những nét nổi bật của nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận Hồ Chí Minh

 

2.1. Trước hết phải nói tới quan niệm của Hồ Chí Minh về tuyên truyền, nhất là tuyên truyền bằng hình thức văn học. Bác là nhà tuyên truyền lớn của Đảng ta, là tấm gương mẫu mực về công tác tuyên truyền. Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đến công tác tuyên truyền. Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”[1]. Phương pháp tuyên truyền của Hồ Chí Minh là sự tổng hợp những cách thức, là khoa học và nghệ thuật mà Người đã tiếp thu, kế thừa, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, để giải thích, chứng minh, cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

 

Mục đích và phương pháp tuyên truyền ấy thể hiện rất rõ trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) – một lời hịch của non sông, thể hiện ý thức sâu sắc về giá trị của độc lập tự do và niềm tin vững chắc về con đường cách mạng mà toàn dân ta đã lựa chọn.

 

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

 

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa!

 

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

 

Hỡi đồng bào,

 

Chúng ta phải đứng lên!

 

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu tổ quốc, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

 

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm”. 

                                             

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tuyên truyền giàu kinh nghiệm, Người đã vận dụng nhiều phương pháp tuyên truyền khác nhau một cách sáng tạo và hiệu quả, trong đó văn chính luận là một phương tiện hữu hiệu phục vụ thiết thực cho sự nghiệp cách mạng.

 

Toàn văn Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến của Bác nhanh chóng thấm vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”

 

2.2. Văn chính luận của Hồ Chí Minh có một đặc trưng nổi bật là ngắn gọn, súc tích. Chính sự ngắn gọn, súc tích này hỗ trợ đắc lực cho công tác tuyên truyền. Theo Người, nội dung ngắn gọn có nghĩa là “Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt. Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi mà phải có đầu, có đuôi, có nội dung… Nói ít nhưng nói cho thấm thía, nói cho chắc chắn thì quần chúng thích hơn”[2]. Ngắn gọn trong cách nói, cách viết theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về mặt nội dung thì phải cô đọng, hàm súc, ý nhiều lời ít, không có lời thừa, ý thừa, chữ thừa, mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, có một mục đích, không phải rỗng tuếch. Tuy nhiên, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, không phải nhất thiết cái gì cũng ngắn mới tốt, mà mục đích của việc nói ngắn, viết ngắn là để chữa cái bệnh “nói dài, viết rỗng”, tức là tùy thuộc điều kiện hoàn cảnh, đối tượng cụ thể quy định nói, viết ngắn hay dài, nhưng phải có nội dung. Mỗi câu, mỗi chữ phải chứa một ý nghĩa, mang một nội dung nhất định, không dư thừa; nói đúng tư tưởng, phản ánh đúng nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Trong bài nói tại hội nghị tuyên giáo miền núi, Bác đã nói: “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? đó là những vấn đề các chú phải tự hỏi, tự trả lời. Chứ không phải chờ trên gửi tài liệu xuống, rồi theo một, hai, ba, bốn mà làm”[3]. Lời dạy sâu sắc về sự linh hoạt trong phong cách nghệ thuật tuyên truyền của Hồ Chí Minh.

 

Sự ngắn gọn về mặt dung lượng của văn bản gắn bó một cách hữu cơ với sự dễ hiểu mà Hồ Chí Minh luôn muốn hướng tới. Tính dễ hiểu theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: "...muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem..."[4]. Người cho rằng, tuyên truyền bằng ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết thì mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, một mục đích. Người tuyên truyền khi nói ra, khi viết ra cốt là “để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng”[5]. Nếu cán bộ tuyên truyền khi nói, viết “người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là không viết đúng, nhằm không đúng mục đích”.[6]

 

Theo Hồ Chí Minh, không có cách nào làm cho nhân dân hiểu nhanh nội dung tuyên truyền bằng cách so sánh giữa hình tượng này với hình tượng khác. Người căn dặn cán bộ tuyên truyền: “Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh... Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa thành cách chỉ đạo nhân dân”.[7]

 

