Tin mới Xem thêm

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tin văn

Trần Phúc Khang & Bên kia khung cửa

19.6.2017-19:20

Cây bút trẻ Trần Phúc Khang

 

HƯỚNG TỚI HỘI NGHỊ

NHỮNG NGƯỜI VIẾT VĂN TRẺ TPHCM IV:

 

Bên kia khung cửa

 

TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN PHÚC KHANG

 

NVTPHCM- Tôi tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài, ngày mấy rồi cũng không rõ, trong điều kiện này tôi chỉ có thể nhận thức được mùa đông xa lạ đang tới. Kéo chiếc gối kê lưng để tựa vào giường và nhìn ra ngoài cửa sổ, trời khá lạnh, chỉ một cơn gió nhẹ thổi qua khe cửa cũng đủ để nhận ra cái vị lạ lẫm của xứ người ta này-xứ của mùi những kí ức. Cái cửa sổ đen chẳng mấy cầu kì kia đang cố buộc tôi phải nhìn vào nó, nó làm tôi liên tưởng đến màu của con quạ được vẽ trong bức tranh mà lão họa sĩ mù đã vẽ tặng tôi.

 

“Có bóng người dưới cơn bão tuyết, dường như lão ta đang tìm kiếm tên đạo chích đã đánh cấp cây bút chì cuối cùng lão rồi trốn đi mất, cây bút chì cuối cùng.” Lão cứ lặp đi lặp lại rồi mĩm cười, chẳng có chút cảm giác hài hước nào cả, nhưng không hiểu sao những kẻ xung quanh lại đồng loạt cười theo, dường như nó có một sức hút nào đó, cái lỗ đen ấy đang hút cả thế giới xung quanh vào trong nó và ra lệnh cho chúng phải cười. Tôi chẳng mấy quan tâm việc ấy cho lắm, cái khiến tôi chú ý là vì những bức tranh đơn sắc của lão cùng với những cái tiêu đề không liên quan mấy đến nội dung, có khi vì mình không phải là một tay phê bình tranh chăng? “Chúng ta chưa bao giờ là những kẻ phê bình cả! Dù chỉ là một lần cuộc đời, mọi sự là học theo và cứ giả tạo như thế đấy, cả bức tranh của lão nữa cậu cũng đã thấy rồi.” Lão nói rồi lại cười, tôi cười theo lão vì khá mãn ý với câu nói ấy, lão giống như là một kẻ thấu thị, hay giống hơn lão là một nha tiên tri mù trong câu chuyện cổ tích mà tôi thường nghe lúc nhỏ, dù sao lão cũng là một người thú vị.

 

Ba ngày sau đó đổ cơn bạo bệnh vì gió tuyết, nằm liệt trên giường cố nuốt mấy mẩu bánh mì khô quắc và cứng như đá, tôi thầm cầu Chúa ban cho mình phước lành vượt qua cơn khốn khó. Bên ngoài đả lặng thinh từ lâu, chợt có người gõ cửa, tôi không nghĩ là có tên lữ khách nào muốn ghé thăm trong hoàn cảnh này.

 

“Cửa không khoá, vào đi”

 

Đấy là tên phu quét đường, một kẻ sùng đạo và thường chào hỏi tôi cùng lão hoạ sĩ mù, lúc nào hắn cũng thích so sánh người khác với các thánh, bây giờ tôi chỉ mong hắn lặng lẽ nói những gì cần và sau đó biến đi ngay, và mong sau hắn sẽ nhẹ nhàng mà đóng cánh cửa lại giúp kẻ khốn khổ này.

 

“Cậu đến tìm tôi có việc gì?” Tôi quay ra hỏi hắn, lạy Chúa, cái thân xác này, chưa bao giờ tôi thấy mình bất lực như thế, cả nói chuyện cũng khó khăn.

 

“Thưa anh! ông ta vừa chết vào tối ba hôm trước.” Hắn trả lời

 

Hắn ta muốn nói đến lão hoạ sĩ mù chăng? đúng rồi ở đây tôi chỉ quen biết lão, nhưng tôi vừa mới gặp lão ba hôm trước, tại sao lão lại chết? tôi định hỏi nhưng hắn lại nói.

 

“Ông ta thét lên trong cơn bão, gằn giọng rồi mếu máo, ông ta hô hoán với Đức Chúa Ngài của chúng ta-người mà ông chưa bao giờ thấy: “hãy cho tôi cho tôi, xin ngày hãy cho tôi, bắt lấy kẻ ranh ma, Đức ngài xin bắt hắn, trả nguyên vẹn về tôi, cây bút chì của tôi, cây bút chì của tôi” tôi nghe người ta kể ông ta đang hát, chứ không phải là khóc nữa rồi, ông ta đang hát khúc Thánh ca đau khổ, tuyệt vọng lắm, hát trong cơn gió tuyết thổi qua, và vì người ta nhìn qua ô của sổ bị phủ trắng kia nên ông ta giống như một ngôn sứ, ông cứ thế, cứ thế, cứ thế, cứ thế cho đến khi người ta phát hiện ra ông đã chết dưới góc đèn đường và trong tay cầm lấy thứ này có đề tặng anh”.

