Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Bút Ký - Tạp Văn

Trầm Hương-Còn may có nội

27.3.2011-00:09

 

Còn may có nội

 

TRẦM HƯƠNG

 

NVTP.HCM- "Những âm thanh vang lên, nắng tràn vào khung cửa sổ soi xuống những phím chữ lấp lánh. Tôi say mê, chìm đắm trong niềm hạnh phúc được sáng tạo. Và lúc ấy, hình ảnh bà nội sống dậy, hiện hữu bên tôi, hóa thân trong chiếc máy chữ này. Bà không chết. Có con bướm trắng bay vào thư phòng. Nội trở về bằng con bướm trắng ấy chăng?!"

 

Tôi may mắn có được những năm tháng tuổi thơ sống bên cạnh bà nội trong khu vườn cổ tích. Khu vườn ấy giờ đây không còn, nó bị chia tam xẻ tứ, cây cối bị đốn trụi, nham nhở những mái nhà hình hộp lỗi điệu. Nhưng tôi nhớ rất rõ khu vườn tuổi thơ, khu vườn cổ tích mà bà nội đã nâng niu, vun xới cho đàn cháu. Cứ mỗi độ hè về với tiếng sấm rền vang làm xao xuyến lòng người, những cơn mưa đầu mùa tắm mát đất đai, khu vườn cằn cỗi của bà nội  bỗng bừng lên sức sống. Những nõn lá từ những cành cây khẳng khiu làm nên cả một khung trời xanh như ngọc. Lúc ấy, nội tôi như được phục sinh, tất bật với những công việc ngày mùa. Bàn tay chai sần của bà chắt chiu từng hạt giống. Có lẽ vì vậy mà  bà rất phẫn nộ khi nhìn thấy tôi dùng sào đập nát những chồi non để đi tìm bắt những con bù rầy, hay dẫm lên những mầm cây đang đội đất để đi tìm dế. Tôi lúc ấy là một đứa bé gái hời hợt, lửng tửng, đã hết sức hỗn láo hét lên: “Bà thì cái gì cũng tội!”

Lúc ấy, nội mở to mắt, thần mặt nhìn tôi, gương mặt hiện đầy đau đớn, bất lực. Mãi sau này tôi không tha thứ cho mình vì hành vi tồi tệ ấy. Nội có lỗi gì đâu ngoài sự đa cảm thái quá và niềm tin mãnh liệt vào Trời Đất. Nhưng bà cũng rất biện chứng ở chỗ, trước khi tin vào thế lực huyền bí, siêu nhiên, bà rất tin vào những giọt mồ hôi của chính mình.

Chỉ có những giọt mồ hôi đổ xuống đất đai mới làm cho khu vườn xanh mát. Mồ hôi của bà làm cho cây cối trong vườn đơm bông kết trái lúc lĩu. Chẳng khi nào bà để tay chân yên. Bà ươm cây, bứng cây con trồng vào những chỗ bị khuyết, bà lấy rơm rạ ủ gốc cho cây. Bà sợ cây bị nóng mùa hạ, sợ cây lạnh mùa đông, sợ cây ăn quá no, sợ cây bị quá đói. Bà chăm chút từng chiếc lá, từng nhánh hoa. Bàn tay bà chai sần để khu vườn chỉn chu, xanh biếc. Hương hoa và trái chín bao giờ cũng sực nức khu vườn bà. Bà rất có ý thức chọn hạt để mùa sau trái chín sẽ nhiều hơn, thơm ngon hơn...

Mỗi khi trồng được một cái cây cho trái chín đầu mùa, mắt bà sáng long lanh với niềm vui khó tả. Bà hái lấy, trịnh trọng đặt chúng vào dĩa, trịnh trọng đặt chúng lên bàn thờ vọng thiên, đốt nhang tạ ơn Trời Đất. Phải qua nghi thức đó bà mới phân phát cho đàn cháu, phần bà là trái đèo đẹt cuối cùng. Có một lần bà lặn lội đi hàng trăm cây số, qua mấy chiếc đò, qua mấy con sông tìm một giống mãng cầu dai nổi tiếng. Sau mấy ngày xa cách, trở về nhà, bà hồ hỡi lấy trong chiếc túi đệm mấy  trái mãng cầu nở mắt to tròn, căn dặn: “Ăn đi con. Giống mãng cầu dai này ngon lắm. Nhớ giữ lại mấy hạt giống cho nội”.

