Tin mới Xem thêm

  • Suy nghĩ từ đề thi môn văn về Chi Pu

    Sau khi giới thiệu lại việc Chi Pu ra MV Từ hôm nay bị nhiều ý kiến trên mạng và nhiều ca sĩ phản ứng, đề thi học kỳ 1 môn Ngữ văn dành cho học sinh lớp 10 của trường THPT Hạ Hòa, Phú Thọ yêu cầu học sinh: “Hãy hóa thân vào Chi Pu, viết một bài văn tự sự có sử dụng yếu tố biểu cảm kể về một ngày của mình sau khi ra mắt MV Từ hôm nay

  • Tôn Nữ Thu Thuỷ trên con dốc lạ

    Bước chân tiếng động những cái bóng/ Trí nhớ có cuộn tròn như con sâu?/ Giá như chiếc kén là tàn cây/ Là cỏ

  • Gió lộng ven chiều của Lâm Tẻn Cuôi

    Thơ Lâm Tẻn Cuôi đọng lại giọt buồn như người nhạc sĩ dạo một cung trầm làm xao xuyến lòng người nhưng không bi lụy, yếm thế

  • Doãn Minh Trịnh chạy giữa khu vườn tràn ngập...

    Làng chùa/ dòng sông chảy ngang mặt/ con đường đất đỏ in dấu xưa/ nước xoáy chân dốc/ đỉnh dốc, phía sau

  • Để quy hoạch không bỏ quên “văn hoá”

    Đã đến lúc cần phải nhìn nhận lại về quy hoạch đô thị một cách nghiêm túc hơn với những quy định ngặt nghèo cho từng chủ đầu tư. Với một dự án dân cư cao tầng, phải có yêu cầu xây dựng những sân chơi thể thao, giải trí cho một tập hợp tối thiểu là bao nhiêu cư dân…

  • Khánh thành cột cờ Lũng Pô

    Cột cờ Lũng Pô tại xã A Mú Sung, huyện Bát Xát, Lào Cai đã được Tỉnh đoàn Lào Cai khánh thành ngày 16-12 với sự tham dự của hàng ngàn đoàn viên

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Dọc đường văn học

Phác thảo văn học Việt Nam trên bản đồ văn học thế giới

30.11.2017-10:30

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều trình bày tham luận tại Hội thảo Văn học Việt- Hàn ở TPHCM ngày 23.11.2017

 

Phác thảo văn học Việt Nam

trên bản đồ văn học thế giới

 

NGUYỄN QUANG THIỀU

 

NVTPHCM- Hội thảo quốc tế “Triển vọng Giao lưu Văn học Việt - Hàn” tổ chức ở TP.HCM ngày 23.11.2017 là sự kiện văn hoá quan trọng giữa hai quốc gia. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Phó Tổng thư ký thứ nhất Hội Nhà văn Á - Phi - Mỹ Latin, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Giám đốc NXB Hội Nhà văn đã trình bày một tham luận rất ấn tượng tại hội thảo. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc...

 

Năm 1994, tôi đến Mỹ tham dự Chương trình hội thảo của các nhà văn do Trung tâm William Joiner tổ chức hàng năm. Một trong những hoạt động ấn tượng mà tôi tham dự là lễ phát hành tập thơ có tên Thơ từ những tài liệu bị bắt giữ ( Poems from the Captured doccuments) do nhà thơ Bruce Weigle và tiến sỹ Kim Thanh dịch. Đó là những bài thơ ghi chép trong sổ tay hoặc trong những giấy tờ khác của những người lính giải phóng Việt Nam bị quân đội Mỹ thu giữ trong chiến tranh. Khi đọc những trang tài liệu này, các nhà thơ của Trung tâm William Joiner phát hiện ra một điều kỳ lạ là : một hình ảnh mà chủ nhân của những cuốn sổ tay hay giấy tờ ấy đều vẽ là những con chim hòa bình và một loại văn bản được ghi chép trong hầu hết các cuốn sổ tay và giấy tờ ấy là những bài thơ về đất nước, về mẹ, về vợ, về người yêu và giấc mơ trở về cày cấy, gieo hạt, lấy vợ sinh con đẻ cái sau khi chiến tranh kết thúc. Phát hiện ấy đối với những cựu binh Mỹ và người Mỹ có lẽ là một trong những phát hiện lớn nhất về chiến tranh Việt Nam và con người Việt Nam. Sau phát hiện ấy, cách nhìn của không ít người Mỹ về đất nước và con người Việt Nam đã thay đổi. Và trong quan hệ băng giá của hai nước Mỹ và Việt Nam trước khi bình thưởng hóa thì những Đại sứ quyền lực nhất chính là các nhà văn, nhà thơ với tác phẩm của họ.

