Tin mới Xem thêm

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

  • Nguyễn Quang Sáng cánh chim sếu đầu đỏ

    Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị

  • Truyện ngắn Hoàng Hiền: Mẹ con

    U nghỉ đi, con về thu xếp. Dứt lời, Hiên đi ra sân nổ máy lao vút ra cổng, mấy con chó con chạy theo sủa ăng ẳng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tư Liệu Văn Học

Sự nghiệp lẫy lừng trên biển của vua Gia Long

16.10.2011-22:36

Hoàng đế Gia Long

 

Sự nghiệp lẫy lừng trên biển của vua Gia Long

 

GS. NGUYỄN QUANG NGỌC

 

NVTPHCM- “GS Vu Hướng Đông đã nói khá đúng về những công tích lẫy lừng trên biển của vua Gia Long. Chỉ tiếc một điều (có thể ông đã quên, hay cố tình quên) là chưa nói tới hoạt động thực thi chủ quyền của vua Gia Long và vương triều Gia Long ở Hoàng Sa và Trường Sa, mà theo tôi đấy mới chính là sự nghiệp lẫy lừng nhất của vua Gia Long ở trên biển”- GS.TS Nguyễn Quang Ngọc nhận định.

 

Thuỷ quân - sức mạnh triều Nguyễn

 

Đã quá lâu rồi người ta quen nhìn nhận tất cả những gì của Tây Sơn thì đều làtiến bộ cách mạng, còn của nhà Nguyễn thì chỉ làlạc hậu phản động, mà quên đi rằng Tây Sơn đến thời Quang Toản cũng đã tàn tạ, suy kiệt và đâu còn tiến bộ nữa. Nguyễn Ánh đành rằng phải chịu trách nhiệm hết sức nặng nề trước lịch sử vì đã từng rước quân ngoại bang về dày xéo bờ cõi. Nhưng ông là người có tài cầm quân, có tài tổ chức và tập hợp dân chúng, thừa hưởng được những thành quả của các thế hệ cha ông và của cả Tây Sơn nữa, nếm mật nằm gai mở cõi và định cõi, làm nên một nước Việt Nam thống nhất, rộng dài và trọn vẹn như ngày hôm nay. Sự nghiệp này của ông liệu có lẫy lừng không nhỉ?

Hơn 40 năm trước, từ khi còn là sinh viên Khoa Lịch sử, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi đã từng trăn trở về câu ca dao này:

“Lạy trời cho chóng gió nồm,

Để thuyền chúa Nguyễn thuận buồm trẩy ra.”

Lúc đầu tôi không hiểu và còn buồn cho những người dân mà tôi nghĩ là họ thiếu “ý thức chính trị”. Nhưng khi đi sâu tìm hiểu sự thay đổi tương quan lực lượng giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh từ sau khi vua Quang Trung tạ thế, thì tôi mới vỡ lẽ ra rằng sự mong đợi của họ là đúng và có lý. Đã đến lúc họ trông chờ đoàn thuyền hùng mạnh của Nguyễn Ánh ào ra Bắc lật nhào ngai vàng ruỗng nát của vua Quang Toản càng sớm càng tốt.

Lực lượng của Nguyễn Ánh lúc này tập trung ở Gia Định và con đường tấn công ra Bắc chủ yếu bằng thuyền. Quân đội Tây Sơn tuy mâu thuẫn, chia rẽ nhưng cũng còn đông, trong đó thuỷ quân xem ra cũng còn khá mạnh. Cuộc đối chọi một mất một còn giữa thuỷ quân Nguyễn Ánh và thuỷ quân Tây Sơn ở dọc dải ven biển từ Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên, Thị Nại, Quy Nhơn, Phú Xuân, Nhật Lệ, cửa Hội... cho thấy sự phát triển hơn hẳn của binh thuyền Nguyễn Ánh. Đến trận đánh cuối cùng vào thành Thăng Long cũng có một đạo thuỷ quân của Nguyễn Ánh vượt biển vào sông Vị Hoàng và ngược sông Hồng đánh lên...