 Những năm đầu, khi ra nước ngoài tìm đường cứu nước chứng kiến cảnh lầm than của quê hương đất nước và người lao động cùng khổ trên thế giới bị giày xéo áp bức của chủ nghĩa thực dân Người đã dùng những thuật ngữ gần gũi nhất, phản ánh rõ bản chất của vấn đề “người An nam”, “người bản xứ bị bóc lột”, “người dân mất nước”, “người da đen”, “người cùng khổ” đối với những người này “phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ” họ. Khi về nước lãnh đạo nhân dân dành chính quyền cách mạng Bác lại dùng những khái niệm “đồng bào”, “quốc dân”, “công nhân”, “nông dân”, “tri thức”, “lao động chân tay”, “lao động trí óc”, “con Lạc”, “cháu Hồng”, “con Rồng”, “cháu Tiên”. Mỗi từ ngữ mà Hồ Chí Minh sử dụng trong cách nói hoặc cách viết đều gắn liền với một giai cấp tầng lớp, một nhóm người nhất định trong xã hội và đều giải thích cặn kẽ vị thế trách nhiệm của họ với xã hội, đồng thời luôn nhắc nhở căn dặn họ từ vị thế, trách nhiệm ấy mà làm tròn bổn phận của mình với xã hội, với quê hương đất nước.

 

Với mục đích cao nhất là diễn đạt nội dung tuyên truyền một cách thực sự dễ hiểu, dễ thực hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng linh hoạt, uyển chuyển, đa đạng, phong phú các hình thức tuyên truyền. Chẳng hạn, khi sử dụng phương pháp tuyên truyền bằng lời nói trực tiếp, Hồ Chí Minh đã dùng những hình thức như: lên lớp, diễn giảng, giải thích, nói chuyện, kể chuyện, hướng dẫn, mạn đàm, trao đổi, thảo luận... Khi sử dụng phương pháp tuyên truyền bằng ngôn ngữ viết, Hồ Chí Minh dùng các hình thức như: viết văn chính luận, viết thư khen, thư thăm hỏi và lời kêu gọi... tất cả đều mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác giáo dục, tuyên truyền đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam.

 

2.3. Tinh thần dân chủ là một trong những điểm làm nên sức hấp dẫn, thuyết phục của văn chính luận Hồ Chí Minh. Quan điểm của Bác về thực hiện dân chủ trong nghệ thuật tuyên truyền là: “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng... Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”[8]. Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ, nghe dân, học dân, trao đổi thảo luận với dân nhưng không phải nhân dân nói gì cũng nhắm mắt làm theo, mà phải: “Đem các ý kiến khác nhau để so sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng”[9]. Tính dân chủ trong nghệ thuật tuyên truyền của Hồ Chí Minh được biểu hiện trong toàn bộ hoạt động tuyên truyền của Người. Khi xây dựng chương trình huấn luyện: “Bác phân công mỗi người làm từng mục: tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh. Khi mỗi người phác thảo xong, tất cả họp lại thông qua đề cương, rồi mới viết. Viết xong lại họp lại, đọc chung và sửa. Cách làm việc của Bác kiên nhẫn, chu đáo”[10]. Đây là cách làm việc hết sức dân chủ của Người, không phân biệt cấp bậc, chức vụ cao hay thấp mà hướng vào việc sửa chữa những sai xót cá nhân, nhằm đạt mục đích chung của tập thể.

 

Nghiên cứu nghệ thuật tuyên truyền Hồ Chí Minh chúng ta dễ dàng nhận thấy những vấn đề mà Người khêu gợi đã tác động sâu sắc tới tất cả mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội. Những câu hỏi mà Người đặt ra bao giờ cũng phù hợp với sự băn khoăn, thắc mắc mà trong thực tế nhân dân đang tìm lời giải đáp và hướng dẫn nhân dân hành động theo đường lối của Đảng.

