Tin mới Xem thêm

  • Doãn Minh Trịnh cay mờ khoé mắt tuổi thơ

    Tuổi thơ con/ ấm ngọt tiếng đàn/ cha rót vào những đêm trăng sáng/ tiếng hát bản Mường "cô gái vót chông"/ Tuổi thơ con/ vọng mãi tiếng kèn dân tộc/ bằng lá hái trong sân/ cha thổi bài ca "cô gái gọi bạn tình"/ Tuổi thơ con/ thuộc hết bài thơ cha viết tặng/ dạy con biết về mình/ nhớ đinh

  • Công lý rủi ro

    Toà án có vai trò rất lớn trong xã hội. Người dân khi gặp bất công, bị chèn ép bởi hệ thống công quyền muốn được bảo vệ thì kiện ra toà án…

  • Việt Nga - Hoa phượng trắng

    Một trưa mùa hạ, tôi nhận được tin nhắn của em: Cô ơi! Em muốn chết! Tôi vội vã lấy xe, phóng đến chỗ em. Tôi biết tính cô học trò cũ của mình

  • Đổi mới trại sáng tác VHNT cho hiệu quả

    Theo số liệu vừa được công bố bởi Trung tâm Hỗ trợ sáng tác văn học nghệ thuật (Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch), với 6 nhà sáng tác ở các địa điểm nghỉ dưỡng lý tưởng trên cả nước là Đại Lải (Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt (Lâm Đồng), Vũng Tàu, chỉ tính riêng trong năm 2016 đã có tới 66 trại sáng tác văn học nghệ thuật được tổ chức

  • Đòn giáng phủ đầu của Biệt động Sài Gòn

    Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đi qua vừa đúng 50 năm. Giờ đây khi nghiên cứu về Mậu Thân, ta không thể không

  • Trần Thị Kim Nhiên & Xóm Cù Lao

    Út có người yêu. Tin đó bay khắp cái Xóm Cù Lao nhanh như vận động viên marathon chạy nước rút. “Chuyện, con bé dễ thương, học giỏi lại hiền lành, đi học xa nhà nữa, có khối anh chàng ở phố mê mẩn”. Có người than: “Xóm Cù Lao mình hết hi vọng rồi, nó lấy chồng ở phố rồi mất luôn...”. Lời than ấy không phải là không có lý

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tư Liệu Văn Học

Ngụy Như Kon Tum - người thầy mẫu mực

04.10.2016-21:10

 Giáo sư Ngụy Như Kon Tum

 

Giáo sư Ngụy Như Kon Tum

- người thầy mẫu mực

 

NGUYỄN TÚC

 

NVTPHCM- Giáo sư Ngụy Như Kon Tum - nhà khoa học tài năng, là Hiệu trưởng đầu tiên và lâu nhất của trường Đại học Tổng hợp của nước ta, là Đại biểu Quốc hội khóa III và khóa IV, Ủy viên UBTƯ MTTQ Việt Nam (từ năm 1955 đến năm 1991).

 

Ngụy Như Kon Tum sinh ngày 3/5/1913 tại Kon Tum trong một gia đình viên chức. Chính quê của ông là xã Minh Hương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thân sinh ông là Ngụy Như Bích – lục sư bưu điện.

 

Sinh ra tại Kon Tum, bố mẹ ông lấy mảnh đất đó đặt tên ông để kỷ niệm. Cư dân Kon Tum lúc đó chủ yếu là người Ba Na. Suốt thời thơ ấu, ông làm bạn với núi rừng, với bạn trẻ người Ba Na. Ở trường ông học và nói bằng tiếng Pháp, về khu dân cư ông giao tiếp bằng tiếng Ba Na. Vì vậy, ông rất ít khi dùng tiếng Việt cho đến những năm đầu của bậc Thành chung.

 

Năm 11 tuổi, bố ông, cụ Ngụy Như Bích được chính quyền bảo hộ điều về Huế. Ông theo gia đình về và vào học lớp Nhì bậc tiểu học. Theo ông kể lại: Do nói và viết tiếng Việt đều kém nên các bạn cùng lớp đặt cho ông cái tên “Ngụy Ngố”, một kỷ niệm không thể nào quên.

 

Học đến năm thứ 4 Thành chung, được thầy Đặng Thái Mai vừa tốt nghiệp cao đẳng sư phạm dạy và kèm cặp tiếng Việt, nên tiếng Việt của ông ngày một khá hơn.

 

Tốt nghiệp Thành chung hạng ưu, ông được cấp học bổng để ra Hà Nội học Ban Tú tài trường Bưởi.

