Tin mới Xem thêm

  • Thơ Lê Đạt: Cha tôi

    Đất quê cha tôi/ đất quê Đề Thám/ Rừng rậm sông sâu/ Con gái cũng theo đòi nghề võ/ Ngày nhỏ/ cha tôi dẫn đầu/ lũ trẻ đi chăn trâu/ Phất ngọn cờ lau/ Vào rừng Na Lương đánh trận/ Mơ làm Đề Thám/ Lớn lên/ cha tôi đi dạy học/ Gối đầu trên cuốn Chiêu hồn nước/ Khóc Phan Chu Trinh/ Như khóc người nhà mình/ Ôm mộng bôn ba hải ngoại/ Lênh đênh khói một con tàu

  • Trần Hữu Thung ‘ở quê’ như tôi biết

    Chỉ đến khi nghe về Trần Hữu Thung qua anh em, bè bạn, đọc thơ văn của ông, trực tiếp nghe ông nói thật khẽ, thật sâu, tôi mới hiểu, rằng, càng trở về quê

  • Trần Quốc Cưỡng - Mùa chim chích

    Mùa mưa, đồng lác làng Hạ nước trắng xóa. Những chú chim chích bấu víu những cọng lác làm tổ. Chúng sinh con ngay trong mùa đông

  • Hội nhà văn và chuyện hỗ trợ sáng tác, xuất...

    Một thực tế không thể phủ nhận là tại các hội nhà văn, điều thường được hội viên nhắc mỗi kỳ hội nghị là tác phẩm viết ra nhưng không tìm được nguồn xuất bản, trong khi ngược lại, các nhà xuất bản lại luôn than rằng không có bản thảo của tác giả trong nước để xuất bản

  • Ngôn ngữ độc thoại trong truyện ngắn Nguyễn...

    Ngôn ngữ độc thoại là một phần quan trọng của tác phẩm văn chương. Cùng với ngôn ngữ đối thoại nó hoàn chỉnh tác phẩm ở góc độ

  • Thanh Quế một chấm nhỏ muôn đời xê dịch

    Anh không thể quên em/ Chiếc hôn đằm thắm/ Dưới vòm cây xao động/ Một đêm hè đầy sao/ Anh không thể quên em

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tư Liệu Văn Học

Từ Hoàng Sa nghĩ việc sòng phẳng với lịch sử

19.01.2014-09:30

 

 

>> Sau 40 năm nhìn lại hải chiến Hoàng Sa

 

Từ Hoàng Sa nghĩ về

việc sòng phẳng với lịch sử

 

NGUYỄN CHÍNH TÂM

 

NVTPHCM- Ở một thế hệ mà tồn tại nhiều hình dung quá khứ “khác”, thậm chí “đối nghịch nhau” thì đâu là chất keo kết dính cộng đồng? Câu trả lời đơn giản, những rõ ràng: đó là sòng phẳng với lịch sử.

 

Sòng phẳng trước hết là công khai hai chiều, tạo nên nhiều kênh tương tác. Tính tương tác huy động được nhiều tầng lớp xã hội khác nhau cùng suy nghĩ. Những điểm có thể chung, có thể riêng của “chúng ta” và “chúng tôi” được chia sẽ, giải bày và tranh luận. 

Tính tương tác tạo cảm giác cho mỗi cá nhân thấy tiếng nói mình được lắng nghe, đóng góp mình được chia sẻ và hy sinh được coi trọng. Tương tác nhiều lúc dẫn đến khác biệt, nhưng khác biệt đó không nhất thiết tạo ra mâu thuẫn. Ngược lại, thiếu sự tương tác là mầm móng của các xung đột vô hình. 

Sòng phẳng là khen, là chê những việc cần khen, và cần lên án. Bất kỳ một hệ thống công luận nào đều mang trong nó những giá trị tự thân nhất định. Gía trị đó là “kim chỉ nam” dẫn dắt các cuộc tranh luận theo những hướng. Nhưng giá trị luôn luôn chuyển dịch, song hành cùng hai yếu tố là hoàn cảnh và sự thật mới được đưa ra ánh sáng. 