 

2.4. Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chú ý đến đặc điểm của đối tượng được tuyên truyền khi lựa chọn một hình thức tổ chức văn bản phù hợp. Người cho rằng: “Dân ở đó sinh hoạt thế nào, ta cũng phải sinh hoạt như họ. Nếu dân dậy sớm mà mình ngủ trưa, dân đang làm việc mà mình nằm ngủ lì, thì sẽ bị dân ghét và ảnh hưởng xấu đến việc tuyên truyền. Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội”[11]. Theo Hồ Chí Minh, để đạt hiệu quả tuyên truyền, cán bộ tuyên truyền cần nắm vững đối tượng và phân loại đối tượng. Người chỉ rõ: “Dân chúng không nhất luận như nhau, trong dân chúng cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp lừng chừng, có lớp lạc hậu”[12] và “bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn”[13]. Vì vậy, cán bộ tuyên truyền không thể sử dụng một nội dung, một phương pháp cho mọi đối tượng.

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, nghệ thuật tuyên truyền của Hồ Chí Minh nói riêng là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, là kim chỉ nam cho cán bộ làm công tác tuyên giáo các cấp. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác vừa góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vừa là việc làm thiết thực trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

 

Văn phong Chính luận của Hồ Chí Minh đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật tuyên truyền trong quá trình đấu tranh cách mạng. Người yêu cầu:

 

Với tư cách một người cách mạng, Hồ Chí Minh đòi hỏi: “Tự mình phải: Cần, kiệm. Hoà mà không tư… Không hiếu danh không kiêu ngạo… Giữ chủ nghĩa cho vững… ít lòng ham muốn về vật chất. Đối với người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm… Làm việc phải: xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”.[19]

 

Với lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh nói: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, vì độc lập tự do của Tổ quốc và vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau”[20]

 

Với giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh nói: “Công nhân phải hiểu mình là chủ xí nghiệp, hiểu lao động là vẻ vang, phải giữ gìn của công, chống tham ô lãng phí, phải bảo vệ kỷ luật lao động, phải thi đua làm tốt, nhiều, mau, rẻ. Cải thiện sinh hoạt phải dựa trên cơ sở tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”[21]

 

Với tri thức, Hồ Chí Minh nói: “Các bạn là bậc trí thức, các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang, là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới tri thức phải hy sinh đấu tranh, dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân”[22]

 

Với Thanh niên, trong bài nói chuyện tại lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, ngày 25/3/1966, Hồ Chí Minh nói: “Thanh niên ta có cố gắng, có tiến bộ và có thành tích. Nhưng chớ vì thế mà tự cao, tự đại; phải khiêm tốn, phải luôn luôn cố gắng hơn nữa, vượt mọi khó khăn, để giành lấy thành tích nhiều hơn và to lớn hơn. Cần phải: nâng cao chí khí anh hùng cách mạng nắm vững khoa học, kỹ thuật; ra sức học tập và sáng tạo, thực hiện cần cù và tiết kiệm; đoàn kết chặt chẽ, thươngyêu giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ không ngừng.”[23]

 

Với Giáo viên, trong buổi nói chuyện tại lớp học chính trị của giáo viên năm 1959, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hoá, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức... Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”[24]

 

Đối với thầy cô giáo, học sinh, sinh viên, Hồ Chí Minh còn viết thư gửi và căn dặn: “Thầy và trò phải luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công, nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”[25]

 

Với đội ngũ Y tá, Bác sĩ, trong Thư gửi nam nữ học viên trường Y tá Liên khu I, tháng 2 năm 1949, Hồ Chí Minh viết: “Việc giữ gìn và bồi dưỡng sức khoẻ của dân tộc, người y tá phải gánh một phần quan trọng. Vì vậy, y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi. Những chiến sĩ y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó. Phải giàu lòng bác ái hy sinh”[26]

 

Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Hồ Chí Minh nhắc nhở rằng: “Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi, đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khoẻ của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”[27]

 

Với Công an nhân dân, Hồ Chí Minh nêu 6 điều về tư cách người công an: “1. Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. 2. Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ. 3. Đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành. 4. Đối với nhân dân, phải kính trọng lễ phép. 5. Đối với công việc, phải tận tuỵ. 6. Đối với địch phải kiên quyết, khôn khéo. Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng”[28]

 

