Tin mới Xem thêm

  • Trương Duy Vũ & Hoa yêu

    Đó là hồng tỉ muội hay hồng sẻ như ông ngoại thường nói. Có lẽ vì mỗi bông hoa chỉ bằng hoặc lớn hơn ngón tay cái một chút. Hơn mười năm nay, người trong phố gọi xóm tôi là xóm hoa yêu - một cái tên mới mẻ so với cái tên cũ kĩ lâu đời – xóm Núi Nhạn – vùng đất nhỏ nằm dưới chân Núi Nhạn độ gần trăm nóc nhà, đa số là dân lao động nghèo

  • Văn nghệ và kháng chiến qua ống kính Trần...

    Hòa mình với đời sống văn nghệ, hiểu rõ tâm hồn văn nghệ sĩ và chuyên tâm chụp văn nghệ sĩ, cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Văn Lưu đã lưu

  • Thân phận con người trong thơ Nguyễn Vỹ

    Góp mặt vào làng thơ Tiền chiến từ năm 1934 - thời điểm thơ Mới phát triển mạnh mẽ nhất, không ồn ào, chạy theo tâm lý đám đông

  • Thiêng liêng hai tiếng “Thầy ơi”

    Khi sang xứ người giảng dạy, khi không còn nhận được nhiều tiếng “Thầy ơi” ấm áp đó, cũng như nhiều ánh mắt yêu mến từ học trò ngoài giờ học, tôi mới nhận ra rằng học trò ở quê nhà sao mà “dễ thương” quá…

  • Lê Hà Ngân - Đò chưa sang

    Trưa tĩnh lặng, con thuyền gà gật bên mép sóng bỗng choàng dậy. Đám khách lũ lượt gọi đò, nói cười râm ran cả khúc sông

  • Lê Mạnh Thường & Trường Sa ngày trở về

    Trong cuộc đời mỗi con người ắt hẳn ai cũng có nhiều dấu mốc kỉ niệm. Mỗi kỉ niệm sẽ theo ta đi suốt hành trình của cuộc đời mình. Với tôi, chuyến đi Trường Sa lần này có lẽ là một sự kiện làm dày thêm cái dấu mốc đã in hằn trong tim bấy lâu nay và lấy đi của tôi không ít cảm xúc. Tôi gọi chuyến đi này là ngày trở về.

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Bút Ký - Tạp Văn

Nguyễn Minh Khiêm & Bến Sung

28.8.2016-10:10 

Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm

 

Bến Sung

 

KÝ CỦA NGUYỄN MINH KHIÊM

 

NVTPHCM- Cách đây mấy tuần, nhà văn Nguyễn Văn Đệ điện liên tục giục tôi lên với Như Thanh. Cuộc điện nào anh cũng lặp đi lặp lại, Như Thanh hay lắm. Như Thanh nhiều điều lý thú lắm. Lãnh đạo ở đây tuyệt vời. Từ anh Trần Văn Tuấn, Bí thư huyện ủy, đến anh Lê Văn Hùng, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, các anh trong Thường vụ, Tổ chức, nhiệt tình lắm, chu đáo lắm, trân trọng văn nghệ sĩ lắm. Lên đi.

 

Thực ra, nhiều lần tôi muốn đến Như Thanh. Ngoài Bến En, hồ Sông Mực tuyệt đẹp, ở đây, tôi có nhiều người bạn viết văn, làm thơ. Tôi còn có những người bạn học sư phạm (10+3)A Thanh Hóa, hơn bốn mươi năm chưa gặp lại. Lời nhắn gửi đầy men, đầy muối của nhà văn Nguyễn Văn Đệ cộng với nỗi canh cánh trong lòng, tôi quyết định đến với Như Thanh. Nói là đến Như Thanh nhưng cột số nào trên đường cũng ghi Bến Sung. Bến Sung ba mươi ki-lô-mét. Bến Sung, hai mươi ki-lô-mét. Bến Sung, mười ki-lô-mét. Xe dừng ở công sở Thị trấn Bến Sung, hỏi thăm Như Thanh, ai cũng bảo, Như Thanh đây. Đây chính là trung tâm Như Thanh. Khi trò chuyện, dù cán bộ Huyện ủy, dù cán bộ Ủy ban nhân dân huyện, dù dân kinh doanh, buôn bán, dù xa, dù gần, thế nào cũng đụng đến hai tiếng Bến Sung. Có một điều làm tôi suy ngẫm. Kể từ mùng 1.11.1996 đến nay, Như Thanh đã hai mươi năm thành lập. Mười sáu xã tách ra từ huyện Như Xuân: Thanh Kỳ, Thành Tân, Xuân Thái, Phương Nghi, Xuân Du, Hải Vân, Cán Khê… xã nào cũng đẹp mê người. Xuân Du có núi Nưa hùng vĩ, có Phủ Na huyền bí, dấu tích nghĩa quân Bà Triệu anh hùng, có giếng Tiên và huyệt đạo thiêng hàng nghìn năm trong tâm linh người Việt, có hoa đào thanh cao thơ mộng cả xứ Thanh. Xuân Thái có núi non trùng điệp. Mùa xuân về vẫn vang vọng cồng chiêng. Hải Vân có núi Đồng Kênh, có Lò cao kháng chiến, có Bến En được ví như Hạ Long trên cạn. Gần tám mươi sáu nghìn người Như Thanh hiện nay đã có gần nửa thế kỷ mang hồn cốt Như Xuân. Kinh có, Thái có. Thổ có. Mường có. Việt kiều Thái Lan có. Mỗi dân tộc, mỗi làng bản vẫn tiềm trữ một nét đẹp văn hóa riêng. Trong lòng họ vẫn còn đang âm vang tiếng nhạc hào hùng của đại ngàn Như Xuân với sức sống mãnh liệt. Cồng chiêng. Khua luống. Xòe. Khặp. Có một câu thơ đầy nỗi vương vấn của người Như Thanh đối với Như Xuân: Người về bên đất Như Thanh/ Ngoái nhìn vẫn thấy bóng mình Như Xuân. Ấy thế mà, trong câu chuyện về Như Thanh, được nhắc nhiều nhất, in dấu đậm nét nhất vẫn là hai tiếng: Bến Sung. Bến Sung tươi tắn từ lòng người, hồn người tươi tắn ra. Bến Sung rạng rỡ từ lòng người, hồn người rạng rỡ ra. Tôi có linh cảm, Bến Sung là huyệt đạo ký ức, văn hóa, tâm thức, lịch sử Như Thanh. Giải mã được Bến Sung là giải mã được sức sống kỳ diệu của Như Thanh. Giải mã được Bến Sung là giải mã được chiều sâu tinh hoa, chiều sâu truyền thống, chiều sâu nguồn cội của một vùng đất.

