Tin mới Xem thêm

  • Độc giả, động lực để nhà văn cầm bút?

    Độc giả là người bỏ tiền ra mua sách của nhà văn, là động lực để nhà văn cầm bút. Bên cạnh việc coi độc giả là ưu tiên hàng đầu thì cũng có nhà văn lấy cái tôi, sở thích, quan điểm cá nhân… làm lý do chính để cầm bút ngồi vào bàn viết.

  • Nguyễn Nhật Ánh & Tàu hủ đường xa

    Tàu hủ có lẽ là món ăn thuộc loại bình dân số một. Tôi tin mọi trẻ con, dù sống ở thôn quê hẻo lánh hay thị tứ náo nhiệt, đều từng ăn tàu hủ một lần trong đời

  • Soạn SGK, có một giải pháp tốn ít tiền...

    Ở rất nhiều nước, sách giáo khoa (SGK) là chuyện của từng nhà xuất bản và từng tác giả. SGK là hàng hóa đặc biệt nhưng vẫn cần phải có cạnh tranh

  • Dâng hương Tượng đài Chiến thắng Điện Biên

    Tượng đài Chiến thắng trên đồi D1 tại trung tâm thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên là nơi đầu tiên mà đoàn văn nghệ sĩ và cán bộ tuyên giáo của TP.HCM đến dâng hương, tham quan đầu tiên ngay sau khi bay lên vùng đất thiêng này vào giữa tháng tư lịch sử.

  • Tiểu Quyên thuộc trường phái mất mát

    Trong một lần giao lưu, tôi có nói vui là mình thuộc trường phái mất mát. Dù chưa già nhưng tôi cũng không còn trẻ nữa để biết rằng cuộc đời

  • Lũ mèo hoang là một thế giới khác

    Lẽ ra hắn thuê ngôi nhà trống bên kia vách, sau nghe đồn có người âm ở nên thôi. Ngôi nhà hắn thuê

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tư Liệu Văn Học

Cuộc hội kiến Đặc sứ Mỹ và hoàng tử Cảnh

21.6.2013-15:45

Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn

 

Cuộc hội kiến giữa

Đặc sứ Mỹ Thomas Jefferson

và hoàng tử Cảnh tại Paris năm 1787

 

LÊ NGUYỄN


NVTPHCM- Trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào năm 2000, ngày 17.11.2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã có buổi nói chuyện với các sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong cuộc gặp gỡ đó, ông Clinton tiết lộ một điều thú vị về Thomas Jefferson, Tổng thống thứ ba của nước Mỹ, khi còn là một đặc sứ, đã từng đưa các giống lúa của Việt Nam về trồng ở trang trại của ông ở Virginia. Tiếc rằng điều tiết lộ của ông Clinton chỉ mới đúng 50% sự thật, vì dù muốn đến đâu thì cuối cùng ông Jefferson đã không có được giống lúa của Đại Việt để về trồng ở Virginia. Ngoài ra, ông Clinton  bỏ quên một sự kiện còn thú vị hơn nữa, đó là từng có một cuộc gặp gỡ giữa Jefferson với một ông hoàng Á Đông mới 7 tuổi: hoàng tử Cảnh, con trai chúa Nguyễn Ánh, đang làm con tin  ở Paris.

 

Ngày 12.6.1790, Ngoại trưởng Mỹ Thomas Jefferson thức giấc sau một cơn đau đầu dai dẳng. Trước mặt ông là hai lá thư và một gói nhỏ vừa được gửi đến địa chỉ 57 Maiden Lane của ông. Sau khi xem qua những thứ đó, ông vội bước ra khỏi nhà, hòa mình vào đám đông đang mua sắm trên đại lộ Broadway và không lâu sau, trở về nhà với hai chậu trồng hoa. Ông cho đất vào chậu và gieo lên đó những hạt đựng trong gói nhỏ vừa nhận được. Số hạt còn chừa lại, ông gửi cho bạn bè ở Virginia, kèm theo dòng chữ: "Đây là vật quí giá nhất nếu như chúng ta để dành được”. Hai tuần sau, Jefferson  đặt hai chậu nhỏ đã mọc lên 23 cây con trước cửa sổ phòng đọc sách của ông.