Với các cháu thiếu niên, nhi đồng, Hồ Chí Minh đề ra 5 tiêu chuẩn: 1. Phải siêng năng học, 2. Phải giữ sạch sẽ, 3. Phải giữ kỷ luật, 4. Phải làm theo đời sống mới, 5. Phải thương yêu giúp đỡ cha mẹ, anh em

Với Phụ lão, trong bài nói chuyện với cán bộ đảng viên hoạt động lâu năm, ngày 9/12/1961, Hồ Chí Minh đã nói: Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi ở Đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa”[29]

 

Với Phụ nữ, tại Đại hội Phụ nữ Toàn quốc lần thứ III, ngày 9/3/1961, Hồ Chí Minh đã nói: “Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng, Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà, phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới, để làm tròn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”[30]

 

Văn chính luận của Hồ Chí Minh được vận dụng trong công tác tuyên truyền tạo dựng lên một khối thống nhất quy tụ được tất cả mọi tầng lớp nhân dân về phía cách mạng, không phân biệt tôn giáo vùng miền. Tuỳ theo từng đối tượng mà Hồ Chí Minh đề ra những yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể để họ đều có thể phấn đấu trở thành con người có ích cho xã hội. Hồ Chí Minh đã khơi dậy ở họ niềm tin, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đã giúp họ nhận thấy mình không chỉ có quyền mà còn phải có nghĩa vụ với sự nghiệp chung của đất nước với tư cách là một người chủ thật sự của xã hội mới.

 

3. Về những bức thư gửi cho ngành giáo dục của Hồ Chí Minh

 

3.1. Về cơ bản, những quan điểm, tư tưởng về giáo dục của Hồ Chí Minh được hình thành trong cả một quá trình dài đấu tranh cách mạng. Tư tưởng này không chỉ thể hiện mục tiêu, lí tưởng cách mạng, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng ta mà còn là nguyện vọng ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo. Theo Hồ Chí Minh mọi người dân đều phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và văn hóa của dân tộc Việt Nam. Do đó, cần phải tổ chức và thức tỉnh hàng chục triệu nông dân, phải thức tỉnh và tổ chức toàn thể giai cấp công nhân, có như vậy mới tạo ra sức mạnh to lớn để có thể làm cách mạng thành công. Theo Hồ Chí Minh, Đảng cách mạng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền, bồi dưỡng con người về trí tuệ, về nhân cách, đạo đức là điều quan trọng, có ý nghĩa hàng đầu xuyên suốt sự nghiệp cách mạng.

 

3.2. Hồ Chí Minh cho rằng: “Dốt thì dại, dại thì hèn” và “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Vì vậy, nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo là đưa con người đạt đến những giá trị phù hợp với đặc điểm văn hoá và những yêu cầu mới đặt ra đối với con người Việt Nam. Để thực hiện quá trình đổi mới, con người mới phải thực sự quan tâm đến giáo dục. “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” đã trở thành tư tưởng chủ đạo xuyên suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, với Hồ Chí Minh, sự nghiệp “trồng người”, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”, “công việc đối với con người”… là “những việc làm rất quan trọng”, “rất cần thiết” và phải được coi là “công việc đầu tiên” đối với một Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo cách mạng, vì văn hóa, trí tuệ là động lực cực kỳ to lớn đối với mỗi con người cũng như đối với một dân tộc. Chỉ có dựa trên một nền văn hóa trí tuệ, con người mới thực sự phát huy những phẩm chất, năng lực một cách có hiệu quả dựa trên nhận thức và hành động theo quy luật khách quan. Hồ Chí Minh đã coi “giặc dốt” cũng nguy hiểm như “giặc ngoại xâm”, đặt lên vấn đề hàng đầu “diệt giặc dốt”. Thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ vào tháng 5/1946 đánh giá rất cao về giáo dục và đào tạo, vai trò của người thầy giáo. Người viết: “Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”;... “để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho đân tộc”;...“cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng”[14]. Bằng lối so sánh đầy hình tượng, Người đã chỉ ra cho ngành giáo dục thấy được vai trò trách nhiệm của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước. Nhiệm vụ “trồng người” quan trọng thì vai trò của “người trồng” càng quan trọng, do đó giáo dục và đào tạo là một chiến lược cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