 

Ai giải mã được Bến Sung? Trong đoàn nhà văn chúng tôi, Nguyễn Văn Đệ là người Ngư Lộc, Hậu Lộc. Đinh Ngọc Diệp là người Trường Lệ, Sầm Sơn. Nguyễn Hải là người Hoằng Kim, Hoằng Hóa. Chỉ có thày giáo Lê Trung Thực, thày giáo Lê Huy Quân là người bản xứ. Người xưa có câu:“Đất có thổ công. Sông có hà bá”. Tôi muốn được nghe một “thổ công, hà bá” ở đây nói cho nghe ngọn nguồn lạch sông về Bến Sung, Như Thanh. Mang tâm sự của mình hỏi anh Lê Anh Hồng, người bạn cùng khóa Sư phạm những năm 1972 sơ tán vào đồi Nhơm, Sim, Hợp Thành, Triệu Sơn. Hồi ấy, B52 không mấy ngày không quần đảo sân bay Sao Vàng. Lớp học luôn chao đảo trong bom B52. Anh nguyên là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Như Thanh. Anh Hồng thật thà đáp:

 

- Tôi dân tộc Thổ. Quê tôi trên Yên Lễ, Yên Cát, Như Xuân. Mãi năm sáu tư tôi mới xuống đây học lớp bốn. Nhà ở Bến Sung thật nhưng có biết nhiều về Bến Sung mô. Chín khu phố Bến Sung thì thuộc. Cả Như Thanh thì thuộc. Nhưng hiểu kỹ về Bến Sung thì phải hỏi ông Quân mới được. Ông là người ở đây lâu nhất. Mấy đời gốc rễ ở Bến Sung. Có thể cái gì ông ấy cũng biết.

 

Vừa nghe tôi đề nghị nói về Bến Sung, ông Lê Huy Quân vui vẻ nhận lời. “ Tôi sẽ dẫn các ông đi thăm Bến Sung, Lò cao kháng chiến, đền Khe Rồng. Tôi sẽ nói rõ cho các ông nhà Tri châu cũ, nhà Tri châu mới, Khe Rồng, giếng ngọc”. Giọng ông tự tin như mọi thứ đã được lập trình, chỉ cần mở lòng tay là thấy. Theo gia phả dòng họ Lê Huy thì ông Lê Huy Quân thuộc dòng trâm anh thế phiệt. Cố nội ông từng là thày giáo dạy vua Thành Thái. Vì theo phái Tôn Thất Thuyết chủ chiến nên sau này bị phái Tôn Thọ Tường đẩy ra làm Chi phủ Phủ Lạng-Thương. Ông nội ông là Tri huyện Lệ Thủy kiêm đồng Tri phủ Bố Trạch (Quảng Bình). Bố ông, bố nhà văn Lê Huy Trâm và bố nhà văn Lê Minh Khuê là ba anh em ruột. Một gốc ở Tĩnh Gia. Bố, mẹ ông lấy nhau ở Bến Sung. Ông sinh ở Bến Sung. Lớn lên ở Bến Sung. Tuổi đã bảy lăm nhưng trông ông phong độ, minh mẫn, lanh lợi, hoạt bát. Ông là giáo viên dạy văn, rồi làm hiệu trưởng nhiều trường Trung học cơ sở từ thời chung huyện Như Xuân tới khi tách huyện Như Thanh. Có lẽ vì thế, cán bộ từ cấp huyện đến cấp xã, thị trấn, nhiều người gọi ông Lê Huy Quân là thày.

