Tin mới Xem thêm

  • Tiểu thuyết Mỹ nhân nơi đồng cỏ của Lê Hoài...

    Bằng cách phản ánh thông qua cái đẹp, tiểu thuyết "Mỹ nhân nơi đồng cỏ" (NXB Hội Nhà văn, 2017) của nhà văn Lê Hoài Nam đã làm sống lại

  • Nguyễn Quang Thân & Chàng thi nhân đầu...

    Nguyễn bước ra khỏi bóng những tán cây. Nhiều năm sau, khi đặt bút viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thêm một dòng lạc thảo đề tặng Xuân Hương

  • Bình Địa Mộc cánh chim bạt gió tung tăng

    nghĩ về quả tên lửa được Triều Tiên phóng đi/ có thể đã bay qua/ giấc mơ vượt lên chính mình của người khuyết tật

  • Sức sáng tạo và cá tính văn chương Đồng bằng...

    Văn chương đòi hỏi người viết phải sống chết với nó để nảy ra cá tính. Không có cá tính, không bay cao ý tưởng thì coi như chẳng thể tồn tại một thể loại văn chương đích thực. Văn chương dường như không còn chỗ dung thân ở Đồng bằng sông Cửu Long...

  • Không có trường phái viết văn Nguyễn Du!

    Mới đây, nhà văn - PGS. TS Văn Giá cho tôi biết, anh và một số nhà văn đang đề nghị cấp trên cho lấy lại tên ngôi trường xưa vì thực chất cho đến

  • Quà trung thu từ một trại viết ở rừng Mã Đà

    Nhằm tạo hứng khởi sáng tác và tìm vùng đề tài mới cho các nhà văn, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã ký kết văn bản hơp tác với Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hoá Đồng Nai thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai. Tính đến nay Hội đã tổ chức được 3 trại sáng tác tại khu bảo tồn này. Sau khi tham gia trại, nhiều trại viên đã có sách được xuất bản.

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tin văn

Nguyễn Đức Mậu & cánh rừng nhiều đom đóm bay

30.8.2017-09:45

>> Quả chuông nằm yên lặng trên đồi

 >> Người viết những câu thơ trận mạc

 

 

CÁNH RỪNG NHIỀU ĐOM ĐÓM BAY

 

Đêm. Đơn vị dừng chân trong sâu hút cánh rừng. Có giếng nước ai đào dưới lòng suối cạn? Múc nước lên, chúng tôi uống trong cơn khát cháy khô vòm họng. Nước ngọt mát râm ran cơ thể cỗi cằn. Chúng tôi biết đâu trong lòng giếng có xác người chết. Đêm mịt mùng, cánh rừng nhiều đom đóm bay, những sợi mỏng chập chờn như ảo giác.

 

Tôi rời võng, khoác súng vào phiên gác. Khi bước giữa hàng cây tối đen, tôi vấp phải vật gì mềm nhũn, một mùi tanh lườm lượm xông lên. Có lẽ xác một con hoẵng trúng bom? Tôi mệt mỏi nghĩ thầm. Hết phiên gác, tôi ngủ vùi trong võng. Đom đóm rơi đầy giấc mơ của lính. Tôi đang ngủ, đang mơ, tôi nào hay bên những gốc cây bầy mối đọc mòn đêm trên những xác người?

 

Sáng. Tổ anh nuôi múc nước nấu cơm và hoảng hốt nhận ra xác hai cô gái. Tiểu đội tôi sục vào các hốc đá, lùm cây, tìm thấy xác ba chàng trai nữa. Chúng tôi đắp năm ngôi mộ không ngày sinh, ngày mất, không họ tên, không địa chỉ thôn làng. Nhìn những cuộn dây điện, những chiếc máy bộ đàm im lặng. Chúng tôi đoán họ là lính thông tin bị giặc chặn đường.