 

Văn học là một thứ siêu quyền lực. Một tác phẩm hay sẽ làm cho con người ở mọi nền văn hóa bừng tỉnh và nhận ra Vẻ đẹp và tính Nhân văn của dân tộc khác kể cả một dân tộc trước đó là kẻ thù của mình. Tôi còn nhớ câu chuyện về nhà văn Colombia Garcia Market. Khi ông được giải Nobel văn học cũng là lúc Colombia đã và đang tìm mọi cách để được chọn là nước đăng cai Worldcup. Nhưng khi nghe tin G. Market được trao giải Nobel, Tổng thống Colombia lúc đó đã tuyên bố Colombia không cần đăng cai Worldcup nữa vì họ đã có Trăm năm cô đơn của G. Market. Bởi với G. Market và Trăm năm cô đơn là đủ làm cho thế giới thấu hiểu con người và đất nước này. Những câu chuyện nói trên làm cho chúng ta khẳng định một lần nữa sức mạnh của thơ ca nói riêng và của văn học nói chung có khả năng thay đổi con người. Bởi thế công việc dịch thuật văn học đã trở thành một công việc vô cùng quan trọng và mang tính chiến lược của mọi quốc gia cho dù họ nhận ra sớm hay muộn.

 

Nhìn lại hồ sơ về các tác phẩm văn học Việt Nam được dịch và xuất bản trên thế giới, chúng ta có thể nói: Văn học Việt Nam chỉ chính thức được dịch và xuất bản ở nước ngoài từ khi cuộc chiến tranh với người Mỹ bắt đầu. Nhưng trong suốt thời gian chiến tranh và khoảng mười năm sau cuộc chiến, hầu hết các tác phẩm văn học Việt Nam chỉ được dịch và xuất bản trong các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa mà thôi. Việc dịch và xuất bản ở nước ngoài các tác phẩm văn học Việt Nam trong thời gian đó là do chính sách chính trị của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa chứ không thực sự là vấn đề của nghệ thuật văn chương, văn hóa. Nhưng cũng trong thời gian đó, ngoài các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa ra, có quá ít các nước khác dịch văn học Việt Nam. Trong gần một nửa thế kỷ qua, Trung Quốc chỉ dịch một cuốn sách ký sự về chiến tranh của Việt Nam. Pháp giới thiệu một hai nhà thơ trẻ con Việt Nam. Năm 2007, tôi đến Colombia dự Liên hoan thơ quốc tế và một nhà văn già của Colombia nói với tôi là trong suốt những năm tháng chiến tranh ông chỉ đọc được một tập thơ vài chục trang có tên là Quê Hương của nhà thơ Giang Nam. Sự xuất hiện quá đơn lẻ và quá hạn chế của các tác phẩm văn học Việt Nam trên thế giới đã làm cho cái tên Văn học Việt Nam không có trên bản đồ văn học thế giới.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tại Hội thảo

Các nhà văn Việt - Hàn tham gia hội thảo

 