Trong các năm 1960 và 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong bài nói chuyện với cán bộ nhà trường, Bác đã nhấn mạnh đến vai trò của người thầy giáo: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều vẻ vang. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? vì vậy nghề thầy giáo là rất quan trọng, rất là vẻ vang” [15] Khi nói chuyện hay giao việc cho đội ngũ trí thức, Hồ Chí Minh chọn cách nói gợi mở, có chiều sâu lý luận: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất”. Khi chỉ ra mặt tích cực và hạn chế, nguyên nhân, bản chất của vấn đề, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự chứng tỏ là nhà tư tưởng uyên bác, là người có một năng lực văn chương hiếm có.

 

3.3. Văn chính luận của Hồ Chí Minh thể hiện sự am hiểu sâu sắc về các đối tượng phải thuyết phục, tuyên truyền. Đây chính là nét đặc sắc, điểm nổi bật trong tư tưởng của Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam. Với đối tượng là dân chúng của một nước thuộc địa, nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí thấp, cần đưa ra những khái niệm cụ thể, đi từ cái cụ thể nhất, gần giũ nhất mà bất cứ ai cũng có thể nhận ra để dẫn đến cái rộng hơn. Nếu bắt đầu từ những điều rộng lớn, lý luận cao siêu khó đi vào lòng nhân dân. Chính vì vậy, văn phong chính luận của Hồ Chí Minh phát triển một cách phong phú sáng tạo và cụ thể.

 

Sự thuyết phục từ những trang viết của Người thể hiện ở chiều sâu bình luận, phân tích, xoáy sâu vào từng sự việc, hiện tượng với chứng cứ, luận cứ sắc sảo trên lập trường, quan điểm nhân đạo chủ nghĩa cao cả. Trong bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu Chính trị khóa II trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết: “Trong xã hội có Thiện và cũng có Ác. Theo nghĩa rộng thì cả thế giới và trong một nước đều có Thiện và có Ác. Theo nghĩa hẹp thì trong bản thân và tư tưởng của mỗi người cũng có Thiện và có Ác”. Hồ Chí Minh giải thích thế nào là Thiện, thế nào là Ác: “Thiện nghĩa là tốt đẹp vẻ vang. Trong xã hội không có gì tốt đẹp vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân”. Ngược lại: “Tư bản, đế quốc và phong kiến chỉ lo bóc lột nhân dân, thậm chí gây chiến tranh giết hại nhân dân, làm lợi cho một nhóm ít người. Thế là Ác” [16]. Thiện và Ác trong mỗi con người được bộc lộ khi: “Mỗi một người chúng ta, nếu hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thế là Thiện. Nếu chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không lo đến lợi ích chung của nước nhà, của dân tộc thế là Ác. Thực hành chí công vô tư, cần kiệm liêm chính, thế làThiện. Nếu phạm phải quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lười biếng, thế là Ác” [17].

 

Trong bài diễn văn khai mạc Lớp học lý luận khoá I trường Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh có nói: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có áp bức, bóc lột… chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”[18].

 

Đó cũng là tư tưởng chủ đạo trong suốt cuộc đời làm cách mạng của Hồ Chí Minh về một nền giáo dục mới sẽ đào tạo ra một lớp người mới được phát triển toàn diện về mọi mặt, con người có tinh thần làm chủ, có tri thức văn hóa và khoa học, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công vô tư”, có mục đích và lối sống cao đẹp, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có niềm tin và lạc quan cách mạng, có trí tuệ, trình độ học vấn cao; con người có sức khoẻ, có lòng khoan dung, độ lượng. Có tinh thần và năng lực làm chủ; có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; có kiến thức khoa học – kỹ thuật, nhạy bén với cái mới; có tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, là con người có đức và có tài, vừa hồng, vừa chuyên.