 

Năm 1932, ông lập một kỳ tích trong học tập, là cùng lúc nhận cả ba bằng tú tài: Tú tài Tây ban Toán, Tú tài Tây ban Triết và Tú tài bản xứ. Đây là một sự kiện hiếm thấy ở trường Bưởi. Với thành tích nổi trội đó, ông được cấp học bổng sang Pháp học tại trường Đại học Sorbonne – một trường lâu đời và danh tiếng của nước Pháp.

 

Thông minh, ham học, sau 3 năm “miệt mài”, ông tốt nghiệp cử nhân Vật lý và 3 năm sau, ông bảo vệ thành công luận án thạc sĩ Lý – Hóa loại xuất sắc. Với kết quả nghiên cứu nổi trội, ông dược nhà vật lý hạt nhân nổi tiếng của Pháp thời đó là giáo sư Joliot Cuiri nhận hướng dẫn nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của ông.

 

Năm 1939 ông trở về nước và được bổ nhiệm về dạy ở trường Chasseloup Sài Gòn.

 

Năm 1941 theo đề nghị của giáo sư, chính quyền bảo hộ đồng ý điều ông ra dạy tại trường Bưởi – nơi ông đã từng học với biết bao kỷ niệm của thời trai trẻ. 19/5/1941 Mặt trận Việt Minh ra đời mở cho ông con đường “đồng hành cùng dân tộc”.

 

Hưởng ứng Chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh, ông đã cùng các giáo sư Dương Quảng Hàm, Lê Thước, Trần Văn Khang v.v… chuyển sang dạy tất cả các môn học bằng tiếng Việt, mở đầu cho việc sử dụng tiếng Việt trong ngành giáo dục Việt Nam.

 

Giáo sư cũng là người đi đầu trong việc xóa bỏ sự ngăn cách giữa nhà trường và xã hội, đưa các “ông Tú, bà Tú tương lai” vào cuộc sống thường ngày bằng cách lập tổ chức du lịch Đoàn Rồng do ông làm Trưởng đoàn gồm nhiều đội, mỗi đội mang tên một danh nhân, một nhà yêu nước Việt Nam đi thăm quan các danh lam, thắng cảnh như: Đền Hùng, Đền Kiếp Bạc, cố đô Hoa Lư, di tích Lam Sơn nhằm giáo dục tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ.

 

Năm 1942, ông cùng các bạn bè như: Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Thúc Hào cho ra đời tờ báo khoa học đầu tiên của nước ta bằng tiếng Việt do giáo sư Nguyễn Xiển làm chủ bút. Ông phụ trách mục Khoa học viễn tưởng và thường xuyên viết bài về những chuyến bay của con người ra ngoài hành tinh trong tương lai.

 

Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp, trường học phải đóng cửa, giáo sư được điều động làm Giám đốc Đông dương Học xá.

 

Ngày 19/12/1946 toàn quốc kháng chiến. Giáo sư lên chiến khu Việt Bắc và được cử làm Phó Tổng giám đốc Trung học vụ, đồng thời là Đổng lý Bộ Quốc gia giáo dục đến hết năm 1950. Theo ông kể, đấy là thời gian ông dồn tâm huyết, trí tuệ và sức lực cho việc xây dựng bậc trung học trên quy mô cả nước theo phương châm: Việt Nam, hiện đại. Cũng trong thời gian này ông đã biên soạn bộ sách giáo khoa Vật lý cho các trường.

 

Ông đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng ngành Đại học. Ngay từ những ngày đầu chiến tranh, ông đã giúp giáo sư Nguyễn Xiển mở lớp Toán học hàm thụ rồi lớp Toán học đại cương và viết cuốn Toán học đại cương, cuốn Cơ học thuần lý làm tài liệu giảng dạy đầu tiên cho lớp khoa học cơ bản.

 

Năm 1951, để chuẩn bị nhân lực cho tương lai khi đất nước được giải phóng, ông được Nhà nước cử sang dạy tại khu học xá Trung ương đóng tại Nam Ninh Trung Quốc. Lúc này giáo sư Ngụy Như Kon Tum được phân công phụ trách trường Sư phạm cao cấp và làm giảng viên Vật lý trường khoa học cơ bản.

 

Năm 1954, giáo sư được điều về Hà Nội dạy Vật lý tại trường Đại học Sư phạm khoa học.

 

Năm 1956 Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập. Giáo sư được cử làm Hiệu trưởng đầu tiên và đảm nhiệm chức vụ đó suốt 26 năm. Đến năm 1982, ông bước sang tuổi 70 và được Nhà nước cho nghỉ hưu.

 

Có thể nói 26 năm mà giáo sư Ngụy Như Kom Tum làm Hiệu trưởng là những năm tháng đầy sôi động, vô cùng gian khổ nhưng rất đỗi vẻ vang của dân tộc ta, trong đó có 10 năm chống Mỹ cứu nước. Đại học Tổng hợp cũng như Bách khoa, Nông nghiệp, Sư phạm, Kinh tế Quốc dân v.v… đã trở thành những chiến hào chống Mỹ: hai lần sơ tán, phân tán lên trung du, miền núi và về những vùng quê xa Thủ đô và đưa sinh viên ra tiền tuyến, góp phần cùng dân tộc giải phóng miền Nam.