Trong mối quan hệ giữa kinh nghiệm và định hình tương lai, tự hiểu biết về xã hội đương đại và những nỗ lực hợp thức lịch sử và chính trị có xu hướng kết hợp lại, tạo ra những thang giá trị nhận định mới.

Sòng phẳng còn là tìm sự đồng thuận trong sự khác biệt với nhau (dẫu cho sự khác biệt đó có khi không bao giời rút ngắn được). Người Đức đã cố gắng trong nhiều năm trời tìm một đồng thuận giữa những nạn nhân chế độ Đức Quốc xã và những người đã gây ra tội ác. 

Đến thời điểm này khó có thể nói họ đã thành công hoàn toàn. Dù sách giáo khoa đã viết rõ ràng về Holocaust (tên gọi cuộc tàn sát chủng tộc của Đức Quốc Xã), dù cho giữa thủ đô Berlin một đài tưởng niệm người Do Thái được xây dựng, dù cho trên mỗi phát biểu-mỗi thông điệp của lãnh đạo cấp cao đều nói về lỗi lầm và trách nhiệm. Nhưng đó vẫn là một nỗ lực, được thế giới, và quan trọng hơn những người dân Đức công nhận.    

Sòng phẳng với lịch sử là một quá trình khó, bởi vì quá khứ luôn gắn kết với hiện tại qua nhiều chiều lăng kính đa chiều. Nó kích hoạt những bộ nhớ khác nhau nhiều sự kiện khác nhau, mà đôi khi nhiều cá nhân không tìm thấy mình trong đó. 

Mặt khác việc hình thành một chia sẽ (hay đồng thuận) chung về ký ức không phải lúc nào cũng khả thi, khi những chia sẽ đó chưa chắc có lợi cho hiện tại, cả về chính thể, lẫn con người. Nó sẽ tạo ra phản đối, thậm chí phản khán.

Trong nhiều thời khắc lịch sử, thúc đẩy (hoặc ít nhất là giữ gìn) xu hướng của một cộng đồng gắn kết và một thế chế mạnh không phải lúc nào cũng có thể. Một số từ nguyên nhân khách quan lịch sử, một số từ ý chí chủ quan của con người. 

Thậm chí từ những tác động từ các yếu tố bên ngoài mà những người trong cuộc cũng khó lòng lường trước. Nhưng dẫu từ lý do gì đi nữa, các đáp số tiệm cận kết quả cuối cùng: niềm tin lý tán, lòng người hoang mang, các thiết chế hướng tới mục tiêu quản trị được xem như công cụ kiểm soát.   

Vì thế khởi động quá trình đòi hỏi một tầm nhìn xa hơn những sự vụ thông thường, những lợi ích được mất hay những khen chê trong ngắn hạn. Tầm nhìn đó hướng về một cộng đồng liên kết, nơi mà sẽ không có người bên này hay bên kia chiến tuyến. Tầm nhìn đó hướng về một thế chế mạnh, một thể chế dung nạp cả những người khác lịch sử, khác góc nhìn hay nhìn nhận về quá khứ. Tầm nhìn đó hướng về một quốc gia vững trãi, nơi mà bao gồm sự tương tác của hai yếu tố trên.

Cần xây dựng những cây cầu hiện tại với quá khứ. Đó không phải là đôi bờ sông Gianh, hay Bến Hải. Đó là cây cầu từ lòng người với việc hiểu và thấu hiếu giữa hai bên. Kỷ niệm, thảo luận công khai và ghi nhận 40 năm hải chiến Hoàng Sa là cây cầu như vậy. Như một cách hiệu quả nhất để chúng ta sòng phẳng với lịch sử.

 

Giáo sư Carl Thayer

 

Giáo sư Carl Thayer:

“Cần tổ chức hội thảo quốc tế

về trận hải chiến Hoàng Sa”

 

 

"Tôi đánh giá là cộng đồng quốc tế sẽ muốn thấy tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa được giải quyết hòa bình theo luật pháp quốc tế, mà không có sự ép buộc hay đe dọa sử dụng vũ lực"- Giáo sư Carl Thayer (Học viện Quốc phòng Úc) nói về công cuộc bảo vệ chủ quyển của Việt Nam đối với Hoàng Sa.