 

Đứng trên chiếc cầu máng, nhìn xuống dòng sông sâu hun hút, rộng chừng mươi thước, đục màu nước gạo, lờ đờ chảy dưới chân, ông Lê Huy Quân rành rọt về lai lịch dòng sông. Sông Mực, sông Khe Rồng, sông Bến Sung, thực chất là một. Tên chính của nó trong bản đồ là sông Yên. Dòng sông này có tổng chiều dài là 92,5ki-lô-mét. Phần chảy ở đồng bằng chỉ có 40 ki-lô-mét. Còn đoạn chảy trên miền núi, đất Nông Cống, Như Thanh chiếm quá nửa. Lưu vực của nó là 1996 ki-lô-mét vuông. Ông nói kỹ từng đoạn sông một. Ở đầu nguồn, sông Yên có ba khe hợp lại: Gồm khe Sải Vàng, khe Cầu Đất, khe Đá Phai. Từ dưới trông lên, nó tõe ra như một đuôi rồng nên gọi là Ba khe hay còn gọi là khe Rồng. Ở chỗ Ba khe này, có đền Khe Rồng, phủ Đức Ông, thuộc khu phố Vĩnh Long. Bên cạnh khe Rồng còn có eo Gắm. Ở đây rất nhiều cây gắm nên gọi là eo Gắm. Hồi chống Mỹ, trong chuyến đi xuyên Việt viết “Nước non ngàn dặm”, khi nhà thơ Tố Hữu qua đây, bom bỏ rất ác liệt. Đoạn ta đang đứng, gọi là sông Bến Sung. Đây cũng được gọi là sông Mực. Bởi vì, ở dưới lòng sông có một lớp tảo rất dày. Màu nước tối lại, đen như mực. Vì thế, được gọi là sông Mực. Đoạn chảy qua Chuối ở Nông Cống thì gọi là sông Chuối. Đoạn chảy qua thôn Ngọc Trà thì gọi là sông Ngọc Trà. Đoạn chảy qua Ghép, Quảng Xương thì gọi là sông Ghép. Đoạn cuối chảy qua Yên Châu. Ở đây có nhà thờ thiên chúa giáo. Có lẽ vì thế mà Pháp đặt tên là sông Yên.

 

Bến Sung là điểm đáng nhớ của dòng sông Yên ở thượng nguồn. Ba khe, hay Khe Rồng, cách đây chỉ vài cây số. Từ ngõ 312, 314, khu phố 4, tính từ mặt đường quốc lộ 45 rẽ vào chừng trăm thước là Bến Sung xưa. Ông Nguyễn Xuân Hòa, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thị trấn Bến Sung và ông Lê Huy Quân cùng khẳng định. Trước năm 1954, hai bên bờ sông là một rừng sung. Những cây sung đại thụ hàng trăm năm tuổi, đủ hình, đủ dáng vươn mình ra sông. Tán sung che kín mặt sông. Sung liên tiếp nối nhau dài gần hai ki-lô-mét. Quả sung chín rụng xuống trôi đặc mặt sông. Chim về ăn quả sung nhiều vô kể. Cá đớp sung như vỗ tay, như đập nước. Hồi đó, nước sông còn sâu, mặt sông rộng. Thủy triều lên lòng sông càng rộng. Thuyền bè ngược xuôi buôn bán tấp nập. Chủ yếu là những khách thương lái buôn gỗ. Hoằng Hóa, Nga sơn, Quảng Xương, thị xã Thanh Hóa đổ xô lên buôn gỗ. Bến Sung thành làng nổi, chợ nổi. Chỗ Bến Sung có hơn bốn mươi nhà bè sinh sống. Trên bờ sông là một bãi tập kết gỗ dài hơn một cây số. Chủ yếu là gỗ lim. Lim trăm tuổi. Lim vài trăm tuổi. Trên bờ, dưới sông, lim chồng chất lim, bè nối đuôi bè. Dân lái buôn, dân chống bè, dân làm nghề cốn bè về Bến Sung này rất đông. Trên bờ Bến Sung, có hai khu nhà công sở của Tri châu Quách Văn Cối. Nhà Tri châu cũ được xây cách vị trí cầu máng hiện giờ gần cây số. Nhà Tri châu mới xây ngay trên Bến Sung. Từ nhà Tri châu mới này qua một cầu châu nhỏ, chạy thẳng tắp ra giếng ngọc, chỗ cơ quan thuế bây giờ. Pháp cũng cho xây một trạm kiểm lâm ngay trên Bến Sung, đối diện nhà Tri châu Quách Văn Cối. Một khu nhà hai tầng. Mục đích Pháp xây hai tầng là để tránh cọp. Bè nào chở gỗ qua đây cũng phải lên nộp thuế. Từ 1951 về trước, cả vùng này là “vương quốc” riêng của cọp và muông thú. Rọc Rốn, một địa danh cách nhà ông Lê Huy Quân chừng hai trăm mét được gọi là “rốn cọp”. Cọp đông lắm. Cầu Sạy cũ(cây cầu nằm trên tỉnh lộ Mười cũ, còn sót một đoạn cong như vành lược ngay dưới cầu Sạy mới, quốc lộ 45), trước kia là nỗi ám ảnh kinh hoàng về cọp. Người ta gọi là cầu Sạy bởi vì, dọc hai bên bờ sông Mực, đoạn này, um tùm lau sạy. Cọp được sạy che chở cực kỳ kín đáo. Phải có từ bảy, tám người trở lên, trong tay sẵn súng, giáo, gậy dài mới dám qua đây.