Tranh chân dung hoàng tử Cảnh do họa sĩ Maupérin vẽ năm 1787


Những hạt Jefferson vừa gieo là một loại lúa vùng cao. Chúng đã trải qua một hành trình dài từ đảo Timor, vòng quanh Mũi Hảo vọng, xuyên Đại Tây Dương đến New York. Người có công trong việc này là Trung úy William Bligh, đã mua một bịch lúa vùng cao ở Timor và mang về Anh cho lãnh đạo của công ty ông là ngài Joseph Banks. Nhận được món quà độc đáo của người cộng sự, Banks chia một phần cho Benjamin Vaughan, Đặc ủy Anh phụ trách các cuộc thương thuyết giữa hai chính phủ Anh - Mỹ. Và chính Vaughan đã gửi cho Jefferson những hạt lúa giống này. Tại Mỹ, Jefferson là một trong những người đầu tiên quan tâm đến việc trồng các loại lúa vùng cao tại Mỹ sau khi tình cờ đọc một du ký về bán đảo Ấn-Hoa (Indochina, sau gọi là Đông Dương). Đó là tập sách Voyages d’un Philosophe (Hành trình của một nhà hiền triết) viết về Pierre Poivre, một thương nhân làm việc cho công ty Đông Ấn (Compagnie française des Indes orientales), đến xứ Đàng trong của Đại Việt năm 1749, thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Trong chuyến đi này, Poivre chuyển đến chúa Nguyễn một văn thư của công ty Đông Ấn nhân danh Hoàng đế Pháp Louis XV xin cho các thương nhân Pháp được phép buôn bán ở Đàng trong, đồng thời đề nghị hai bên ký kết một thương ước. Pierre Poivre vốn là một nhà buôn tinh ranh và xảo quyệt. Ông ta khảo sát qua tình hình Đàng trong lúc bấy giờ và đề nghị được đổi những đồng tiền Mễ Tây Cơ (Mexico) mang theo lấy những tiền bằng đồng vừa bị chính quyền Đại Việt thải ra để thay bằng những đồng tiền đúc bằng hợp kim xấu. Vụ đổi chác này dẫn đến một mâu thuẫn quyền lợi giữa Poivre và Trương Phúc Loan, cậu Võ vương, đang giữ chức Ngoại tả, một trong “tứ trụ” ở phủ chúa, nặng đến mức Poivre bỏ ngang việc trao đổi tiền, xuống tàu rời Faifo (Hội An) về Pháp ngày 10.2.1750. Quyển Voyages d’un Philosophe  không phải là một tác phẩm hoàn chỉnh của Pierre Poivre. Khi về đến Pháp, ông ta chỉ ghi chép một số việc trong chuyến đi Đại Việt và gửi cho Viện Hàn lâm Lyon. Về sau, một số nhà xuất bản đã lấy các tư liệu đó, sắp xếp in thành sách (nhan đề trên) mà không đề tên tác giả cũng như không hỏi ý kiến Poivre. Trong du ký của mình, thương nhân này đã giới thiệu với chính quyền các thuộc địa Ile de France và Bourbon (nay là Mauritius và Réunion) các loại hạt nhục đậu khấu, đinh hương và nhiều chủng loại thảo mộc khác. Tuy nhiên, điều quyến rũ nhất đối với Thomas Jefferson là phần Poivre miêu tả giống lúa vùng cao của Đại Việt: “Người Đàng trong trồng 6 loại lúa, lúa hạt nhỏ, hạt nhỏ, dài và trong suốt, đây là loại ngon nhất và người ta dành cho người bệnh ăn. Loại lúa to có hạt hình tròn. Lúa gạo đỏ có hạt phủ một lớp da màu đỏ nhạt, bám chắc đến nỗi khó tách chúng ra được. Cả ba loại lúa hạt này được người dân dùng để tự nuôi sống và có rất nhiều. Chúng đòi hỏi phải có nước và đất trồng chúng phải ngập nước. Cuối cùng, họ trồng hai (sic) loại lúa khô khác, có nghĩa là chúng tăng trưởng trong đất khô cằn, và cũng như lúa mì của chúng ta, chúng không đòi hỏi một thứ nước nào ngoài nước mưa…” (Georges Taboulet – La geste française en Indochine – Paris 1955, trang 139).