 

Chiến tranh lùi xa, con đường mòn Trường Sơn bao giờ tôi trở lại? Đâu cái giếng nước hòa máu người tôi uống trong cơn khát, gốc cây rào rào bầy mối đục mòn đêm. Đâu năm ngôi mộ vô danh đắp bằng nỗi đau, nước mắt. Nơi cánh rừng nhiều đom đóm bay.

 

 

BẢY VẦNG TRĂNG KHUYẾT

 

Binh trạm Trường Sơn năm Sáu chín 
Có bảy người con gái trúng bom 
Đám tang họ không ai đưa tiễn 
Giữa rừng chiều ngổn ngang núi non

 

Những khuôn mặt lấm lem không bàn tay vuốt mắt 
Bảy chàng trai của các cô đâu? 
Bảy chàng trai năm chiến tranh khốc liệt 
Sao biết được người yêu mình đã chết? 

 

Không tiếng mẹ gọi tên con khản giọng 
Tên các cô lạc vào hoa, hoa cũng nát nhàu 
Da thịt các cô lẫn vào da thịt đất 
Người chết và người chết tiễn đưa nhau 

 

Bảy chàng trai là ai, ai biết? 
Nhưng chắc hẳn là có bảy chàng trai 
Nếu không chiến tranh, họ đã thành đôi lứa
Như bao lứa đôi hạnh phúc trên đời 

 

Bảy cô gái, bảy vùng quê xa lắm 
Hố bom vùi hoá nấm mồ chung 
Các cô chết giữa vùng đất chết 
Cành cây cháy đen như bàn tay chới với của rừng 

 

Những lá thư tình, những manh áo mới 
Bảy cô gái chết rồi chẳng kịp mang đi 
Chết tuổi đang yêu, chết còn quá trẻ 
Tuổi mộng mơ không kịp trối trăn gì 

 

Đám tang vắng bảy chàng trai ấy 
Vắng trắng hoa rừng, vắng nước mắt ngày ngâu 
Bảy cuộc chiến tranh, bảy vầng trăng khuyết 
Một nấm mồ chìm khuất giữa rừng sâu ...

 

 

NGƯỜI NGỒI TRƯỚC MỘ MÌNH

 

Sau bốn mươi năm báo tử. Ông về 
Thấy ảnh mình trên bàn thờ 
Thấy ảnh mình trên bia mộ 
Có phải ông một thời trai trẻ 
Phải ông người trong ảnh ngày xưa? 

 

Bốn mưoi năm 
Mẹ cha ông lúc xuôi tay nhắm mắt 
Mong nằm cạnh con mình 
Mộ ông: chiếc tiểu sành không hài cốt 

 

Ông trở về trước mộ cha, cúi mặt 
Trước mộ mẹ khấn thầm 
Hình hài vẹo xiêu 
Tuổi chiều nắng tắt 

 

Nấm mộ ông đắp bằng nước mắt 
Hương khói tỏ mờ mỗi đận thanh minh 
Trước bia đá cỏ xanh 
Người phế binh dại ngây khuôn mặt 

 

Ông nhẩm nhớ những người đã mất 
Một con thuyền trong đêm chiến tranh 
Bom rơi đặc trời, máu loang mặt nước 
Bao người chết. Chết không tìm thấy xác… 

 

Bao người chết. Chỉ mình ông sống sót 
Hơn bốn mươi năm ốm đau, lưu lạc 
Người phế binh ngồi trước mộ mình

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu

 

 

A D N

 

Những đứa trẻ cùng giờ sinh, ngày sinh

tháng sinh, năm sinh trong bệnh viện

Đêm chiến tranh. Nhà sập, bom rơi

Có đứa bị trao nhầm cho người mẹ khác

Hai mươi năm, ba mươi năm sau

Khi xét nghiệm A D N, mới biết

 

Đứa bé lớn lên

Bằng giọt sữa, bát cơm, bằng tình thương máu thịt

Nhưng bà mẹ nhận ra

Đứa con không giống mình

Từ khuôn mặt, dáng người, màu da,  mái tóc…

Nhiều đêm, cơn mê khác thường, người mẹ không trọn giấc

Ở phòng bên, tắt đèn

Đứa con ngồi nghe tiếng lá khuya rơi. 