 

Theo ông Lê Huy Quân, thời thuộc Pháp, vùng này có hai đồn điền lớn. Thứ nhất là đồn điền cà phê Yên Mỹ. Thứ hai là đồn điền cà phê Đồng Kênh. Hai chủ đồn điền này đều là người Pháp. Chúng bắt phu, bắt dịch, bắt tù về đây làm cà phê vô cùng khổ cực. Phần đói. Phần rét. Phần bệnh tật. Chét vì khổ. Chết vì đánh đập. chết vì sốt rét. Chết vì cọp bắt. Vì thế, đây cũng là vùng đất rất nhiều chiến sĩ cách mạng về hoạt động. Ông Lê Tất Đắc, một tiền bối cách mạng của tỉnh Thanh Hóa, vượt ngục Kon Tum về Yên Mỹ, về Bến Sung trà trộn vào công nhân cà phê, thợ thuyền làm gỗ, cốn bè ở Bến Sung để tuyên truyền cách mạng. Ông Lê Huy Quân cho biết, sự việc này ghi trong Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa. Ông Đỗ Mười trong những năm tháng hoạt động bí mật cũng về ở tại nhà riêng trong ấp Tri châu Quách Văn Cối, ở Phúc Ấm, nay là xã Xuân Phúc, cách Bến Sung chừng mười ki-lô-mét. Địa bàn hoạt động của ông cũng là thợ thuyền Bến Sung, công nhân đồn điền cà phê Yên Mỹ, Đồng Kênh. Chuyện này không thấy ghi lại trong sử. Nhưng có bằng chứng. Ông Quách Văn Thích, con trai ông Quách Văn Cối, không được đi học bác sĩ Quân Y. Ông Đỗ Mười (có người nói ông Lê Tất Đắc) bảo lãnh cho đi học. Ông Quách Văn Thích hiện nay vẫn còn khỏe mạnh, sống tại Cầu Voi. Ông Lê Huy Quân nói thêm, ông Hồ Tùng Mậu đem đàn bò về nuôi ở Bến Sung này. Đàn bò bị cọp bắt rất nhiều. Ông nói chắc như đinh đóng cột. Tôi vẫn phân vân. Tài liệu về nhà hoạt động cách mạng Hồ Tùng Mậu không hề nói đến việc ông hoạt động ở vùng Bến Sung. Ông Hồ Tùng Mậu làm Chính ủy Quân khu Bốn từ tháng 10-1945 đến tháng 11-1946. Ông cũng đồng thời làm Giám đốc kiêm Chính ủy trường Quân chính Nhương Ban, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Năm 1947, ông được giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu IV. Đầu năm 1950, Hội Việt - Hoa hữu nghị được thành lập. Ông được bầu làm Hội trưởng đầu tiên của Hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II vào tháng 2 năm 1951, ông được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 23 tháng 7 năm 1951, ông hy sinh trên đường đi công tác. Ông Lê Huy Quân quả quyết. Ông Hồ Tùng Mậu ở vùng Bến Sung này là hoàn toàn có cơ sở. “Hồi đó, ông Hồ Tùng Mậu sinh hoạt cùng một chi bộ với ông Lê Huy Giáp, bác ruột tôi. Hôm đó, ông ra Còng, Tĩnh Gia, họp Chi bộ. Họp xong, trên đường về, cách Còng một đoạn thì bị máy bay của Pháp bắn chết”. Như vậy là ông Hồ Tùng Mậu hy sinh tại Còng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa? Đúng thế. Bác ông, ông Lê Ghuy Giáp, được công nhận là Lão thành cách mạng, được tặng thưởng Huân chương Độc Lập Hạng Ba. Ông Quân còn kể, Thiếu tướng Nguyễn Sơn đặt Sở chỉ huy Quân khu Bốn ở Bến Sung. Trường học của Quân đội thời chống Pháp đặt ở Bến Sung. Điều này chưa được kiểm chứng. Hãy coi đó là sự giàu có về huyền sử, huyền tích, truyền thuyết vùng đất Bến Sung. Nhưng chuyện có một con đường goòng từ Bến Sung này chở quặng gang, quặng sắt vào thẳng hang Lò cao hang Đồng Mười để luyện thành gang, thép chế tạo vũ khí của quân đội ta trong thời kỳ chống Pháp dưới một “đường hầm tre gai” là hoàn toàn có thật. Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Hải Vân (1945-2009)”, Nhà xuất bản Thanh Hóa, 2010, ghi rõ: “Nằm tại thung lũng Đồng Mười, lò được bắt đầu xây dựng vào mùa thu năm 1949. Sau 15 tháng gian khổ vừa vận chuyển hàng tấn máy móc và nguyên liệu từ Nghệ An ra và từ Ninh Bình vào, đến tháng 9 năm 1951 lò cao đã hoàn thành. Ngày 19 tháng 12 năm 1951, mẻ gang đầu tiên ra lò(…). Trong gần ba năm, từ khi xây dựng hoàn thành đến lúc ngừng hoạt động, lò gang Hải Vân đã sản xuất được trên 500 tấn gang (…)”. Ông Lê Huy Quân nhớ như in. Hồi ông học lớp bốn, được học một bài lịch sử viết về Lò cao kháng chiến. Nội dung bài lịch sử kể lại chuyện súng đạn ta chế tạo được ở Lò Cao. Hồi đó, quân ta đã nghiên cứu khẩu súng DKZ của Pháp để chế tạo thành công khẩu BAZOOKA. Khi chế tạo thành công khẩu BAZOOKA, bộ đội ta đã đem ra đầu núi, phía sau hang Lò Cao bắn thử. Đạn nổ làm đá bị trắng thành vôi một đám rất rộng. Dấu tích ấy còn mãi cho đến những năm chín mươi, khi bị nhân khai thác đá nổ mìn mới mất. Lần đầu tiên đem khẩu BAZOOKA và súng đạn chế tạo được ở Lò Cao Đồng Mười đem đi chiến đấu đã đánh thắng một Tiểu đoàn quân Pháp ở đèo Hải Vân. Để nhớ dấu mốc chiến thắng lịch sử ấy, sau này, khi chia xã Xuân Hòa thành ba xã, một xã là Xuân Phúc, một xã là Xuân Khang. Còn xã có cơ sở đặt lò cao chế tạo vũ khí trận đầu tiên chiến đấu, chiến thắng một tiểu đoàn quân Pháp ở đèo Hải Vân thì đặt tên là Hải Vân để ghi nhớ. Ông Lê Huy Quân nhắc đi nhắc lại chuyện hai người cán bộ ở lò Cao Đồng Mười đến nhà chơi với bố ông. Một người tên là Ngọc. Một người tên là Khuê. Người tên Khuê tặng bố ông một khẩu súng lục bé tý, rất đẹp. Người tên Khuê ấy chính là Kỹ sư Trần Đại Nghĩa. Khuê là bí danh của Trần Đại Nghĩa. Bố ông bảo thế.