Vị ngọt, thơm của quả ngon đã làm tôi quên béng lời hứa. Cùng với sự vô tâm, tôi tung tẩy những hạt giống, của đáng tội, trái ngon lại ít hạt khiến tôi càng dễ quên. Thế là tôi quăng mất những hạt giống và quên phứt nó. Bẵng đi một dạo, nội hỏi: “Mấy hột mãng cầu hôm hổm đâu con?”. Tôi sực nhớ, mặt ngẩn ra. Nội sững sờ nhìn tôi, ánh mắt bà đầy đau khổ, tuyệt vọng. Càng đau khổ hơn, bà không thể đánh đòn tôi. Nhưng không bao giờ tôi quên được ánh mắt tràn ngập nỗi buồn, u ẩn của nội lúc đó, thể như tôi đánh mất cả khu vườn. Lớn lên rồi, biết thế nào là mất mát, tôi mới thấu hiểu nỗi buồn của bà lúc đó. Nào phải đâu bà tiếc nuối mấy hạt giống. Nỗi buồn của bà đầy dự cảm trước những mất mát hết sức lớn lao, bà hoàn toàn bất lực, dù hiện tại bà chưa biết cái gì rồi sẽ mất...

Tri thức, cái chữ, sự nghiệp của mấy anh chị em tôi ngày càng lớn lên, đầy thêm, được vun đắp, phôi thai từ khu vườn cổ tích ấy. Nội không quản nhọc nhằn, mưa nắng, đổ mồ hôi xuống từng gốc cây. Bàn tay bà ngày càng chai sần để những quả ngọt thơm ngày càng đầy, lúc lĩu trên cành vào mùa thu hoạch. Bà kiêu hãnh cầm trên tay những trái mãng cầu bụ bẫm sắp vào từng cần xé cho thương lái mang đi. Sau đó, bà cầm những nắm tiền phân phát cho đàn cháu. Nội luôn nhớ trong đầu những lời thỏ thẻ vòi vĩnh của đàn cháu nhưng khi có tiền rồi bà mới bộc lộ khả năng ghi nhớ của mình: “Cái này bà cho... mua cặp, cái này cho... mua sách, cái này cho... mua bộ quần áo dài...”. Bà dường như không sắm thứ gì cho mình từ những đồng tiền khổ nhọc, thấm mồ hôi, nước mắt cả máu của bà. Anh em chúng tôi lớn lên như đàn chim lìa tổ, bay đi. Hết trường làng phải lên tỉnh, ra thành phố, đi đến những chân trời cao rộng khác. Khi bà đã già yếu hơn, chân tay run rẩy, khu vườn xưa có nhiều quả chín bói mà không ai hái. Cha tôi sống riêng lại bận bịu với nhiều thứ, phải đối phó nhiều thứ của thời cuộc nên chẳng màng quan tâm đến khu vườn của bà. Bà cứ ngước nhìn những trái chín trên cành cao mà chậc  lưỡi tiếc rẻ.

Ở tuổi ăn chưa no lo chưa tới, tôi để mặc bà với những liếp cây con, những hạt giống, những cành cây phải chiết, những trái chín bói lúc lĩu trên cành cao để cắm đầu vào những pho truyện tranh về những hoàng tử và công chúa. Vậy mà nội rất ngưỡng mộ tôi vì năng lực đọc những quyển sách dày cộp. Bà nào biết đó là những bộ sách kiếm hiệp kỳ tình Trung Hoa bị cấm lưu hành trong nhà trường thời đó. Bà vốn mù chữ nên rất sung sướng, hãnh diện nhìn đàn con cháu học hành giỏi giang (theo cách bà nghĩ và phán đoán).

Sau này, tôi nghe mẹ kể lại. Thời thiếu nữ, nội rất xinh đẹp. Xuất thân trong một gia đình tá điền nghèo, bà thu mình trong vỏ ốc của sự mặc cảm, thua thiệt. Ông nội tôi là con trai một, nhà giàu, lấy vợ đã năm năm mà bà nội lớn vẫn không sinh được cho ông một đứa con nối dõi. Thời ấy, người phụ nữ không sinh được con là một lỗi lớn. “Gái độc không con”. Miệng thế gian còn ác độc hơn nhiều. Bất chấp nỗi đau khổ của bà nội lớn, ông nội tôi bỏ bà để lấy vợ khác. Thời ấy, việc bỏ một người vợ không sinh được con là lẽ thường tình. Cho đến giờ tôi cũng không hiểu được bà nội lớn ấy sau khi bị chồng bỏ sẽ đi về đâu, bà bất hạnh hay hạnh phúc hơn, bà có lấy được chồng hay thui thủi, tủi nhục suốt một đời. Một thế kỷ đã trôi qua, nào ai đếm được những đời người với những trầm luân dâu bể, với những bất hạnh, đơn côi vừa lớn lao vừa bé nhỏ như thế. Cuộc đời những người bà chìm khuất trong dòng chảy ào ạt của lịch sử dân tộc, còn biết bao điều lớn lao, trọng đại hơn. Nhưng giờ đây khi nghĩ đến bà nội lớn là lòng tôi lại rưng rưng…

