Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tin văn

Về thơ La Mai Thi Gia: Quyền của Thời Gian

14.01.2018-07:30

 TS. Lê Thị Thanh Tâm (ĐHQG Hà Nội)

 

Quyền của Thời Gian

 

 LÊ THỊ THANH TÂM

 

NVTPHCM- Trong bàn cờ chữ nghĩa, người ta chấp nhận sự khác biệt tận cùng, thậm chí phủ nhận triệt để nhau, nhưng, vẫn còn một nước cờ khác hay hơn, ít “sát thương”, đó là tri âm. Tri âm không nằm ở chỗ hiểu hay không hiểu một cách trọn vẹn, mà đơn giản là cho nhau sự tồn tại”. Người làm thơ viết một trăm câu thơ dở, có một câu hay, người đọc vẫn rất nên khóc vì câu hay ấy. Đó là một tư thế cảm nhận của kẻ khiêm hạ trước năng lực sáng tạo của kẻ khác…

 

Trước hết, tôi nói về câu chuyện của Vũ Trọng Phụng. Về sáng tác của ông, người ta bình luận như sau: “Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối. Không phải phẫn uất khó chịu vì cái vết thương xã hội tả trong câu văn, mà chính là vì cảm thấy một tư tưởng hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen ẩn trong đó (…).  Đọc văn Vũ Trọng Phụng thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng lạc quan. Đọc xong, ta phải tưởng tượng nhân gian là một nơi địa ngục và chung quanh mình toàn những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng” (Nhất Chi Mai, Ý kiến một người đọc: dâm hay không dâm, Ngày Nay, Hà Nội, s.51, 21.3.1937). Vũ Trọng Phụng cũng có bài trả lời rất sâu cay. Nhưng điều quan trọng là: hơn nửa thế kỉ sau, tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được dịch sang tiếng Anh và được giảng dạy ở trường đại học thuộc loại danh tiếng nhất nước Mĩ, UC Bekerley.

 

Tôi lại nhớ đến câu chuyện Leo Tolstoy (1828 1910), nhà văn vĩ đại người Nga. Hẳn nhiên ông rất… vĩ đại. Người ta khen ông là “Shakespeare của nước Nga” (Gustave Flaubert). Thế nhưng điều ấy làm ông quá đỗi phiền lòng, bởi theo ông, Shakespeare không đáng là một nhà tư tưởng, không phải là nhà văn lớn, rằng Shakespreare rất “thấp”, và tất nhiên là không nên so sánh với ông.

 

Shakespeare chết trước Tolstoy đến hơn ba thế kỉ, nhà viết kịch đại tài ấy đã không bao giờ có cơ hội tranh luận lại với Tolstoy (và chắc gì muốn tranh luận). Và đến bây giờ, ông vẫn được xem là một trong những kịch tác gia lớn nhất mọi thời đại.

 

Vậy, điều quan trọng là, dù cho hai ông này có bật dậy và nói gì nhau thì hai ông vẫn vĩ đại, bất chấp người kia nói gì.

 

Đánh giá của một người chưa bao giờ làm thay đổi bất kì sự thật nào. Đó là sự kì thú của thế giới nghệ thuật.

 

Tôi lại nói tiếp một câu chuyện khác, câu chuyện một nhà thơ tên là La Mai Thi Gia và tập “Thơ trắng”.

 

Nếu nói về “gout”, tôi không thuộc “gout” thơ của Thi Gia. Nhưng tôi không nghĩ rằng: “gout” khác nhau thì nhất thiết phải không thấy nhau hay!

 

Công bằng mà nói, chọn được bài hay toàn vẹn là điều không dễ trong tập “Thơ trắng”, nhưng cũng không khó nhận ra những câu thơ “ăn vào lòng” người ta một cách tự nhiên, nhẹ nhõm một cách tự nhiên:

 

Ta là cỏ, là sương, ta là suối

Ta đám côn trùng, ta bóng trăng

Ta như đứa trẻ còn dây rốn

Bú mớm mẹ ta đến vĩnh hằng

 

                         (Xanh)

 

Cõng nhau lên chóp đỉnh tình

Học theo mây trắng nghe mình hư không

 

                                 (Cõi anh)

 

Đã biết rằng mai tan tác mộng

Sao chẳng vào nhau cho hết đêm

 

      (Đã biết rằng mai tan tác mộng)

 

Buồn từ ngày chưa ngâu

Ai yêu thì tự bắc cầu mà tới

Đừng cứ đợi ngâu về rồi hò hẹn với mai sau.