 

Hắn càng nói càng như kẻ điên, hắn hát theo lời của lão, dường như có lỗ đen nào đó hút hắn vào trong và buộc hắn hát, hắn cầm lấy bọc giấy và rồi lại đánh rơi nó, chẳng thèm đoái hoài gì nữa hắn lặng lẽ bỏ đi, đôi tay gõ nhịp trong túi áo nghe rỏ từng tiếng làn da thô ráp chạm vào thớ vụn của những sợi len, rồi chân hắn lặng lẽ bước đi theo kiểu vô hồn của một cái xác chết đã quá buổi, miệng hắn vẫn cứ lẩm bẩm hát lại từng câu lúc nãy cho đến lúc khuất xa sau khung tuyết. Còn lúc này thật khốn nạn thay, tôi chẳng có cách nào có thể lăn ra khỏi chiếc giường và đến bên cửa.

 

Cảm thấy căn bệnh đang bị bản thân mình đánh trả, tôi có thể rời khỏi giường, chiều mấy hôm sau tôi liền bỏ công tìm cho bức tranh của lão mù để lại một cái khung thật xứng đáng. Tuy không phải là một kẻ bình tranh nhưng may thay tôi vẫn có chút cảm năng đặc biệt dành riêng cho những tác phẩm của lão hoạ sĩ mù, cách lão nắm bắt thật tuyệt vời màu sắc xanh dịu dành cho tuyết, những hàng cây đang khiêu vũ một vũ điệu của những kẻ hiến tế đem linh vật lên đài hoả, hay những cái bóng kéo dài đặc trưng trong tất cả các bức lão vẽ đến cuối rìa tranh lại loang ra tạo thành một hố đen thăm thẳm chẳng hạn. Trung tâm lại trống rỗng, tôi nhìn thấy trong khoảng trống ấy đập vào mắt mình hình dung một còn đường, băng qua mười cây số đồng tulip đang mùa khô héo dẫn đến cây cầu vòm bắt qua con suối nơi những mụ đàn bà cởi áo tắm gội với khuôn mặt ảm đạm đôi khi lúc lâu lại nghe tiếng một con ả thét lên, và rồi chạy dài tiếp qua thêm một ngọn đồi chiều vàng nữa để phía sau xa xa kia, thị trấn đang nằm than khóc qua những khung kính cửa.

 

Tôi bỏ qua mấy chuyện trong nhà và khoác áo vào mà bước ra khỏi cửa, mấy tuần nay tuyết vẫn cứ rơi một cách điên khùng như thế, việc tìm khung ảnh vẫn chưa xong nên hôm nay tôi quyết định bỏ lại mọi việc và vào thị trấn, nơi mà muốn tới đó phải băng qua mười cây số cánh đồng hoa tulip, qua cây cầu vòm, và một ngọn đồi chiều vàng nơi thị trần đang than khóc ở đó.

 

“Chào anh, anh có tìm thứ gì đó chăng, một cây bút chẳng hạn, hãy xuống đây cùng lão, lão sẽ chỉ cho anh thủ phạm!” Một tay nông già khọm đang gặt hoa tulip dưới đồng đang cố bắt chuyện với tôi, lão này lạ hoắc, tôi đứng cách xa lão chừng chục mét nhưng hơi rượu vẫn nồng nặc, có lẽ lão đang say.

 

“Không! Tôi tìm khung tranh” Tôi nói.

 

“Hãy thả con quạ ra, hãy thả nó ra trước khi nó tìm thấy chỗ đậu thì kẻ trộm hiện ra” Lão cất tiếng hát, giọng lão bị rượu làm khàn đi đến mức gớm ghiết, chẳng hay lão muốn gì nữa, tôi phải bỏ mặc lão với cánh đồng tulip phía sau mà đi tiếp.

 

“Này anh nhà văn, anh đang tìm gì đó, một cây bút chì chăng, xin anh đấy hãy đến nhà em vào tối nay, tìm em, em sẽ chỉ cho anh thủ phạm” Con ả đang đứng dưới chiếc cầu vòm bắt qua suối mà vọng tiếng lên, tiếng ả cứ the thé, như người khóc, kẻ khóc nhiều đêm vì thiếu thốn mùi đàn ông.

 

“Không! Tôi tìm một cái khung tranh” Tôi nói.