Nhưng cuộc đời bà nội tôi cũng có hạnh phúc gì hơn. Bà lọt vào mắt xanh của ông nội sau hàng chục cuộc mai mối của những bà mai dong. Bà lấy chồng để trả hiếu. Bà bị gán nợ. Bà chỉ sinh được duy nhứt cha tôi là con trai. Khi có con, bà bị các cô tôi chia rẻ, ly gián với ông nội. Bà  bị nói khéo gửi về quê ở xã Tân Định khi sanh cô Ba tôi. Cha tôi bị các bà cô xúi gọi nội tôi là “con quỷ nanh xanh”. Đứa con trai nhỏ lên sáu nhớ mẹ, đánh cái vòng xe, vừa chạy vừa chơi với nó, vượt qua cánh đồng cát bủn mấy cây số, tới trước sân nhà nội thở hổn hễn, mồ hôi tuôn ròng rã, gọi lớn: “Con quỷ nanh xanh ơi, con tới thăm nè!”. Mãi đến gần cuối đời, nội kể cho tôi nghe chuyện ấy trong nghẹn ngào, nước mắt.

Mới hai mươi tám tuổi nội đã góa chồng. “Con một cháu bầy” là phúc lớn. Đổi lấy cái phúc ấy, bà đã lam lũ, tần tảo, cam chịu suốt một đời. Vậy mà lũ cháu thường lấy sự dốt chữ của bà làm trò tiêu khiển. Bà không biết làm tính, không biết những con chữ và số, xa lạ với những ký hiệu cộng trừ nhân chia... Nhưng bà tính nhẩm rất giỏi. Bản năng đã giúp bà tính nhẩm nhanh chóng, chính xác theo cách của bà để đối phó với chồng chất khó khăn của cuộc mưu sinh. Tôi lên mặt “cô giáo”, ra đề toán bất chợt: “Một bảy bốn cộng tám bảy là bao nhiêu?”. Bà xòe tay lẩm bẩm: “Một bảy mươi cộng tám chục rồi...”. Tôi lắc đầu quầy quậy phản đối: “Không, bà phải lên bảng làm toán như cháu kìa!”. Như một tội đồ, bà ngồi thừ ra, gương mặt già nua thẹn thò. Tôi lấy làm khoái chí khi bắt nạt, chiến thắng được bà. Nhưng lớn lên, mỗi khi nhớ đến nội với gương mặt già nua thẹn thò ấy là tôi không chịu nổi. Lòng vô tâm, hiếu thắng dễ làm người ta trở nên tàn ác. Tại sao tôi đã tàn nhẫn với bà như vậy. Bà không làm toán được như cách của chúng tôi được học hành bài bản. Nhưng bà đã phải tính toán suốt một đời để những bữa ăn đong thời thơ bé chúng tôi được no đủ. Bà đã nhẩm tính bằng những giọt mồ hôi đổ xuống khu vườn, để mùa tựu trường chúng tôi tung tăng trong quần áo mới, cặp sách mới đến lớp. Bà đã phải giật gấu vá vai, làm những phép hoán đổi đáng khâm phục về sự thừa và thiếu. Nội không biết chữ nhưng bà đã tính một bài toán cuộc đời mà ngay cả đứa cháu có học hàm học vị cao nhất cũng không làm nổi. Đó là sự kềm nén, thủ tiêu cái tôi của mình cho con tiền đồ con cháu. Góa chồng sớm, nhiều người có chức phận theo đuổi,  chắc có lúc bà cũng mềm lòng. Vậy mà nửa đêm bà thức dậy thắp nhang trước bàn thờ khấn cầu cho bà vượt qua sự ham muốn rất đỗi con người. Bà tự vả vào mặt mình, tự nói: “bỏ, bỏ”. Bởi trong sâu thẳm người mẹ, nội biết khi bà lấy chồng, tài sản sẽ thuộc về các bà cô quản lý, cha và cô Ba tôi sẽ bơ vơ, thiệt thòi. Vậy đó, lòng hy sinh của bà chắc chắn không có một phép toán nào cân đo đong đếm được...