Khi Việt Nam đổi mới thì đó cũng là lúc văn học Việt Nam bắt đầu chuyến đi lần thứ hai ra thế giới. Vào những năm 80 và 90 của thế kỷ trước, phần lớn những tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra thế giới là những tác phẩm mang yếu tố phản kháng. Người dịch ở các nước trên thế giới tập trung lựa chọn những tác phẩm có nội dung mà trước đó vì nhiều lý do chưa được viết và chưa được xuất hiện ở Việt Nam. Những tác phẩm văn học này được các cá nhân nhà văn, dịch giả trong và ngoài nước lựa chọn chứ không phải do một tổ chức văn học hoặc các nhà xuất bản trong nước. Những tác phẩm được lựa chọn, dịch và xuất bản ở nước ngoài hầu như chỉ là các tác phẩm văn xuôi mà thơ chỉ như là những trường hợp ngoại lệ hoặc quá đặc biệt. Cho dù những tác phẩm được dịch và xuất bản ở nước ngoài lúc đó là những tác phẩm tạo được dư luận của bạn đọc trong và ngoài nước, nhưng nó cũng chỉ phản ánh được một phía của văn học Việt Nam đương đại. Thậm chí những tác phẩm được dịch và xuất bản ở nước ngoài là những tác phẩm chưa được xuất bản trong nước hoặc đã xuất bản nhưng lại gặp “vấn đề” với các cơ quan quản lý chuyên nghành trong nước. Từ đó tạo ra một cái nhìn mất cân bằng về đất nước và con người Việt Nam. Có rất ít tác phẩm thời đó được cả hai phía chấp nhận như trường hợp tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Cuốn sách này được trao Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991. 

 

Nhưng từ khoảng năm 2000 đến nay tình hình xuất bản của Việt Nam có những thay đổi lớn vì thế việc chọn, dịch và xuất bản các tác phẩm văn học Việt Nam ở nước ngoài cũng có những thay đổi lớn. Trung quốc bắt đầu dịch các tác phẩm văn học Việt Nam đương đại như tuyển truyện ngắn Việt Nam, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Một số nước như Mỹ, Pháp, Nhật, Thụy Điển, Hàn Quốc, Nga, Australia, Colombia, Ba Lan, Hungary, Ai Len.. đã lần lượt giới thiệu văn học đương đại Việt Nam bằng nhiều hình thức. Trong đó có thể nói Mỹ, Pháp và Hàn Quốc là những nước dịch và xuất bản văn học Việt Nam nhiều hơn cả. Sự xuất hiện của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam trong các cuộc hội thảo văn học, liên hoan thơ trên thế giới càng ngày càng nhiều hơn cũng làm cho các nước trên thế giới bắt đầu nhận ra một nền văn học mang tên Việt Nam. Khi tập truyện ngắn Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc, người dịch và người đọc Trung Quốc đã thực sự ngỡ ngàng về văn học Việt Nam mà trước đó họ không hề biết đến hoặc không “thèm” để ý tới. Lỗi này thuộc về những người liên quan ở cả hai phía : Việt Nam và Trung Quốc. Khi tập thơ đầu tiên của một nhà thơ Việt Nam sinh sống trong nước được dịch và xuất bản tại Mỹ năm 1987, tạp chí của Đại học Havard năm 1998 đã viết “Ông là một nhà thơ xuất sắc nhưng thế giới tiếng Anh chưa được biết đến”. Điều này cho chúng ta hiểu rằng: vấn đề dịch văn học chính là quyết định quan trọng đầu tiên đưa văn học của một dân tộc này đến một dân tộc khác. Nếu không có dịch thuật, chân dung các dân tộc trở lên lờ mờ với nhiều sai lệch trước nhau.