 

Dù bận rộn với công việc quản lý một trường lớn trọng điểm của đất nước, nhưng giáo sư chưa bao giờ rời bỏ công tác giảng dạy. Với vốn kiến thức uyên thâm, cách trình bày hấp dẫn, cuốn hút sự chăm chú của sinh viên, ông được các thế hệ sinh viên đánh giá là người thầy mẫu mực. Ông thường nhắc nhở các thế hệ khoa học trẻ: “Cái quan trọng nhất đối với người làm cán bộ khoa học là đức tính trung thực. Cái gì biết bảo là biết. Còn cái gì không biết thì bảo là không biết. Như thế mới là biết”.

 

Vận dụng những kiến thức uyên thâm về Vật lý, ông đã cùng giáo sư Nguyễn Xiển chung sức xây dựng ngành Vật lý địa cầu Việt Nam. Giáo sư Ngụy Như Kon Tum cũng là Trưởng đoàn các nhà khoa học Việt Nam lần đầu tiên tham dự Hội nghị Vật lý địa cầu quốc tế tại Matxcova năm 1957. 

 

Giáo sư Ngụy Như Kon Tum không chỉ là nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý tài năng, mà còn là nhà hoạt động xã hội đầy tâm huyết, có uy tín với Đảng, Nhà nước, Mặt trận và nhân dân. Ông được nhân dân tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội liên tiếp hai khóa III và IV tổng cộng 11 năm; Ủy viên UBTƯ MTTQ Việt Nam liên tục 36 năm (từ tháng 10-1955 đến lúc mất); Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam; Chánh Thư ký Công đoàn giáo dục Việt Nam (nay đổi là Chủ tịch Công đoàn giáo dục Việt Nam), Ủy viên Ban Chấp hành công đoàn giáo dục thế giới, Ủy viên Ban Chấp hành Hội hữu nghị Việt – Pháp.

 

Có nhiều năm cùng tham gia Mặt trận, đặc biệt là từ năm 1982 được nghỉ hưu, giáo sư có thời gian tham gia Hội đồng tư vấn giáo dục do giáo sư Nguyễn Lân làm Chủ nhiệm, tôi là thường trực, mối quan hệ giữa chúng tôi thường xuyên và gắn bó hơn. Dấu ấn đậm nét mà ông để lại trong tôi: Đó là con người nhân hậu, khiêm tốn với một cuộc sống thanh bạch – với cái tâm trong sáng: Tất cả vì dân, vì nước.

 

Là một Hiệu trưởng trường lớn, một giáo sư tầm cỡ, người đứng đầu ngành Vật lý hạt nhân của đất nước, ông vẫn sống trong một căn phòng nhỏ ở phố Nguyễn Huy Tự. Tôi được biết đã có lần đồng chí Hoàng Quốc Việt – Chủ tịch Tổng Công đoàn và đồng chí Trần Duy Hưng – Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã bàn và thống nhất bố trí để ông về ở một căn hộ rộng hơn tại nhà B khu Kim Liên song ông khước từ với lý do: “Nhiều anh em còn chưa có chỗ ở, tôi không nỡ làm như vậy”.

 

Hội nghị UBTƯ MTTQ Việt Nam lần thứ tư khóa III họp vào cuối tháng 2/1991 tại TP Hồ Chí Minh. Ngoài những công việc thường lệ, Hội nghị có nhiệm vụ thảo luận và tham gia ý kiến vào Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng.

 

Do vậy, hội nghị diễn ra trong 5 ngày và nhiều vấn đề nóng bỏng được tranh luận khá thẳng thắn. Gần cuối giờ sáng ngày thứ ba của Hội nghị, trong lúc Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Phạm Văn Kiết đang đọc Bản tổng hợp các ý kiến Hội nghị đóng góp cho Đảng thì dưới Hội trường có tiếng kêu: Giáo sư Ngụy Như Kon Tum bị cảm nặng. Tôi được Ban Thư ký (tức Ban thường trực ngày nay) phân công cùng 2 giáo sư y học là Nguyễn Tài Thu và Quang A (là Ủy viên UBTƯ Mặt trận) đưa ông vào cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hơn một tuần sau, Mặt trận bố trí thuê hẳn một khoang máy bay với một ê kíp bác sĩ cấp cứu đưa giáo sư ra Bệnh viện Việt Xô điều trị.

 

Do trọng bệnh, giáo sư ra đi vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 28/3/1991 và được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch. 

 

Theo ĐĐK

 

 

>> XEM TƯ LIỆU THAM KHẢO KHÁC...   

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.