Những năm thiên tai, mất mùa đói kém, chiến tranh biên giới Tây Nam, đói nghèo và định kiến đã bứt tôi khỏi trường học. Chiếc vòng gia bảo của nội để lại đã cứu tôi vào những ngày khốn khó. Không cách nào khác, tôi đã bán vật kỷ niệm ấy lấy tiền trang trải học phí, số còn lại tôi mua một chiếc máy chữ... Tâm hồn mơ mộng nảy sinh từ khu vườn cổ tích của nội, nỗi đam mê và có lẽ cả nghiệp chướng đã xui khiến tôi lao vào nghề viết lách. Mặc cảm của một cô sinh viên vừa nghèo vừa xấu đã khiến tôi ngồi lì trong ký túc xá vào những ngày nghỉ, ôm chiếc bàn xiêu vẹo mà viết. Tôi viết như điên dại dù không biết phải làm gì với đống bản thảo chẳng nơi nào thèm in, chẳng một ai thèm đọc....

Giờ đây, tôi có được nhiều thứ. Tôi thèm mua lại chiếc vòng gia bảo của gia đình họ Bùi nhưng còn đâu. Tôi tự  an ủi, dù sao, nó đã hóa thân vào chiếc máy chữ cọc cạch mà các con tôi hay nghịch phá. Nó đã từng gắn bó với tôi trong gian nhà trọ tồi tàn, tối tăm và ẩm thấp. Từng phím chữ nhẫn nại, tôi đã gõ nên những câu thơ, những trang văn đầu tiên, chập chững của đời người cầm bút. Nó đã chứng kiến bao giờ phút vinh nhục, nhọc nhằn, trăn trở của cuộc đời nữ sĩ. Những giọt mồ hôi, cả nước mắt của tôi rơi xuống mặn chát, những phím chữ đã mòn nhẵn đi rồi... Những âm thanh vang lên, nắng tràn vào khung cửa sổ soi xuống những phím chữ lấp lánh. Tôi say mê, chìm đắm trong niềm hạnh phúc được sáng tạo. Và lúc ấy, hình ảnh bà nội sống dậy, hiện hữu bên tôi, hóa thân trong chiếc máy chữ này. Bà không chết. Có con bướm trắng bay vào thư phòng. Nội trở về bằng con bướm trắng ấy chăng?!

 

TÁC PHẨM CỦA TRẦM HƯƠNG:

>> Người ở mom sông- truyện ngắn

>> Vườn ma- truyện ngắn

>> Dâm nữ- truyện ngắn

>> Còn may có nội- bút ký

 

BÚT KÝ- TẠP VĂN TÁC GIẢ KHÁC:

>> Cao Duy Thảo một mình đến Mỹ

>> Nguyễn Thị Hậu- Sài Gòn tôi yêu

>> Thư tình 40 năm của anh hùng Lê Mã Lương

>> Theo ngọn gió xuân thăm quê Bùi Giáng

>> Ngô Phan Lưu- Vách đất nứt nẻ

>> Về "cái đuôi" phim Bí thư tỉnh uỷ

>> Thu Nguyệt ừ trang vở đến trang văn

>> Khi doanh nhân tự nguyện "đi tù" 10 ngày

>> Từ Nguyên Thạch- Nước của trời

>> Trần Huy Thuận- Chọn hướng xây nhà

>> Một nền văn nghệ bị xâm thực vì đạo chích

>> Huyền thoại Trần Đông Phong trên đất Nhật

>> Tố Trâm- Bao la tình mẹ

>> Nguyễn Hiệp- Điệu tâm hồn

>> Thanh Giang- Trăng Đăk Ru

>> Trần Hữu Lục- Những dòng sông chảy về cội nguồn

>> Ngô Phan Lưu- Sau khi bò về nhà

>> Lẩu bốn mùa

>> Bay lên từ đường băng Trần Đại Nghĩa

>> Thương tiếc thầy Nguyễn Tài Cẩn

>> Khi nào có phố mang tên Trịnh Công Sơn?

>> "Giờ vàng" sinh ra... vàng 9999?

>> Thơ ca và nguy cơ một cuộc chiến tranh

>> Truyền kỳ về dòng họ tay vượn ở Việt Nam

>> Cụ ông 103 tuổi mừng xuân

>> Con mèo Việt nhìn ra thế giới

>> Nón lá Ba Đồn và những đêm sông Gianh

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.