Thuỷ quân Nguyễn Ánh trưởng thành trong quá trình giành và giữ đất Nam Bộ, lại được sự giúp đỡ và đào tạo trực tiếp của chuyên gia giỏi phương Tây như anh em nhà Dayot, như Jean Baptiste Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng)... được tổ chức, trang bị các phương tiện kỹ thuật, vũ khí hiện đại, đã đánh bại quân đội và thủy quân Tây Sơn. Sau chiến thắng, thuỷ quân, hải quân của vua Gia Long được tổ chức lại chính quy hơn trở thành lực lượng chủ chốt bảo vệ đất nước, vương triều và biển đảo rộng mênh mông của Tổ quốc. M.A.Dubois de Jancigny, phái viên của Chính phủ Pháp ở Trung Quốc và Đông Dương mô tả lực lượng hải quân của vua Gia Long: “Hạm đội bao gồm những pháo thuyền mang theo từ 16 đến 22 khẩu đại bác. Những thuyền lớn có từ 50 đến 70 mái chèo, những thuyền nhỏ có hơn 40 hoặc 44 mái chèo”.

GS Vu Hướng Đông, chuyên gia Trung Quốc nghiên cứu về biển đảo Việt Nam, thừa nhận: “Nhân tố biển đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của các thế lực cát cứ các chúa Nguyễn. Các đời chúa Nguyễn phần nhiều chú ý triển khai hoạt động biển và phát triển sự nghiệp biển. Vua Gia Long nhờ vào biển để phát triển thế lực của mình, đánh thắng thuỷ quân Tây Sơn bằng thuỷ chiến. Thời Gia Long đã ra sức phát triển lực lượng thuỷ quân, đóng thuyền buồm và tàu chiến và cử tàu thuyền ra nước ngoài. Vua Gia Long từng lệnh cho Bộ Công tổ chức biên soạn cuốn Duyên hải lục ghi chép độ sâu của thuỷ triều ven biển và cây số đường biển. Ông lên ngôi, nước Xiêm xin triều Nguyễn xuất quân từ đường thuỷ và đường bộ để giúp họ đánh Miến Điện, vua Gia Long cho rằng không thể đi theo đường bộ, nên đi theo đường biển qua Hải Tây để hợp binh với nước Xiêm... Vua Gia Long đã khá quen thuộc về đường giao thông ven biển và đường giao thông trên biển giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á”.

Bản dập mộc bản thời Nguyễn nói về việc vua Gia Long phái thuỷ quân ra Hoàng Sa đo đạc

 

Hoàng Sa, Trường Sa- sự nghiệp lẫy lừng nhất của Gia Long

 

Như thế, GS Vu Hướng Đông đã nói khá đúng về những công tích lẫy lừng trên biển của vua Gia Long. Chỉ tiếc một điều (có thể ông đã quên, hay cố tình quên) là chưa nói tới hoạt động thực thi chủ quyền của vua Gia Long và vương triều Gia Long ở Hoàng Sa và Trường Sa, mà theo tôi đấy mới chính là sự nghiệp lẫy lừng nhất của vua Gia Long ở trên biển.

Theo sách Đại Nam thực lục Chính biên thì vào năm 1803, nghĩa là chỉ mới mấy tháng sau khi thành lập vương triều Nguyễn, vua Gia Long đã chính thức “sai mộ dân ngoại tịch lập đội Hoàng Sa” theo như truyền thống có từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên gần 2 thế kỷ trước. Đặc biệt liên tục trong các năm 1815, 1816, ông “sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển” và triển khai các hoạt động thực thi chủ quyền một cách kiên quyết và đồng bộ. Ông còn mở rộng quan hệ với các nước, nhận địa đồ đảo Hoàng Sa từ thuyền Mã Cao năm 1817, tuyên bố về hoạt động chủ quyền của vương triều mình ở Hoàng Sa và Trường Sa mà không có bất cứ một quốc gia nào phản đối hay có ý định tranh giành với ông. Đây là một trong những trang đẹp nhất, rạng rỡ và ngời sáng nhất của lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ riêng Việt Nam, mà cả thế giới đều biết.

Về thăm đảo Lý Sơn- quê hương của đội Hoàng Sa, chúng tôi thấy nhà thờ Phạm Quang Ảnh có đôi câu đối mà theo chúng tôi chính là biểu tượng tuyệt vời của truyền thống anh hùng quả cảm Việt Nam ngoài biển đảo:

“Trung can huyền nhật nguyệt,

Nghĩa khí quán càn khôn”

Điều rất đặc biệt là người dân địa phương cho đến nay vẫn còn giữ được rất nhiều tư liệu quý báu minh chứng cho một lịch sử vô cùng gian khó và hào hùng khai chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Trong các nguồn tài liệu phong phú và độc đáo này, có một số tư liệu vô giá của thời Gia Long như Tờ kê trình của Phú Nhuận hầu viết vào năm Gia Long thứ 2 (1803); Đơn của phường An Vĩnh ngày 11 tháng 2 năm Gia Long thứ ba (1804), Văn khế bán đoạn đất của xã An Vĩnh phục vụ cho hoạt động của đội Hoàng Sa lập vào năm Gia Long thứ 15 (1816)...