 

                       (Đừng đợi ngâu về)

 

Viết tự nhiên là khó. Cái hay và cái dễ… bị chê ở Thi Gia là ở đó. Tự nhiên, hồn nhiên, đôi khi rất dễ chịu, dễ gần, là bản năng thơ rất đáng gìn giữ, nhưng cũng có thể trở thành một tâm sự chưa đủ sự chưng cất.

 

Nhìn toàn cục, Thi Gia dường như không có xu hướng tạo tứ thơ mang tính hệ thống, thơ Gia đôi khi không rõ hình khối và sức công phá của tứ nhưng lại có những tứ nhỏ rất quý, một kiểu “đặc sản”, một kiểu “phong cách thơ” rất Thi Gia:

 

Bới mây ra mà tìm nhau

 

        (Bới mây ra mà tìm nhau)

 

Ngày đã cạn ngày

Em đã cạn anh

 

      (Tình ơi em đắm tim mình)

 

Có ríu ran nào cứ thủ thỉ trong mưa

 

                       (Sài Gòn mưa)

 

Em phơi váy áo em ngoài dậu

Phơi cả tình em trong nắng trưa

Nhớ thương cuộn cả lên trời mộng

Đổ xuống đường xa đêm gió mưa

 

       (Đã biết rằng mai tan tác mộng)

 

“Đàn bà thợ xây” có lẽ là bài thơ có tứ tốt nhất trong “Thơ trắng”. Chủ đề “có vẻ” thời sự, hình ảnh “có vẻ” thô ráp, phong cách “có vẻ” không gần với cô nàng Thi Gia (vốn mang giọng thơ “đa tình, “khát tình” và “vọng dục” - không phải là “dục vọng”), nhưng bài thơ này thực sự khiến tôi nghĩ đến bài “Người đàn bà ngồi đan” của Ý Nhi. Tôi không so sánh, nhưng tôi nghĩ đến.

 

Hình ảnh người đàn bà ngồi đan bao nhiêu nỗi đa đoan của đời và của mình là một ám ảnh thơ ca quý giá trong kho tàng thơ Việt Nam. Hình ảnh ấy quá đa diện, minh triết và mạnh mẽ vô hạn. Thế còn người đàn bà thợ xây?

 

Đàn bà, họ vẫn xây đấy thôi; cứ gì phải có công trường. Xây là bản thể của đàn bà. Một sự bề bộn xây đắp cuồng điên và thiếu thốn sâu xa là nỗi đời vĩnh cửu của người đàn bà trong một “kho xưởng” tình yêu, hạnh phúc và hy vọng; một thế giới “đầm đầm châu sa” luôn được tạo nên từ bàn tay miệt mài xây đắp dẫu phù du.

 

Những người đàn bà thợ xây

Vai tươm tả nắng

Lòng bàn tay chằng chịt vết chai

 

Những người đàn bà thợ xây

Giấu mình trong lớp áo dày

Tóc ủ vào khăn và những giọt mồ hôi ủ trong làn da sạm nắng

khét mùi mưu sinh

 

Những người đàn bà thức dậy trước bình minh

Giặt giũ và phơi phóng

Trên dây phơi không có một chiếc váy mềm được dệt bằng voan và ren đỏ

Cho một người đàn ông được cởi ra trong đêm

 

Bàn tay của người đàn bà vò thật nhẹ, thật êm

Những chiếc áo lót không rõ màu sắc

Rồi nghiến răng vò những chiếc găng tay đầy vữa vôi và những chiếc áo bảo hộ màu xanh

Hình như là xanh hy vọng

Màu xanh của biển và trời

Màu xanh đã bạc phếch lâu rồi

 

Những người đàn bà thợ xây

theo chồng đi khắp nơi

Những người chồng theo những công trình đi khắp nơi

Chiếc giường tầng trong lán trại chung cũng là nơi ái ân của họ

Không một tiếng rên

Không một hơi thở mạnh

Sợ sỏi đá ngoài kia biết họ làm gì

Sợ những người đàn ông nằm bên

trở mình khao khát

Tưởng nhớ một thân hình mềm mại ở quê xa

 

Những người đàn bà không thơm mùi nước hoa

Những thân hình chưa từng phủ lụa là

Chẳng dám khóc cho nỗi nhớ con thơ

và nỗi nhớ nhà

Trong những chiều khói bếp thành thị cay xè...