 

Những phẩm chất đó được Hồ Chí Minh khái quát thành nội dung chủ đạo đối với công tác giáo dục và đào tạo đòi hỏi ngành giáo dục phải có chiến lược “trồng người”, phải bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau và sâu xa hơn là vì lợi ích của mỗi con người cần phải hoàn thiện mình để đạt tới chân - thiện - mỹ. Đó là nét đặc sắc nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đặt con người ở vị trí trung tâm, nhưng không nêu một mẫu người chung chung cho tất cả mọi người mà nêu lên những chuẩn mực đạo đức đối với hầu hết các tầng lớp nhân dân; từ các cụ phụ lão đến các cháu, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng; từ sinh viên, đến công nhân, nông dân, phụ nữ, từ người cán bộ đảng viên đến các chiến sĩ công an, quân đội; đối với từng ngành; từng giới, v.v… với những chuẩn mực đạo đức cách mạng và nội dung để đào tạo và xây dựng con người mới mà mỗi người ở vị trí riêng của mình thông qua đó mà thực hiện.

 

4. Kết luận

 

Văn chính luận Hồ Chí Minh luôn đề cao sức mạnh vô tận của nhân dân, sự bùng nổ của ý chí cách mạng, sự sáng suốt đạo đức. Hồ Chí Minh luôn tin yêu và hy vọng ở con người, vượt cả giới hạn của một quốc gia để vươn lên tầm quốc tế vô sản rộng lớn. Tính nhân đạo, nhân văn trong văn chính luận Hồ Chí Minh bao giờ cũng mang giá trị kép: vừa tố cáo kẻ thù vừa bênh vực cho những người cùng khổ; vừa mang tư tưởng tiên phong của thời đại vừa dự báo về qui luật diệt vong của cái phi lý; vừa nói lên chân lý của điều thiện và sự thất bại của cái ác.

 

Hồ Chí Minh thực sự là người đặt và khai sáng vấn đề có tính cấp thiết của thời đại là đấu tranh cách mạng không chỉ bằng vũ lực mà còn bằng cả vũ khí tư tưởng, thông qua văn học nghệ thuật. Qua đó, càng chứng tỏ Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại, nhà tư tưởng tinh anh và là nhà báo, nhà văn tài năng. Tất cả những phẩm chất ấy được hòa quyện trong tư cách nhà chính trị, nhà lãnh đạo kiệt xuất đã nâng tầm vóc vị thế của Người lên bậc vĩ nhân của thời đại suốt đời vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng quốc tế cao cả. Tính nhân đạo là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm văn chính luận và các loại hình nghệ thuật khác của Người.

 

Văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là tổng hòa nhận thức được tác giả nhào nặn lại trong mục tiêu và ý đồ sáng rõ, dựa trên chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo cao cả nên rất dân chủ và triệt để cách mạng. Những câu hỏi được đặt ra trong mọi hoạt động, văn chương của Người không ngoài các nguyên lý mà Người đặt ra và thể hiện nhất quán từ trước đến sau, đó là Viết cái gì? (đối tượng phản ánh); Viết cho ai? (đối tượng tiếp nhận); Viết để làm gì? (mục tiêu phản ánh); Viết như thế nào? (phương thức biểu đạt). Chính vì thế mà từ trong bản chất, Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hòa, cao đẹp mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ, để tạo ra những tác phẩm có giá trị, đem lại cho người đọc hôm nay và về sau những rung cảm sâu xa và nhận thức lớn lao với một tinh thần nhân đạo.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

1- Võ Nguyên Giáp (1997), Những chặng đường lịch sử, tr.40. Nxb.Văn học, Hà Nội.

2- Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 11, tr.329-332, tr.350, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3- Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4, tr 329. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4- Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5 tr. 276, tr. 277, tr 381,tr. 567, tr. 406 -407. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5- Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 8 tr.132, tr.298. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6- Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 2 tr. 260. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7- Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 12 tr. 66, tr. 403, tr. 283 – 284. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8- Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 9 tr.492. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9- Hồ Chí Minh (1995): Toàn tập, tập 10 tr. 463, tr. 296. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10- Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, tr.162. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

11- Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, tr. 295-298, 297, 297, 400, 296, 289. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

12- Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 7, tr.120-121, 119, 117, 119. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

13- Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số (2007), tr.97. Nxb.Thông tấn, Hà Nội.   

 

 

>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC... 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.