Hoạt động chủ quyền của vua Gia Long ở Hoàng Sa và Trường Sa đã được người phương Tây vô cùng khâm phục và đặc biệt đề cao. Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) từng viết hồi ký xác nhận: “Xứ Đàng Trong mà Quốc vương ngày nay mang danh hiệu Hoàng đế bao gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc của Cao Miên, một vài đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Hoàng Sa, gồm có những đảo nhỏ, bãi đá ngầm và mỏm đá không người ở. Chỉ đến năm 1816 thì nhà vua hiện nay (vua Gia Long) mới chiếm hữu được quần đảo này”.

Giám mục Jean Louis Taberd cho rằng: Quần đảo Pracel “Vào năm 1816, nhà vua (vua Gia Long) đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc là sẽ không có một ai sẽ tìm cách tranh giành với ông ta”. Ông còn cho xuất bản cuốn Từ điển La Tinh An Nam và kèm theo tấm bản đồ An Nam đại quốc họa đồ, trong đó có vẽ một cụm các đảo nhỏ với dòng chữ ghi chú: Paracel Seu Cát Vàng, khẳng định chính thức và chính xác Paracel hay là Bãi Cát Vàng thuộc vào bản đồ nước Việt Nam.

Tiến sĩ Gutzlaff, hội viên của Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn, biên soạn cuốn sách Geography Of The Cochinchinese Empire cho biết: “Chính phủ An Nam nhận thấy lợi ích có thể đem lại được nếu như dựng lên một ngạch quan thuế và đã duy trì những thuyền đánh thuế và một đội quân nhỏ đồn trú ở tại chỗ để thu thuế đối với tất cả những ai đến đó, và để bảo vệ những dân chài của nước họ”.

Năm 1850, M.A.Dubois de Jancigny viết sách nói rõ: “Chúng tôi chỉ muốn nhận xét rằng đã từ 34 năm nay (tức là từ 1816 đến 1850), quần đảo Paracels(mà những người An Nam gọi là Cát Vàng), thật là một chốn mê cung chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát thật sự đã làm những người đi biển kinh hãi và chỉ có thể kể đến trong số những địa điểm hoang vu cằn cỗi nhất của địa cầu, quần đảo do đã bị các người xứ Đàng Trong chiếm giữ. Chúng tôi không rõ họ đã có đặt một cơ sở nào không (có thể với mục đích là bảo vệ công việc đánh cá), nhưng chắc chắn rằng nhà vua Gia Long đã chủ tâm đính thêm đoá hoa độc nhất vô nhị đó vào chiếc vương miện của ông, bởi vì ông đã xét thấy cần thiết phải đi tới việc đích thân chiếm giữ lấy quần đảo đó, và chính vì thế mà năm 1816 ông đã long trọng kéo lá cờ xứ Đàng Trong lên mảnh đất đó”.

Đấy mới chỉ là một vài thông tin ban đầu mà tôi vừa tập hợp được qua một góc nhìn còn nhiều hạn hẹp. Nhưng chỉ với một số lượng thông tin này, theo tôi, cũng có đủ cơ sở để nhận định “Gia Long là vị vua có một sự nghiệp lẫy lừng trên biển”. Còn điều gì thêm nữa, mong bạn đọc bổ sung và chỉ giáo. Tôi xin được chân thành cảm ơn.

 

GS. Nguyễn Quang Ngọc

 

Xung quanh câu chuyện Đứng trước biển của dân tộc Việt Nam nhìn từ góc độ lịch sử, GS. Nguyễn Quang Ngọc- viện trưởng Viện Việt Nam học đã có cuộc trao đổi với phóng viên…

 

* Một số quan điểm cho rằng người Việt Nam mình trong tâm thức đã né biển. Vì né biển nên mới có câu như “rừng vàng, biển bạc”, hay những nhân vật làm nghề chài lưới thường chỉ có thân phận thấp kém trong các tích truyện. Ông nghĩ sao về nhận xét này?