 

“Anh hãy tin em, thả con quạ ra trước khi nó bay trở về, cây bút chì sẽ rỏ” Lại là cây bút chì, chán ngắt, tôi sẽ không bao giờ gặp mặt ả nữa, thề có Chúa.

 

Đấy là ngọn đồi chiều vàng, mai thay tôi sắp đến thị trấn, không biết mình vì sao lại đến tận nơi đây chỉ để mua một cái khung về lồng lên bức tranh, tôi cảm thấy mình lại mệt mõi, cơn bệnh vừa dịu đi mấy ngày kia ngay lúc này dường như lại muốn bừng ra, không còn cách nào tôi chỉ có thể bước thật nhanh vào trấn, cảm giác u buồn đến đáng sợ.

 

“Có kẻ tìm gì đó, cây bút chì phải chăng, hãy cho hắn lên thuyền, để cùng xuôi cùng gió...” Lũ trẻ chăn cừu đang hát trên triền dốc, dường như cả thế giới hôm nay đều điên cả rồi điên vì một cây bút chì, mà có lẽ cả họ cũng không biết nó hình dung ra thế nào nữa, tôi phải cáu lên đi chứ, chỉ một khoảnh khắc ngưng đi thôi cũng đủ, căn bệnh lại hành tôi mệt như ra, không ngờ nó quay lại nhanh đến thế, tôi muốn tìm nhanh cái khung tranh để quay về chiếc giường của mình ngã lưng ra mà ngủ một giấc dài, chuyến đi này quả thật kinh tởm.

 

“Hãy thả con quạ ra, khi nó đáp chân xuống, kẻ trộm sẽ hiện ra...” Đấy là tiếng lũ trẻ chăn cừu, chúng đã đi xa tít, khuất sau thị trấn, chiều hôm cũng đã xuống.

 

Tôi vẫn nằm lì trên giường, chiếc gối vẫn được kê sau lưng nhìn vào cửa sổ, 2 tuần trước tôi băng qua mười cây số đồng hoa tulip, đến cây cầu vòm bắt qua suối trắng và qua ngọn đồi chiều vàng để vào thị trấn tìm khung ảnh lồng lên bức tranh của lão hoạ sĩ mù, may thay có một tên bán đồ cồ lúc đó còn tỉnh táo đã tặng tôi luôn cái khung tranh và đưa tôi về đến nhà, chỉ có điều hắn lại chia tay bằng một nụ cười khinh bỉ chẳng mấy thân thiện. Giờ đây bức tranh đã quá hoàn hảo được treo trên bức tường đối diện khung cửa sổ, ở bên góc dưới bức tranh có đề một dòng chữ nhỏ, tặng H, tên nó là “Con quạ”.

 

Bên ngoài có tiếng đám đông hô hoán, gió tuyết nổi dồn dập đập vào khung cửa sổ, tiếng la hét ngày càng gần, chúng đang hướng đến nhà tôi, vào giờ này ư, để làm gì? Tôi tự nhủ, chẳng lẽ có kẻ lại có hứng viếng thăm bệnh vào một đêm đông.

 

“Bắt lấy hắn, tên trộm, hãy bắt lấy hắn đền tội, bắt lấy”.

 

Chúng la thất thanh bên ngoài, có kẻ dường như đứng trước cửa, hắn định phá nó ư? Tôi chưa kịp định hình thì nó đã đập ầm vào tường, đấy là tên phu quét đường.

 

“Mày là kẻ trộm, thằng khốn, mày phải bị treo cổ trước nhan Đức Chúa của chúng ta, và chuộc tội cho vong linh của lão hoạ sĩ” Hắn xọc vào giường và lôi tôi ra khỏi đấy, cơn gió mùa đông xa lạ mang mùi những kí ức thổi luồng qua má tôi, bọn chúng đã chực sẵn ngoài kia, la hét, điên loạn.

 

“Treo cổ hắn” chúng nói và ngay sau đó kéo lê tấm thân tôi đi vùi trong tuyết, trên nóc nhà một con quạ đang đậu đấy cất tiếng kêu.

 

__________

 

Trần Phúc Khang sinh năm 1996

Quê quán: Vĩnh Long

Hiện sống và học tập tại TP.HCM

Thành viên của Nhóm thơ trẻ LỀ.

 

TIN LIÊN QUAN:

>> Vị của lá nho

>> Ví dụ ta hôn nhau

>> Ăn lạt

>> Nhân duyên

>> Song trùng

>> Bên trời mây bay

>> Bồ công anh tha hương

>> Từ trái bắp khổng lồ nhìn xuống

>> Không thấy Bora

>> Hương ngọc lan

>> Hoàng tử tuổi xế chiều, công chúa tuổi hoàng hôn

>> Phận bèo

 

 

>> ĐỌC TRUYỆN NGẮN TÁC GIẢ KHÁC…  

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.