 

* Theo ông Việt Nam cần làm gì để tiếp tục đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng gây hấn? Liệu các hành động cứng rắn có phù hợp hay không? Tại sao?

- Việt Nam hiện có 3 lựa chọn liên quan tới tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa: 

(1) Chấp nhận hiện thực rằng Trung Quốc đã chiếm giữ và quản lý Hoàng Sa 

(2) Cần tiếp tục khẳng định tuyên bố chủ quyền thông qua các biện pháp chính trị và ngoại giao

(3) Có thể cố gắng “giành lại” Hoàng Sa bằng lực lượng quân sự.

Trong đó, tôi cho rằng lựa chọn (2) là khả thi nhất trong bối cảnh hiện tại. Để có thể duy trì tuyên bố chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam cần phải phản đối tất cả hành động tăng cường yêu sách chủ quyền của Trung Quốc.

Ví dụ trường hợp chính quyền tỉnh Hải Nam áp đặt các quy định đánh cá mới có hiệu lực từ 1.1.2014, nếu Việt Nam không phản đối hành động này, nó sẽ được xem như là sự thụ đắc của Trung Quốc trong luật quốc tế.

Xung đột tuyên bố chủ quyền chỉ có thể được giải quyết bằng luật pháp quốc tế khi cả hai quốc gia đều đồng ý. Và Trung Quốc sẽ không thảo luận về tranh chấp Hoàng Sa với Việt Nam vì Trung Quốc càng chiếm giữ Hoàng Sa lâu bao nhiêu, thì ưu thế của Trung Quốc càng lớn hơn bấy nhiêu.

Nhưng nếu Việt Nam kiên trì khẳng định các tuyên bố chủ quyền, thì có thể (dù không chắc chắn) Trung Quốc sẽ thảo luận vấn đề Hoàng Sa với Việt Nam vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Trong trường hợp này, dù chỉ là tranh chấp song phương, nhưng vẫn có khả năng hai bên đồng ý nhờ đến bên thứ ba làm trọng tài, ví dụ như Tòa án Công lý quốc tế.

Vì sự bất đối xứng trong quyền lực kinh tế và quân sự nên Việt Nam sẽ khó có thể hy vọng giành lại Hoàng Sa bằng sức mạnh quân sự. 

* Việt Nam cần xây dựng những mục tiêu dài hạn nào trong kế hoạch bảo vệ chủ quyền đối với Hoàng Sa? Mục tiêu khả thi nhất là gì? Ví dụ như cho cả thế giới biết về sự đấu tranh không ngừng nghỉ của Việt Nam và Trung Quốc đã chiếm giữ Hoàng Sa bất hợp pháp?

- Việt Nam và Trung Quốc nên chân thành thực hiện Hướng dẫn về các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp hàng hải. Việt Nam nên duy trì tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa thông qua các biện pháp chính trị và ngoại giao.

Đồng thời, hai bên nên ký kết thỏa thuận hợp tác đánh cá để ngư dân Việt Nam có thể đánh bắt tại vùng biển xung quanh Hoàng Sa, mà không làm phương hại đến các tuyên bố chủ quyền.

Việt Nam nên sử dụng các biện pháp ngoại giao để kêu gọi Trung Quốc đồng ý thảo luận về bất cứ hành động quản lý nào mà Trung quốc muốn đưa ra và tác động của nó tới quan hệ với Việt Nam. 

* Theo ông, chính phủ Việt Nam nên kết nối với giới học giả như thế nào để tăng cường năng lực đấu tranh bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa?

- Chính phủ Việt Nam đang tài trợ cho 5 hội thảo khoa học quốc tế về biển Đông cho các học giả trong và ngoài nước. Như hội nghị do Đại học Phạm Văn Đồng tổ chức vào năm ngoái đã đưa ra các thông tin rất quan trọng về Đội Hoàng Sa và các học giả nước ngoài cũng được đưa tới đảo Lý Sơn.