- Kể ra, nếu chỉ nói người Việt ở vùng châu thổ sông Hồng thì cũng có bộ phận “xa rừng, nhạt biển” (chữ của GS Ngô Đức Thịnh) thật. Cái lý của hiện tượng này là vì người Việt đồng bằng gần như giải quyết được tất cả các thứ để củng cố một nền kinh tế mang tính tự cấp tự túc. Cho nên vươn ra biển một cách mạnh mẽ thì dân cư ở châu thổ sông Hồng xem ra không bằng các vùng khác.

Nhưng người Việt Nam mình sống cạnh và khai chiếm biển từ rất sớm. Không phải ngẫu nhiên dòng giống của người Việt trong truyền thuyết là Lạc Long Quân với Âu Cơ. Từ hậu kỳ thời đại đồ đá cũ đã thấy người sống trên các đảo rồi. Mà có phải người ta bơi ra đó đâu. Ví dụ lớp cư dân Hạ Long là những người khai thác biển mạnh. Văn hóa Hạ Long chạy dài suốt cả dải ven biển, chạy dài sang Trung Quốc, chạy lên phía Bắc, chạy suốt khu vực Đông Nam Á. Người Việt đã khai thác biển từ rất sớm. Họ đi dọc dải đảo ven biển, tính từ vịnh Hạ Long, đến Phú Quốc, Côn Đảo… Ở Trường Sa, khảo cổ học còn tìm thấy dấu tích của văn hóa Sa Huỳnh. Thậm chí văn hóa Sa Huỳnh còn kéo dài đến tận Philippines. Như thế để thấy rằng ở những thời điểm này, thời điểm khác, vùng này, vùng khác có những thời đoạn, khu vực đúng là hơi nhạt biển thật, nhưng càng đi vào miền Trung, miền Nam sự hướng biển của dân tộc ta càng mạnh.

 

* Theo ông, vì sao miền Trung lại hướng biển mạnh hơn?

- Yếu tố địa hình có thể giải thích tại sao miền Trung lại tiến ra biển rất sớm và rất mạnh. Bởi vì phía trên là dãy Trường Sơn, dải đồng bằng lại hẹp, không đủ để nuôi sống con người. Chỉ trồng lúa mà bám lấy cánh đồng thì đói. Thêm việc dân cư phát triển thì không còn cách nào khác phải hướng ra biển. Nên từ rất sớm, những bộ tộc người sống trên dải đất miền Trung từ hậu kỳ đồ đá mới sang đến sơ kỳ của thời đại đồ đồng đã tiến ra biển.

Với miền Trung, ta có thể nói tới kỳ tích khai thác biển của Vương quốc Chămpa. Chămpa có thể là gì khác ngoài một vương quốc biển. Đó chính là vương quốc khai thác biển vào loại mạnh nhất châu Á. Điều này đã được thế giới công nhận.

 

* Còn sự mạnh mẽ trước biển của cư dân miền Nam thì sao, thưa ông?

- Tương đương với Vương quốc Chămpa chính là Vương quốc Phù Nam. Mà Phù Nam phát triển được là nhờ biển. Phù Nam chính là văn hóa cảng thị, Óc Eo là một cảng thị. Tại sao Óc Eo phát triển được? Bởi nó nằm trên đường hàng hải quốc tế từ Đông sang Tây, Tây sang Đông.

 

* Nghĩa là người Việt chúng ta có một lịch sử khai thác biển đáng để tự hào?

- Các vương quốc cổ đại của ta phát triển mạnh là nhờ biển, tuy có khai thác đất đai và một phần khai thác rừng. Chứng cứ lịch sử cho thấy rất rõ điều đó. Nếu ai nói Chămpa không khai thác biển, Phù Nam không khai thác biển thì phải nói người đó không biết sử. Nên nói người Việt Nam không khai thác biển cũng là không hiểu lịch sử.

Thời kỳ dựng nước đầu tiên ta có 3 trung tâm lớn. Châu thổ sông Hồng với Nhà nước Âu Lạc, do đặc điểm của châu thổ nên có thể có một bộ phận cư dân không quan tâm nhiều đến biển, nhưng lớp cư dân Hạ Long vẫn là người khai thác biển rất mạnh. Hai trung tâm còn lại, Chămpa và Phù Nam thì chủ yếu sống bằng khai thác biển. Đặc biệt Phù Nam, sau này, thậm chí còn trở thành đế chế thống trị toàn bộ Đông Dương, lục địa Đông Nam Á nhờ khai thác biển. Nếu chỉ là đất liền Phù Nam không mạnh đến thế. Về nguồn gốc tạo thành lịch sử, văn hóa Việt Nam là như vậy. Còn trong quá trình phát triển có chuyện người Việt tiến xuống khu vực phía Nam, là nhờ biển. Đường đi vào Nam, nói như GS Trần Quốc Vượng, là hết đèo này đến đèo kia, nên phải đi bằng thuyền. Quá trình khai chiếm vùng Nam bộ là quá trình đồng thời với việc các đoàn thuyền vươn ra chiếm lĩnh các đảo giữa biển khơi Hoàng Sa và Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc, Thổ Chu… Khi tiến xuống đồng bằng, người Việt đồng thời tiến bằng đường biển, mở rộng cả duyên hải lẫn hải đảo.