 

Trong khu vực Châu Á, qua quan sát của cá nhân mình, tôi có thể nói rằng : Hàn Quốc là quốc gia quan tâm đến văn học Việt Nam nhiều nhất. Số lượng các nhà văn, nhà thơ Việt Nam đến Hàn Quốc tham dự các hoạt động văn học là khá thường xuyên hơn tất cả các nước Châu Á khác. Các tác phẩm của nhà văn Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tư và những nhà văn khác đã đã được xuất bản tại Hàn Quốc. Và các nhà văn Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tư đã được trao những giải thưởng quan trọng của Hàn Quốc. Ngược lại, Việt Nam cũng dịch và xuất bản một số lượng đáng kể các tác phẩm văn học, văn hóa của Hàn Quốc ở Việt Nam. Riêng Nhà xuất bản Hội Nhà văn mà tôi đang kiêm vị trí Giám đốc đã xuất bản hơn 20 tác phẩm văn học và nghiên cứu văn hóa của Hàn Quốc trong mười năm qua. Nhà xuất bản Hội Nhà văn đều nhận được tài trợ của phía Hàn Quốc cho việc dịch thuật và xuất bản những tác phẩm này. Ngay từ năm 2002, tuyển thơ 5 Nhà thơ hiện đại Hàn Quốc là Ko Un, Kwang Kyu Kim, Kim Chi Ha, Park Je Chun và Shin Kyung Rim mà tôi dịch đã được xuất bản và giới thiệu ở Việt Nam do Daesan Foundation tài trợ. Nhưng hồi đó, việc dich văn học Hàn Quốc hầu hết phải thông qua ngôn ngữ thứ 3 là tiếng Anh. Ngày nay, Việt Nam đã có một đội ngũ dịch tiếng Hàn Quốc đáng tin tưởng và Hàn Quốc có những dịch giả tiếng Việt rất tốt. Vì thế mà chất lượng các bản dịch cũng được cải thiện rất nhiều. Tháng 12 tới, Quỹ dịch thuật Hàn Quốc đã mời đại diện của Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam sang dự hội thảo về dịch văn học. Đây là một cơ hội tốt cho một nhà xuất bản lớn nhất về văn học của Việt Nam trong hợp tác dịch thuật và giới thiệu văn học của hai nước trong thời gian tới.

 

Hiện nay, một thực tế cho thấy rằng: văn học Hàn Quốc là một trong những nền văn học được bạn đọc Việt Nam đón đọc nhiều. Hàn Quốc thực sự là một ví dụ sống động trong việc truyền bá văn học ra thế giới mà Việt Nam phải học tập. Cách đây mấy năm, Hội Nhà văn Việt Nam thành lập Trung tâm dịch văn học nhưng lại yêu cầu Trung tâm này tự lo kinh phí. Vì lý đo đó mà Trung tâm dịch thuật văn học này làm được rất ít chức năng của mình. Nhà nước phải chính là người đặt hàng các các trung tâm dịch văn học để thực thi chiến lược truyền bá hình ảnh đất nước thông qua văn học. Bên cạnh Nhà nước là những tập đoàn kinh tế, truyền thông và những quỹ văn hóa, văn học nghệ thuật. Nhưng ở Việt Nam, chính sách dành cho việc truyền bá văn học ra nước ngoài còn vô cùng hạn chế bởi chúng ta chưa có được một cách nhìn đúng về sứ mệnh của văn học.

 

Hội thảo này cho các nhà hoạch định chiến lược truyền bá văn hóa trong đó có văn học, cho các tổ chức văn học, cho cá nhân các nhà văn, các dịch giả Việt Nam thấy rõ hơn lỗ thủng lớn của mình trong công việc truyền bá văn học Việt Nam ra thế giới. Đồng thời cũng cho chúng ta những bài học cần thiết từ Hàn Quốc. Hàn Quốc là một quốc gia đã vẽ được những nét đậm về nền văn học của mình trên bản đồ văn học thế giới. Và Hàn Quốc cùng với các nước là Mỹ, Pháp, Thụy Điển thực sự là những quốc gia đã giúp Việt Nam vẽ được những nét cơ bản về nền văn học Việt Nam đương đại trên bản đồ văn học thế giới.

 

TIN LIÊN QUAN:

 

>> Hội thảo quốc tế văn học Việt - Hàn 2017

>> Sự kiện văn học Việt - Hàn đáng nhớ

>> Văn học Việt - Hàn: Nhiều điểm chung để kết nối, hợp tác

 

 

>> XEM TIẾP HOẠT ĐỘNG HỘI...  

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.