Thomas Jefferson (1743-1826)

Giám mục Bá Đa Lộc


Sau khi đọc Poivre, Jefferson đã viết thư cho William Drayton, chủ tịch Hội cải tiến nông nghiệp và những lợi ích khác tại nông thôn, bang South Carolina: “Lúa khô của Đàng trong nổi tiếng là trắng nhất, vị ngon nhất và năng suất cao nhất”. Lá thư này là bước đầu tiên của Jefferson trong một kế hoạch nhằm chuyển đổi việc canh tác các cây lương thực chủ yếu tại các bang South Carolina và Georgia. Quan điểm này của ông được nhiều người chia sẻ và ông tự thấy có trách nhiệm gây dựng một kho hạt giống lúa để thay thế dần các cây lương thực đang trồng. Trong số những người mà Jefferson đưa vào danh sách cần tiếp xúc, có một nhà khoa học Anh, một nhà hiền triết người Pháp, một thuyền trưởng người Mỹ và một ông hoàng phương Đông. Người ta có thể suy đoán nhà hiền triết người Pháp mà Jefferson cần tiếp xúc là Pierre Poivre, tác giả những du ký hấp dẫn mà ông đã có dịp đọc tới. Còn ông hoàng phương Đông trong danh sách tiếp xúc của Jefferson chính là hoàng tử Cảnh, người được chúa Nguyễn Ánh cho đi theo giám mục Bá Đa Lộc làm con tin để thương thuyết với triều đình nước Pháp về những vấn đề có lợi cho cả hai phía. Đó là năm 1787, khi thỏa ước Versailles vừa được ký kết giữa một bên là Bá Đa Lộc, đại diện chúa Nguyễn Ánh và một bên là Thượng thư Bộ Ngoại giao, bá tước De Montmorin, thay mặt Pháp hoàng Louis XVI. Sự hiện diện của phái bộ Đại Việt đến từ một châu lục xa xôi, đặc biệt sự xuất hiện của một hoàng tử nhỏ bé mới 7 tuổi đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn bộ cung đình nước Pháp. Vì yêu mến cậu bé xinh xắn mà hoàng hậu Marie Antoinette đã tạo điều kiện cho cậu chơi đùa với con bà là hoàng thái tử Louis Joseph trạc tuổi cậu. Cậu còn được bà hoàng chỉ thị cho nhà làm tóc nổi tiếng Leonard tạo mẫu tóc mới và họa sĩ Maupérin vẽ cho cậu bức chân dung trong trang phục nửa Âu, nửa Á nay vẫn còn được trưng bày tại Chủng viện Hội Truyền giáo hải ngoại Paris.