Trong bản đồ tôi chụp tại một thư viện châu Âu, có vẽ một đảo của người Đàng Trong. Họ ghi rõ đảo của người Đàng Trong, ở khu vực có ngọc trai, trầm hương. Trong bản đồ Việt Nam ta gọi là Vũng Thơm, hay Hương Úc. Sang thế kỷ 18, ta đã tiến đến vùng này rồi. Như thế, làm gì có chuyện chúng ta không biết biển, không khai thác biển.

Tục ngữ còn có câu: Ai về nhắn với Nậu Nguồn/Măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên. Tức là ở Bình Định, hàng hóa gửi từ trên xuống, kết hợp rừng biển như vậy. Người ở đồng bằng trồng lúa cung cấp cho cả hai vùng núi, biển. Như thế mà bảo ta quay lưng lại với biển thì lạ thật.

 

* Không quay lưng với biển nhưng cũng có ý kiến cho rằng chúng ta chỉ chờ người ta đến chứ không tự tìm đường đi xa…

- Thời gian gần đây có thể như vậy, nhưng trước đây Việt Nam có nhiều thương cảng rất nổi tiếng. Hội An là một thương cảng được UNESCO công nhận với tư cách là một thương cảng quốc tế. Tôi sang Nagasaki có thấy giới thiệu về thuyền Quảng Nam. Thậm chí, chúa Nguyễn Phúc Nguyên còn cho cả một cô con gái sang Nagasaki lấy chồng - ông Araki Sotaro, thực tế là một nhà buôn lớn. Ở Nagasaki - một cảng lớn của Nhật Bản còn có một đội ngũ phiên dịch tiếng Việt là Tông Kinh thông sự. Tông Kinh lúc đó là khu vực Đàng Ngoài do vua Lê chúa Trịnh cai quản, còn thông sự là phiên dịch.

 

* Như vậy, có nghĩa là chúng ta đã tiến ra khai chiếm đảo ở biển Đông từ rất sớm?

- Đúng là như thế. Tôi từng có bài trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử về điều này. Từ thời kỳ Vua Lý Anh Tông, lúc đầu ông lập hành dinh trại Yên Hưng, sau đó mở ra trang Vân Đồn. Sau đó, chính ông là người tổ chức các cuộc điều tra khảo sát, vẽ bản đồ các vùng biển đảo, quản lý khai thác biển từ giữa thế kỷ 12.

Từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, khi thành lập đội Hoàng Sa, các chúa Nguyễn vẫn thưởng tiền cho những người vẽ bản đồ vùng biển này. Với Hoàng Sa, Trường Sa, Vua Gia Long đã chiếm tất cả các đảo, thậm chí là người duy nhất đặt lá cờ của mình lên trên các vùng Hoàng Sa, Trường Sa. Gia Long là vị vua có một sự nghiệp lẫy lừng trên biển. Ông còn mời hải quân Pháp xây dựng những hạm đội hùng dũng. Chúng ta còn có hẳn chiến lược biển đảo thời Tây Sơn đấy.

 

* Ngoài Chămpa, Phù Nam, chúng ta còn có điều gì đáng nói về khai thác biển nữa, thưa ông?

- Có chứ, Hà Tiên chẳng hạn. Chúng tôi nghiên cứu Hà Tiên dựa trên rất nhiều tư liệu nước ngoài và thấy đây là một ví dụ về khai thác biển vô cùng ghê gớm. Nó cung cấp lúa gạo cho toàn bộ Đông Nam Á, chưa kể là điểm trung chuyển thiếc cực lớn.