 

Tôi đã vào Lò cao kháng chiến Hải Vân trong hang Đồng Mười. Tôi đã đi gần hết hai trăm mét lòng hang. Tôi cũng đã quan sát kỹ sáu thớt của lò cao đang nghiêng dần, hoen rỉ, có dấu hiệu xệp xệ trước thời gian. Tôi chụp ảnh lò cao. Chụp ảnh hòn đá gần cửa vào một đoạn. Anh Nguyễn Sỹ Thử, cán bộ phụ trách văn hóa xã Hải Vân, dẫn đoàn vào thăm hang cho biết, khi đang thi công nền hang, khối đá khổng lồ này đã sập từ trên cao xuống. Hai chiến sĩ công binh vĩnh viễn nằm dưới khối đá. Nói cụ thể là, dưới khối đá hàng trăm tấn này, vẫn còn hài cốt của hai liệt sỹ. Nhưng không có tài liệu giấy tờ nào ghi lại. Không ai biết họ tên hai liệt sỹ ấy là gì. Ngày xưa, hố bom, hố đạn quanh núi nhiều lắm. Lò cao kháng chiến Hải Vân đã được Nhà nước công nhận Di tích Lịch sử cấp quốc gia, năm 2015. Nhìn bản đồ quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử Lò cao kháng chiến Đồng Mười, tôi thấy quy mô rất lớn. Nhưng tôi không thấy trong quy hoạch có con đường goòng chạy từ Bến Sung về tới hang Đồng Mười. Tôi cũng không thấy một con đường được hình thành dưới một rừng tre tự nhiên như một hầm tre vắt ngọn vào nhau kín bưng (giống hầm đèo Hải Vân bây giờ) che chở cho con đường goòng, những chiếc xe goòng suốt ba năm chỏ gang, chở sắt từ Bến Sung về lò cao không hề bị máy bay Pháp phát hiện. Còn con đường goòng ngày xưa, nay chìm sâu dưới một rọc nước khá lớn vì một con đập chắn lại, không cho nước chảy ra sông Mực.