Tôi đề nghị nên tiếp tục tổ chức các hội nghị như vậy và mỗi hội thảo nên có ảnh hưởng cụ thể và riêng biệt để xác định các vấn đề cốt lõi trong tuyên bố chủ quyền của Việt Nam. Năm nay Đại học Tôn Đức Thắng tại TP.HCM cũng sẽ tổ chức một hội nghị quốc tế về biển Đông.

Thêm vào đó, Việt Nam cũng đã tổ chức rất nhiều hội thảo và hội nghị chuyên đề với các học giả trong nước. Có lẽ bây giờ là thời điểm tốt nhất để tổ chức một chuỗi các hội thảo trong nước dành cho học giả Việt Nam ở trong và ngoài nước, cụ thể là những người có hiểu biết về chính quyền Sài Gòn cũ.

Việt Nam cũng nên xem xét việc tổ chức một buổi hội thảo cho các nhà sử học của Việt Nam và Trung Quốc để nhìn nhận lại trận chiến Hoàng Sa năm 1974.

Tất cả tham luận và nghiên cứu trong các hội thảo và hội nghị này nên được công bố cho công chúng. Có thể thông qua internet, DVD hoặc là sách. Hiện tại điều này vẫn đang được làm tốt và nên tiếp tục công bố thêm các nghiên cứu chuyên ngành.

Để có thể thành công thì cần xây dựng một kế hoạch nghiên cứu dài hạn để xem xét tất cả các vấn đề cốt lõi một cách có hệ thống.

* Liệu Việt Nam có thể kỳ vọng vào sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế hay không? Tại sao? Những quốc gia nào có thể sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam?

- Sau khi tham gia vào ASEAN, Việt Nam cũng đã tham gia vào quá trình thảo luận kéo dài và không thành công giữa Trung Quốc và ASEAN về một Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC).

Trên thực tế, vào đầu những năm 2000, cả Trung Quốc và ASEAN đều đã trao đổi bạn dự thảo COC và một nhóm làm việc đã được lập ra để hợp nhất hai bản thảo này. Nhiều bất đồng đã nảy sinh và không thể giải quyết, dẫn tới sự chấp nhận “Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông” (DOC) thay cho C0C vào tháng 11.2002. 

Một trong những lý do chính trong tranh chấp là phạm vi địa lý của COC. Việt Nam muốn nó bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa, nhưng Trung Quốc từ chối. Và rõ ràng là tất cả các nước ASEAN khác đều coi tuyên bố của Việt Nam đối với Hoàng Sa là vấn đề song phương với Trung Quốc.

Vì vậy, tôi đánh giá là cộng đồng quốc tế sẽ muốn thấy tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa được giải quyết hòa bình theo luật pháp quốc tế, mà không có sự ép buộc hay đe dọa sử dụng vũ lực.

Đồng thời, theo luật pháp quốc tế, nếu có tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ, các bên liên quan tới tranh chấp không được phép thực hiện các hành động đơn phương và phải hợp tác với các bên khác.

Trung Quốc dường như “cố ý” không nhận ra rằng họ đang có tranh chấp chủ quyền với Việt Nam về Hoàng Sa. Vì vậy sẽ rất khó, nếu không muốn nói là không thể, để các quốc gia khu vực tham gia trực tiếp.

Nếu lấy ví dụ về phản ứng quốc tế đối với sự ban hành luật đánh cá mới trên biển Đông bởi chính quyền tỉnh Hải Nam, chúng ta có thể thấy chỉ có Philippines, vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản và Mỹ là phản đối.

Đây là một chỉ dấu cho thấy 8 quốc gia thành viên khác của ASEAN, dù không đồng ý với hành động của Trung Quốc, nhưng cũng không muốn tham gia vào. Hầu hết các quốc gia này đều lo ngại sẽ chọc giận Trung Quốc. Vì vậy, không có quốc gia nào trong đó có thể sẵn sàng cung cấp nguồn lực và hỗ trợ cho Việt Nam.

VŨ THÀNH CÔNG thực hiện

 

THEO MỘT THẾ GIỚI

 

>> XEM TƯ LIỆU THAM KHẢO KHÁC...

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.