Cay xè con mắt

Cứ ngóng phía quê mà ánh nhìn hiu hắt

Những thợ xây đàn bà

Những người mẹ đi xa.

 

Một bài thơ quá gợi.

 

Một khối tình tự được nhào nặn rất tự nhiên với chủ đề về người đàn bà làm nghề thợ xây, sau khi hoàn thành bỗng dưng phát tiết thêm một ánh sáng khác về thiên chức “bụi bặm” và luôn dở dang của người đàn  bà.

 

Một bài thơ vượt qua chính giới hạn của nhà thơ, giới hạn của những tâm tình đơn giản và tương đối dễ dãi, giới hạn của những câu thơ viết tràn theo cảm xúc mà ít tìm cách trụ lại bởi một vài “nhãn tự” sâu xa. Giới hạn đó đã được vượt!

 

Câu chuyện cuối cùng về Thi Gia: cuộc truy vấn về ngôn từ “tính dục” trong thơ.

 

Em ơn anh, ơn anh...

Đã mang về em biêng biếc của ngày xanh

Sau mải miết ái ân lại lụi vào nhau và khóc

Thổn thức dùm nhau mai bước đời khó nhọc

Nhìn nhau, lau nước mắt rồi cười

 

                                     (Ơn anh)

 

Tôi cho rằng, đây là một trong những ý thơ, đoạn thơ, câu thơ có thể đủ sức làm người ta xúc động thật sự vì… tình dục. Những câu thơ mang tính dục bản thân nó chưa bao giờ… sai (nhìn lại lịch sử văn học và nghệ thuật của cả thế giới thì biết); nhưng nó thường bị đối xử rất nghiêm khắc. Tự cổ chí kim đã thế. Thi Gia cũng chung số phận với những nhà thơ “dám” viết về tình dục. Nhưng “lỗi” của Thi Gia lớn hơn một chút: hồn nhiên quá! Ít biến hoá quá!

 

Trần truồng như trẻ nhỏ

Cùng em bày cuộc vui

Cứ cười và cứ khóc

Rồi vào nhau ngủ vùi

 

    (Cùng em bày cuộc vui)

 

Một ví dụ: đoạn trên này tứ rất khá nhưng thiếu một chút gì đó (tôi cũng không rõ, hoặc là không thiếu gì nhưng tôi không nhận ra) để có thể làm một đường nối thú vị tới câu thơ “công án” bàng hoàng của bài thơ “Sinh Tử” (Trần Thánh Tông) từ thế kỉ XIII:

 

Sinh như trước sam

Tử như thoát khố

 

(Sống như mặc áo vào

chết như cởi bỏ quần ra)

 

(Đương nhiên, Trần Thánh Tông không viết về tình dục, ông viết về bản thể, nhưng có sự hô ứng nào đó).

 

Viết về tình dục, có lẽ, cần một sự cô đọng nào đó lớn hơn về tư tưởng. Mặc dù tư tưởng… không làm nên tình dục.

 

Tôi chợt nghĩ đến câu thơ của Chế Lan Viên:

 

Ôi cây cỏ cũng đầm đìa sắc dục

 

Chuyện cha trời mẹ đất, vũ trụ “tình tự” với nhau trong ánh sáng giao hoà cùng tận, hay nói cách khác là “làm tình”, hình như không mới đến nỗi cần phải ngạc nhiên và phản đối “kịch liệt”. Cuộc ái ân của thiên nhiên là điều thiêng liêng, là nguồn suối cảm hứng. Nhân loại thời ấu thơ đã nhận biết việc ấy và hồn nhiên tôn thờ cuộc chơi viễn mộng ấy. Người thời nay cũng nên bình thường hoá đi chứ. Tất nhiên, nó đi vào thơ ca thế nào lại là chuyện khác. Tôi cũng chưa thật tâm đắc một số câu thơ thắm đượm dục tính của Thi Gia theo cách mà “Thơ trắng” thể hiện, nhưng tôi tin là tôi đã biết xúc động đúng những câu thơ “cận nhân tình”. Viết về tình dục trong những ẩn ức xen lẫn niềm bi cảm, tự nhiên đến khóc được, Thi Gia thuộc vào số hiếm. Có lẽ vì thế mà tập thơ đã được đọc như một thông điệp dịu dàng về “cổ mẫu nguồn cội”, một trạng thái ít nhiều đưa người đọc đến mỹ học tính dục đương đại: “Người đàn bà cất lên tiếng hát bằng làn da, hát ca bằng thân xác ngân nga”. “Người đàn bà đem chăn gối làm sông làm núi, đem châu thổ nguyên sơ làm ngã ba, đem châu thân huyền bí làm nhà”. Những lời giới thiệu tập “Thơ trắng” này của Nhật Chiêu - một người không còn xa lạ gì với giới trí thức và giới văn chương chuyên nghiệp suốt mấy chục năm nay ở nước Việt Nam này - tưởng vẫn còn đủ là một uy tín cho người ta có thể nhìn lại một chút trước khi đạp đổ một điều gì đó; một uy tín được xây dựng không chỉ bằng tài năng, tình yêu to lớn với văn chương mà còn bởi sự công phu, khổ học và hành trình truyền cảm hứng không thể lớn hơn cho học trò nhiều thế hệ. Riêng tôi, tôi tin lời giới thiệu ấy.