     

Một chuyện bất ngờ thú vị nữa được ông Lê Huy Quân quả quyết. Bài thơ “Màu tím hoa sim” của nhà thơ Hữu Loan chắc chắn viết ở vùng Bến Sung. Mẹ ông với nhà thơ Hữu Loan là cháu cô, cháu cậu. Ông gọi nhà thơ Hữu Loan là bác họ xa. Đơn vị bộ đội của nhà thơ Hữu Loan đóng quân ở vùng Bến Sung. Ngày ông còn nhỏ, nhà thơ Hữu Loan thỉnh thoảng đến chơi. Hôm nào đến, nhà thơ Hữu Loan cũng bế ông. Thời điểm bà Lê Đỗ Thị Ninh mất, Hữu Loan đang đóng quân ở vùng này. Đứng trên khu nhà nghỉ Thanh Xuân, cao năm tầng, giữa thị trấn Bến Sung, phía bên phải Công sở Ủy ban nhân dân Huyện và Công sở Huyện Ủy Như Thanh, ông Lê Huy Quân chỉ tay về phía trước, nói rành rọt: Bến Sung lúc đó có hai vùng sim rất rộng. Vùng một, ở xã Yên Lạc, giáp xã Công Bình, nơi vợ Hữu Loan, bà Lê Đỗ Thị Ninh chết đuối. Xã Yên Lạc cũng là nơi Hữu Loan đóng quân. Vùng hai, Bái sim, xã Hải Vân, nay là Thị trấn Bến Sung. Trước mặt ta đây là bạt ngàn sim. Những quả đồi này được phủ một màu sim. Những câu thơ “ Chiều hành quân/ Qua những đồi sim…/ Những đồi hoa sim…/ Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết” chắc chắn là viết về sim ở hai vùng sim này. Chỉ có điều, ông viết ở vùng nào, chưa xác định được. Bài thơ Màu tím hoa sim làm ở đâu, chưa bàn đến, nhưng về cái chết của bà Lê Đỗ Thị Ninh, tôi nhớ, có một tư liệu tôi đọc được trên báo điện tử VTC NEW hơi thở cuộc sống, thứ 3, ngày 23.4.2013. Bài này do chính anh trai bà Lê Đỗ Thị Ninh là Lê Đỗ Nguyên kể. Gia đình ông Lê Đỗ Kỳ và bà Đái Thị Ngọc Chất có bốn người con, ba trai, một gái. Lúc bà Lê Đỗ Thị Ninh chết đuối, ông Lê Đỗ Kỳ đang làm Chủ tịch huyện Yên Định (ông Lê Đỗ Kỳ làm Chủ tịch huyện Yên Định từ tháng 4.1948 đến giữa năm 1950). Người trai cả là Lê Hữu Khôi. Ông tham gia chiến đấu ở Điện Biên Phủ, hy sinh trước vài giờ khi ta bắt sống tướng De Castri của Pháp. Người con trai thứ hai là Lê Đỗ Nguyên. Khi đi hoạt động cách mạng ông lấy bí danh là Phạm Hồng Cư. Sau này trở thành Trung tướng Phạm Hồng Cư. Người con trai thứ ba là Lê Đỗ An. Đi hoạt động, ông lấy bí danh là Nguyễn Tiên Phong, nguyên Bí thư Trung ương đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Trung tướng Phạm Hồng Cư kể lại: Sau “Tuần trăng mật”, Hữu Loan từ biệt người vợ trẻ trở lại đơn vị lúc ấy đang đóng quân ở Thọ Xuân (Thanh Hóa), cách nhà chừng 100 cây số. Thỉnh thoảng chủ nhật Hữu Loan tranh thủ về thăm vợ. Hạnh phúc của họ thật ngắn ngủi, gần 4 tháng sau ngày cưới, ngày 29 tháng 5 (âm lịch) năm 1948, Lê Đỗ Thị Ninh bị chết đuối tại ấp Thị Long khi đang giặt ở sông Chuồng.“Gió sớm thu về/ rờn rợn nước sông…”. Con sông dữ, mùa nước lũ ở vùng núi Nưa nước cuồn cuộn đổ về, nàng ra sông giặt, trượt chân ngã và bị nước cuốn đi”. Nhưng một tư liệu do chính nhà thơ Hữu Loan kể, nhà báo Kim Dung ghi, sau cho đăng trên Petro Times, ngày 18.8.2014 có một đoạn như sau: Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. 

 

Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”. 

 

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: "yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. 

 

Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. 

 

Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. 

 

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..

 

Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép (Nguyễn Hữu Loan). 

         

Mạch đất Bến Sung quả là nhiều tầng nhiều vỉa lịch sử. Nhiều người thấy hai mươi mốt hòn đảo thiên nhiên kỳ thú nhưng ít người biết trước đây là một vùng  rừng nguyên sinh, đầy lim, tre, nứa, mây, song nối nhau trùng điệp mênh mông chiếm một vùng rộng lớn Như Xuân. Khi đập Bến En được đắp ngăn dòng sông Mực lại, một vườn quốc gia Bến En hình thành với diện tích 14735 héc-ta, một lòng hồ Bến En rộng 3000 héc-ta. Hai mươi mốt ngọn núi hùng vĩ thành hai mươi mốt hòn đảo du lịch bây giờ. Hai mươi một con suối lớn đổ vào Bến En chỉ còn nhìn thấy qua các vết đứt gãy của vùng đồi núi. Lòng hồ Bến En chứa đầy huyền bí.