Điều thú vị là sản xuất lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long, sản xuất thiếc ở Bangka và sự bùng nổ thương mại giữa Hà Tiên và Quảng Đông có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong cùng một thời kỳ. Vào những năm 1760-1780, sản xuất thiếc ở Bangka đạt đến đỉnh cao - trở thành một yếu tố thúc đẩy thương mại ở Hà Tiên và Đàng Trong. Hà Tiên với vị trí chiến lược bên bờ vịnh Thái Lan đã tận dụng những lợi thế của mình để trở thành điểm trung chuyển chủ yếu của các hàng hóa như lúa gạo, thiếc cung cấp cho các thị trường Đông Nam Á và Trung Hoa.

Ngoài ra, Nam bộ tuy mới khai phá vào thế kỷ 17, nhưng cuối thế kỷ đó đã trở thành một vùng đất trù phú phát triển mạnh với 4 trung tâm lớn. Chúng cũng đồng thời là 4 trung tâm kinh tế hàng hóa lớn, 4 trung tâm giao thương quốc tế lớn. Đó là: Cù lao Phố, Bến Nghé Sài Gòn, Mỹ Tho và Hà Tiên. Nếu dân ta chỉ biết cày ruộng không thôi thì làm sao phát triển được như thế này. Tất nhiên, trong đó có vai trò nhất định của người Hoa, nhưng người làm nên phải là dân Nam bộ, chủ yếu là người Việt chứ.

 

* Nghĩa là, theo ông, người Việt Nam là dân tộc hướng biển?

- Rất lưu ý phân biệt người Việt và người Việt Nam. Người Việt thì có thể có một bộ phận nhạt biển. Còn người Việt Nam lại hướng biển. Người ở vùng đồng bằng sông Hồng cũng đứng trước biển đấy nhưng biển đó là vịnh, chỉ như cái ao thôi. Nhưng còn miền Trung, miền Nam mà không vươn ra biển thì chết, cho nên người ta buộc phải vươn ra biển.

Cũng phải nói, đứng trước biển là vô cùng gian nan. Như Nhật Bản chẳng hạn, một cơn sóng thần có thể xóa đi nhiều điều. Nhưng phải chấp nhận, bởi đó chính là lẽ sống. Mới đây, tàu bị cắt cáp là thế, ra biển gian nan là thế, dân Lý Sơn vẫn đi biển vì đó là lẽ sống của người ta. Chẳng nhẽ ngồi nhà mà chết. Nói thế để thấy, người dân gắn với biển rất mạnh. Nếu quay lưng lại với biển, làm sao trong ca dao lại có câu: Trường Sa đi có về không/Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi. Có Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vì sao, vì biết ra ngoài đó 90% là chết. Nhưng họ vẫn đi vì đó là quê hương, là lẽ sống.

* Xin cảm ơn ông!

Theo TT&VH

TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC:

>> Đằng sau vụ 'Chiếm phố Wall" ở Mỹ

>> Đoàn hoa hậu Việt làm từ thiện... 1,5 triệu đồng

>> Từ tội đồ thành chiến sĩ

>> Bí ẩn mô hình tư bản mới ở châu Á

>> Chồng keo kiệt giết vợ chỉ vì miếng ăn

>> Steve Jobs siêu phàm và bí ẩn

>> Mối quan hệ giữa Trần Đức Thảo - Phạm Văn Đồng

>> Nhật Bản tạo dựng ảnh hưởng mới ở Đông Nam Á

>> Vì sao phụ nữ 26 tuổi biến thành "cụ bà 70"?

>> Sẽ không đăng bài viết có "đường lưỡi bò"

>> Bi kịch nhiều tiền của nam tiếp viên hàng không

>> Động thái bất ngờ của Tổng thống Myanmar

>> Bắt "đại gia" Lê Văn Phổ vì chạy án

>> Phát hiện khoa học: Einstein có thể đã sai

>> Người sống qua ba thế kỷ nhờ... lạc quan

>> Xài sang bằng tiền ngân sách

>> Doanh nghiệp Việt đua nhau xuất ngoại

>> Thứ trưởng Bộ Y tế khai gian học vị tiến sĩ

>> Hồi kết vụ ghi chức danh cha trên thiệp cưới con

>> Khám phá vũ khí hạt nhân trên thế giới

>> Nguyên Chủ tịch nước Võ Chí Công từ trần

>> Tàu lớn ở Biển Đông đe doạ đối thủ?

>> Nét độc đáo của bản Tuyên ngôn độc lập 2.9.1945

>> Tướng Trung Quốc tiết lộ chuyện gián điệp

>> Lời hịch Hoàng Sa

>> Quốc hội thanh tra về đại biểu Đặng Thị Hoàng Yến

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.