 

Một phật tử chắp tay búp sen cung kính chào tha nhân không phải vì hạ mình, mà vì tôn vinh Phật tính của người khác, ở nơi người khác. Trong bàn cờ chữ nghĩa, người ta chấp nhận sự khác biệt tận cùng, thậm chí phủ nhận triệt để nhau, nhưng, vẫn còn một nước cờ khác hay hơn, ít “sát thương”, đó là tri âm. Tri âm không nằm ở chỗ hiểu hay không hiểu một cách trọn vẹn, mà đơn giản là cho nhau sự tồn tại”. Người làm thơ viết một trăm câu thơ dở, có một câu hay, người đọc vẫn rất nên khóc vì câu hay ấy. Đó là một tư thế cảm nhận của kẻ khiêm hạ trước năng lực sáng tạo của kẻ khác. Như cái chắp tay búp sen vậy.

 

“Hoan hô những kẻ phụ tôi, họ đã trả tôi lại cho tôi”. Tôi tiếc là không thể nhớ tên nhà tư tưởng nào đã nói thế. Nhưng câu ấy rất hay, hay hơn cả cho Thi Gia, một nhà thơ đang trải qua sự phũ phàng của cuộc chiến “gia vị thẩm nhận”. Người ta có nhiều cách để làm thơ hay hơn. Một trong những cách ấy là bị đẩy ra khỏi bờ cõi của mình, và dành lại quyền sống cho năng lượng của chính mình. Điều này thì Thi Gia có, rất dồi dào.

 

Giải có trao hay không trao, đúng “quy trình” hay không đúng “quy trình”, Thi Gia nhận hay không nhận, tất cả điều này không lớn hơn một Sự Thật khác: dù sao, bạn ấy đã làm thơ, dù sao, thơ bạn ấy cũng không tồi, và dù sao, chúng ta còn cả một gia tài lớn là THỜI GIAN, thứ có thể mang lại cho mọi người một lời phán quyết nhân từ và chín chắn về những sáng tạo thực sự của một con người cụ thể, một con người giàu có về cảm xúc và hy vọng, biết đặt cảm xúc và hy vọng ấy vào những vần thơ vẫn còn hé mở rất nhiều cánh cửa cho người đọc.

 

Quyền của Thời Gian - quyền phán quyết minh bạch về giá trị - cao hơn tất thảy mọi sự luận đàm của làn sóng thượng tôn tự ngã trong thưởng lãm. 

 

 

TIN LIÊN QUAN:

 

>> Nguyễn Cường - Chỉ mình tôi ngồi với tôi thôi - Nguyễn Minh Khiêm

>> Thơ sinh ra để nói về niềm hy vọng của con người - Văn Giá

>> Tự mình đẩy mình lên mênh mông - Đặng Huy Giang

>> Thơ của... nhà văn - Hồng Diệu

>> Ánh sáng và bóng tối trong Đêm trinh của Nguyễn Vỹ - Nhật Chiêu

>> Thơ ca, nghệ thuật và tính nhân văn tôn giáo - Hồ Sĩ Vịnh

>> Thơ trắng - tình trong như đã… - Bùi Nguyễn Trường Kiên

>> Có loại thơ đa thanh như thế - Vương Trọng

>> Phê bình văn học “cũng lắm công phu”… - Hồng Diệu

>> Khai ngộ với thiên nhiên: Bashô và Octavio Paz - Nhật Chiêu

>> Hướng đến nhất thể mới con người-tự nhiên-xã hội - Nguyễn Đăng Điệp

 

  

>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC...

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.