 

Khi tôi hỏi về người Bến Sung, ông Lê Huy Quân diễn giải. Từ trước 1954, dân Bến Sung gồm năm nguồn chính. Nguồn một là dân làm đồn điền cà phê cho Pháp ở Yên Mỹ và Đồng Kênh ở lại lấy chồng, lấy vợ lập gia đình. Nguồn hai là dân làm đường Mười thời Pháp. Đó toàn là những phu phen tạp dịch. Nguồn ba là dân bị nạn đói năm 1945 từ các nơi dạt về đây kiếm sung ăn để sống. Nguồn bốn là dân làm nghề cốn bè cho các chủ thương lái ở Bến Sung. Từ năm 1962, bộ mặt Bến Sung hoàn toàn đổi khác. Nguồn dân cư được bổ sung nhiều nguồn khác. Theo lời kêu gọi của Bác, 1962, Việt Kiều khắp nơi trên thế giới thi nhau trở về Tổ Quốc. Riêng ở Bến Sung có hai trăm hộ việt kiều Thái Lan. Họ lập thành khu phố Việt kiều Thái Lan. Sau này phố Việt kiều chia thành hai khu, Vĩnh Long Một, và Vĩnh Long Hai. Dân Hoằng Hóa, Quảng Xương di dân lên định cư. Lâm trường Như Xuân từ Yên Cát trở về. Đông lắm. Ông chỉ sang khu nhà cấp bốn, lợp ngói, đổ nát, cũ kỹ trước nhà ông, bảo, đấy là nhà của ông Lê Văn Tâm, nguyên Giám đốc lâm trường Như Xuân. Một nguồn dân bổ sung nữa. Đó là dân Nam Hà. Họ đưa hẳn một đội xe trâu, rất đông, vào Bến Sung chở gỗ. Họ chở từ rừng ra. Chở từ trên bến xuống sông đóng, cốn bè. Chở từ bè lên. Các nguồn dân bổ sung này làm cho nhân khẩu Bến Sung tăng lên. Văn hóa Bến Sung đa dạng, phong phú thêm. Rồi ông nói luôn về làng bản đầu tiên ở Bến Sung này. Chẳng sách vở gì, ông nói một mạch. Làng đầu tiên của Bến Sung là làng Đồng Lạc. Ông giải nghĩa: Đồng là cùng. Lạc là lưu lạc. Những người lưu lạc khắp nơi về đây cùng nhau lập nên làng. Vì thế có tên Đồng Lạc. Chữ “Đồng Lạc” còn có nghĩa, cùng nhau an cư lạc nghiệp. Xã đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám 1945 ở Bến Sung là xã Vĩnh Hòa. Xã Vĩnh Hòa gồm Vĩnh Khang, Xuân Hòa. Sau đó, Vĩnh Hòa lại chia thành ba xã: Xuân Phúc, Hải Vân, Xuân Khang. Rồi Xuân Phúc lại chia thành: Phúc Đường, Xuân Phúc. Xã Hải Vân được chia thành: Hải Long, Hải Vân. Ngày 19 tháng 4 năm 2002, công bố quyết định thành lập thị trấn Bến Sung. Một phần đất của xã Hải Long, một phần đất của xã Hải Vân lại trở về thành Thị trấn Bến Sung bây giờ. Đúng là chuyện Bến Sung giống hệt chuyện nhả tơ làm kén, hóa nhộng, sinh ngài, thành bướm kỳ diệu của con tằm. Bắt đầu từ xã Vĩnh Hòa đầu tiên, Bến Sung là quả trứng nở ra Xuân Khang, Xuân Phúc, Hải Vân; Rồi nở ra Phúc Đường; nở ra Hải Long. Thế là cả Bến En, hồ Mực, xét cho cùng cũng là da thịt cùng một huyết thống với Bến Sung. Sâu thế mới hiểu được vì sao hai tiếng Bến Sung lại sâu sắc, tha thiết, tình cảm, đậm đà như muối mặn, như gừng cay với người Như Thanh đến thế.

 

Nhưng thú thật, khi ông Lê Huy Quân dẫn ra tận nơi, mắt thấy, tay sờ, ngồi trên đất Bến Sung xưa, tôi hơi buồn. Hai bên bờ sông Mực (tức Bến Sung), dài hàng cây số, không còn một cây sung. Không còn một cây ngơn. Dấu chợ nổi không còn. Dấu Bến Sung thuyền bè tấp nập không còn. Đường xuống bến bị một vài nhà dân dựng lên, quây rào cắt lối. Tôi, ông Quân, anh Lê Anh Hồng, Nguyễn Hải, tìm mãi không có đường xuống bến. Dòng sông như ngừng chảy. Nước sông không còn thẳm sâu màu mực. Sông đục màu nước gạo. Con đường tre gai um tùm từ Bến Sung chạy thẳng vào hang Lò Cao kháng chiến ở Đồng Mười, Hải Vân cũng không còn dấu vết.

 

Tôi hỏi ông Lê Huy Quân:

 

- Ông có muốn khôi phục lại một Bế Sung như ngày xưa không? Ông Lê Huy Quân không giấu được cảm xúc:

 

- Tôi muốn dòng sông Mực được hồi phục lại như xưa. Sông Mực phải được nạo vét lại khơi thông dòng chảy. Thủy triều lên xuống tốt hơn. Thuyền bè xuôi ngược không mắc cạn. Đập hồ sông Mực phải xả nước nhiều hơn cho mực nước sông dâng cao hơn. Khôi phục lại chợ nổi Bến Sung. Hai bên bờ sông trồng lại tre gai, ngơn giống cảnh xưa. Đặc biệt là phải trồng lại sung. Không có sung thì không ai gọi Bến Sung.