Vua Louis XVI, người đã tiếp phái bộ Đại Việt năm 1787


Hoàng tử Cảnh, giám mục Bá Đa Lộc cùng đoàn tùy tùng đến Paris vào tháng 2.1787 và mãi đến ngày 28.11.1787, hai bên mới ký xong thỏa ước Versailles. Trước khi phái bộ Đại Việt rời nước Pháp vào tháng 12.1787, Thomas Jefferson kịp xin một cuộc gặp giữa ông và hoàng tử Cảnh. Xét về địa vị xã hội mỗi người trong phái bộ Đại Việt thì hoàng tử Cảnh là người có vị thế cao hơn cả, vì thế các tư liệu hiếm hoi đề cập đến cuộc hội kiến này đều nhắc tới hoàng tử  Cảnh là người trực tiếp hội kiến với Jefferson. Song trên thực tế, có lẽ ông hoàng mới 7 tuổi  này chỉ ngồi làm vì, mà chủ động thực sự trong cuộc hội kiến là giám mục Bá Đa Lộc và hai quan lại được chúa Nguyễn Ánh cắt cử theo hộ vệ hoàng tử Cảnh là Phó Vệ úy Phạm Văn Nhơn và Chánh cơ Nguyễn Văn Liêm. Trong cuộc gặp ngắn ngủi ấy, Jefferson nhận được lời hứa của hoàng tử Cảnh (và phái bộ) là sau khi về đến Đại Việt, họ sẽ gửi cho ông các giống lúa vùng cao. Trong một nhật ký viết vào năm 1788, ông đã ghi: “… tôi rất hi vọng nhận được lúa từ Đàng trong, ông hoàng trẻ tuổi của xứ sở ấy, vừa mới rời khỏi nơi đây, đã cam kết là sẽ gửi tới cho tôi…” Nhưng vào năm 1788, khi Jefferson viết những dòng trên, thì hoàng tử Cảnh và phái bộ còn ở mãi Pondichéry, thuộc địa của Pháp tại Ấn Độ, để tiếp xúc với bá tước De Conway, Thống đốc Pondichéry, người được triều đình Pháp giao trách nhiệm thực thi thỏa ước Versailles. Trên thực tế, thỏa ước được ký kết vào thời điểm nước Pháp đang trải qua những khó khăn lớn về tài chánh và không phải là vô tình mà triều đình Pháp đã giao việc thi hành cho Thống đốc de Conway. Mối bất đồng trầm trọng từ lâu giữa Bá Đa Lộc và de Conway cùng tình hình tài chánh bất ổn của nước Pháp khiến cho thỏa ước Versailles hoàn toàn bất khả thi. Để gỡ thể diện với chúa Nguyễn Ánh, giám mục Bá Đa Lộc đã dành một khoảng thời gian dài quyên góp tiền và chiêu mộ một số viên chức và sĩ quan Pháp không còn ở trong chính quyền và quân ngũ (Vannier, Chaigneau, Barisy, de Puymanel…) đưa đến Đàng trong để hỗ trợ chúa Nguyễn trong cuộc chiến chống nhà Tây Sơn. Chính vì thế mà khởi hành về nước từ Pháp vào tháng 12. 1787, mãi đến ngày 15.6.1789,  tức một năm rưởi sau, Bá Đa Lộc cùng phái đoàn mới rời Pondichéry để trở về Đàng trong. Đến lúc đó, Jefferson vẫn còn ở Pháp (ông trở về Mỹ vào tháng 11.1789), song có lẽ sự chờ đợi mòn mỏi khiến ông không còn hi vọng nhận được hạt giống lúa như hoàng tử Cảnh và phái bộ đã hứa. Về phần phái bộ Việt, chuyện ở lâu tại Pondichéry là điều ngoài ý muốn, nên khi về nước, phần vì tình hình cuộc chiến với nhà Tây Sơn đang hồi gay cấn, phần vì đã hơn một năm rưởi bặt tin nhau nên đã không thực hiện được lời hứa gửi lúa giống cho Thomas Jefferson.

Trang cuối thỏa ước Versailles 1787 có chữ ký của de Montmorin và Bá Đa Lộc

 

Cuối năm 1789, Jefferson được Tổng thống Mỹ George Washington cử làm Bộ trưởng Ngoại giao rồi hơn 10 năm sau, trở thành Tổng thống thứ ba của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ (1801-1809). Trong thời gian làm Ngoại trưởng, ông vẫn tiếp tục nuôi ý định tìm và phổ biến các giống lúa vùng cao cho một số bang của Mỹ trồng thay thế nhiều chủng loại nông sản của Mỹ đã thoái hóa. Cuộc hội kiến giữa Jefferson và hoàng tử Cảnh của Đại Việt vào năm 1787 có lẽ là cuộc gặp gỡ Việt - Mỹ đầu tiên trong lịch sử quan hệ giữa hai nước, tiếc rằng tình hình rối ren trong nước lúc bấy giờ và sự cách trở về địa lý đã không cho phép phía Đại Việt thực hiện lời hứa của mình.

KIẾN THỨC NGÀY NAY, SỐ 823 - 20.6.2013

 

Tài liệu tham khảo chính:
* Đại Nam thực lục - tập một -  NXB Giáo dục – Hà Nội 2002
*Quốc triều sử toát yếu – NXB Văn Học – Hà Nội 2002
* Georges Taboulet - La geste française en Indochine – Paris 1955
*Un voyageur philosophe – Pierre Poivre en Annam – Ha Noi 1941

* www.biography.com
* www.monticello.org

 


>> XEM TƯ LIỆU THAM KHẢO KHÁC...

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.