 

Người mẹ mong tìm ra đứa con ruột của mình

Đứa con mong  tìm ra người mẹ ruột của mình

Bao tin đồn sai lạc

Người mẹ ruột ở đâu ? Đứa con ruột ở đâu?

Tìm hoài không thấy được… 

 

Chiến tranh rồi loạn lạc

Hàng triệu mảnh đời máu thịt chia xa

không bao giờ gặp mặt… 

Nhiều sự thật như lưỡi dao nhói buốt

Nhiều sự thật mãi mãi ngủ yên

không lời đáp

Nhiều sự thật cao hơn sự thật:

Trong ngôi nhà bình thường ta gặp

Người không cùng dòng huyết, sống nương nhau…

 

Nỗi đau hằn lên các ngả địa cầu

Trong thế giới quá nhiều bất trắc

Bao kiếp người chìm nổi bể dâu

A D N làm sao thấu được

Cả  người  sống và người đã chết

Ở chốn trần gian, dưới đất sâu…?

 

 

PHỐ HÀNG MÃ

 

Phố Hàng Mã bán nhiều vàng mã 
Chiếc ba lô bằng giấy nặng tay cầm? 
Cho tôi nhớ một Trường Sơn chất ngất 
Dốc núi lượn vòng trơn trượt đêm mưa 
Trong đội hình hành quân có người rơi xuống vực 
Chiếc ba lô mắc ở cành cây sót lại nắm cơm thừa 

 

Phố Hàng Mã bán đồ bằng giấy. Ta mua 
Đôi dép giấy, giấy bộ quần áo lính 
Chiếc mũ giấy làm ta nhớ bạn 
Bạn chết trong bom rơi thi thể không còn 
Chiếc mũ thủng đầu bàn chân tuột dép 
Lạc ở nơi nao dốc dựng đường mòn? 

 

Phố Hàng Mã bán đô la và tiền âm phủ 
Ở chiến trường có họp chợ đâu mà bạn tiêu tiền 
Hãy bán cho tôi tư trang nhà lính 
Ga Hàng Cỏ đêm nay tàu chuyển bánh 
Có đoàn người đi viếng mộ Trường Sơn

 

Phố Hàng Mã đông hơn mồng một ngày rằm 
Cha mẹ nhớ con, mình thầm nhớ bạn 
Căn nhà thêm một bát hương 
Trống một dáng người 
Quần áo giấy, chiếc ba lô mình đốt 
Có tới bạn không, ngọn khói lên trời…?

 

NGUYỄN ĐỨC MẬU  

 

 

TIN THƠ:

 

>> Thanh Tùng & cái lặng im rực màu hoa đỏ

>> Trần Huy Minh Phương hình như là những chuyến tàu

>> Nguyễn Hồng cỏ nát rồi cỏ lại sinh sôi

>> Đặng Tường Vy nắm tay con chữ thắt nơ gói quà

>> Kai Hoàng nghe đêm loang nỗi im lặng cầm tù

>> Sơn Ca phận đàn bà trăm nỗi sợ cô đơn

>> Trần Hùng muốn bay cùng những cánh ong đêm

>> Nguyễn Chí Hoan trò chuyện với một linh hồn

>> Bùi Xuân Tứ lời ru buồn trên đỉnh Pù Hu

>> Phạm Đình Phú xin khe khẽ nơi rừng xưa bạn nhé

>> My Tiên buổi sáng và tôi

>> Mai Hương nước mắt vo viên thành sạn buốt nhói

 

 

>> ĐỌC THƠ TÁC GIẢ KHÁC... 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.