 

Trước khi kết thúc đợt thực tế tại Như Thanh, tôi có may mắn được làm việc với anh Nguyễn Xuân Hòa, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thị trấn Bến Sung. Anh nói về kế hoạch tái hiện lại Bến Sung gần giống với ước muốn của ông Lê Huy Quân. Anh bảo, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân đã trình một kế hoạch khôi phục Bế Sung lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Như Thanh. Kế hoạch này được ông Lê Văn Hùng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện hoàn toàn ủng hộ bằng một phác thảo. Trước mắt, sẽ trồng sung dọc hai bên đường từ đền Sung đến đền Khe Rồng. Chiều dài hơn một cây số. Có thể tới hàng ngàn cây sung. Khởi đầu, huyện sẽ có công văn tới mười sáu xã, đề nghị mỗi xã trồng lưu niệm hai cây sung, loại lớn. Sau đó, sẽ phát động, kêu gọi lòng hảo tâm của các gia đình, doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Còn ngân sách chính quyền bỏ ra dăm bảy trăm triệu nữa. Như thế có thể có được một con đường sung tương đối tốt. Còn kế hoạch khôi phục lại Bến Sung, sông Mực. Cái này phải từng bước. Phải sau năm 2018. Kế hoạch là phải nạo vét dòng sông. Nắn lại dòng sông Mực cho thẳng. Mở một tuyến đường dọc bờ sông để khách thăm quan du lịch. Hiện tại, vẫn còn gần hai héc-ta đất là bãi tập kết gỗ từ ngày xưa chưa đụng đến. Ủy ban nhân dân vẫn để nguyên vẹn đó. Việc phục hồi lại bãi gỗ chắc gặp ít khó khăn. Còn việc đền bù, giải tỏa vài nhà làm chắn con đường xuống bến cũng không phải là một trở ngại lớn. Thực tế, họ cũng đang muốn đi khỏi chỗ bến sông heo hút, khó làm ăn ấy. Khó nhất là làm sao tái tạo lại được rừng sung hàng trăm năm tuổi dọc hai bên bờ sông. Và tre nữa. Nếu làm được tất cả như mong muốn thì Bến Sung, không những thu hút được khách du lịch đến cùng với Bến En, Lò Cao kháng chiến. Bến Sung còn chứng minh được, đây là cái nôi như bọc trứng Âu Cơ nở ra huyền thoại, cổ tích một phần đất Như Thanh. Nó có sức sống kỳ diệu, giàu truyền thuyết, giàu nghị lực, giàu sáng tạo.

 

Tôi mừng thầm cho Bến Sung. Mừng không phải vì theo hoạch định, chỉ sau năm 2017, 2018, Bến Sung sẽ có một con đường dài hơn một cây số từ Phủ Sung đến đền Đức Ông, Khe Rồng. Mừng cũng không phải vì kế hoạch quy hoạch tổng thể Bến Sung, có nạo vét, nắn lại dòng sông Mực. Cũng không phải mừng vì viễn cảnh hai bên bờ sông Mực sẽ có một con đường du lịch mở ra, ngời ánh điện dưới tán sung bạt ngàn che phủ; sung chín rụng đỏ mặt sông; thuyền bè lại về tấp nập chợ nổi trên sông. Tương lai mở ra từ cái dự án ấy phải cần hàng trăm, hàng nghìn tỷ có thể mới thành hiện thực. Chỉ nội lực của thị trấn Bến Sung, chỉ nội lực Như Thanh chưa hẳn đã thành. Tôi mừng vì từ Lãnh đạo thị trấn Bến Sung đến Chủ tịch huyện Như Thanh có một tầm nhìn xa, trông rộng về văn hóa, lịch sử, quá khứ và hiện tại của Như Thanh. Nhân dân Bến Sung vẫn mang trong mình một lịch sử thấm đẫm nhân văn. Tầm nhìn của Lãnh đạo huyện, Lãnh đạo Thị trấn gặp nỗi khao khát, mong muốn của dân. Ấy là thời cơ, thời điểm, thời vận của một vùng đất. Biết chớp lấy, biết tập hợp, biết nhân lên, nhất định những tầm nhìn kia, những khao khát kia sẽ  trở thành hiện thực. Có thể sau cái chớp mắt của lịch sử, các thế hệ con cháu Bến Sung lại được thấy một Bến Sung đầy thơ mộng trong dáng đứng văn minh, hiện đại của thế kỷ hai mốt, nhuần nhuyễn giữa kinh tê-văn hóa-kiến trúc-du lịch đầy sức hấp dẫn trong một bức tranh tổng thể về Như Thanh đầy sức sống.

 

13.5.2016

 

 

>> XEM TIẾP BÚT KÝ - TẠP VĂN TÁC GIẢ KHÁC...    

 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.