Tin mới Xem thêm

  • Quần soóc, áo vest và sự sáng tạo

    Những hình ảnh về hai buổi giảng dạy của GS Trương Nguyện Thành, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Hoa Sen (TP.HCM) đang là nguồn cơn của một cuộc tranh

  • Vũ Văn Song Toàn - Nước mắt của mụ Dạ Dần

    Tình choàng tỉnh. Tiếng người phụ xe thào thào bên tai: - Quý anh xuống xe, làm bát phở cho ấm bụng. Tình lấy tay dụi mắt.

  • Trúc Phương - Mẹ, đất nước và lưu dân- Kỳ 2

    Trái đất hình tròn/ (Chỉ một lần hình vuông/ Khi Galilê bị giết)/ Mặt trời, mặt trăng/ Đôi mắt bồ câu/ Cũng có hình tròn/ Những hình tròn hiền hòa/ Thiết tha/ Đáng yêu/ Và rất đẹp/ Những hình tròn được sinh ra/ Để còn lại/ Và mất đi/ Như trên mây, dưới nước/ Những vòng tròn trong mơ/ Những vòng tròn có thực

  • Lê Văn Thảo lão nông Nam bộ đích thực

    Mộc mạc, chân chất như một lão nông Nam bộ, phong cách nói chuyện cởi mở, hiền hòa, hay pha trò như bao người con

  • Thành Chung áp tai nghe tiếng biển rền

    Chộp lấy trăng sao/ Vớt lấy trong veo vũ trụ/ Đưa cả Thiên hà trôi vào tầm ngắm/ Sông Ngân rải sao cho Tiên tắm

  • Nguyễn Minh Ngọc & Đất lành

    “Đằng nào thì cũng chết. Biết thế này thà cứ nằm quách ở nhà, kê súng đòm… phát là xong đời!”. Ngồi vạ vật tựa lưng vô mạn tàu, Sáu Lùng mở to đôi mắt trắng dã thao láo cay đắng nhủ thầm. Nghĩ tới cảnh đến lượt mình bị ném xuống biển làm mồi cho cá, thốt nhiên hắn thấy ớn lạnh. Không!

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Bút Ký - Tạp Văn

Trầm Hương - Đó đây những góc phố, con đường

19.10.2016-23:15

Nhà văn Trầm Hương và con trai

 

Đó đây những góc phố, con đường

 

TRẦM HƯƠNG

 

NVTPHCM- Sống giữa Sài Gòn, tiếp xúc với bao anh hào, những con người tinh hoa, những bậc đại thụ văn chương; người phụ nữ bé nhỏ, mong manh như tôi giữa trường văn trận bút cũng rất biết giới hạn của mình.

 

Nơi tôi khởi nghiệp văn chương

 

Năm 1990, từ Đài phát thanh truyền hình Vũng Tàu, từ bỏ một công việc đang thuận lợi, rủng rỉnh tiền; tôi về Bảo tàng phụ nữ công tác. Tôi muốn được thử sức mình, được trải nghiệm và lập nghiệp nơi thành phố năng động với những bước đột phá về đổi mới vô cùng hấp dẫn, ấn tượng. Tôi năm ấy là một cô gái trẻ, ngây thơ, nghèo xác xơ, chỉ giàu có lòng đa cảm. Giữa Sài Gòn phồn hoa, tôi sống trong căn phòng trên lầu ba một ngôi nhà hoang tàn, nóng hầm hập. Lương Bảo tàng thời ấy rất đỗi bèo bọt, tôi viết văn, viết báo kiếm thêm tiền trang trải đời sống. Công việc của tôi ở Bảo tàng là làm thuyết minh.

 

Vào những ngày vắng khách, tôi rảo bước giữa những phòng trưng bày thênh thang, im ắng. Đằng sau những tấm kính là những hiện  vật. Tôi lơ đãng nhìn ngắm. Chợt một cảm giác kỳ lạ trỗi dậy trong tôi. Hình như  những hiện vật nằm bất động giữa những ngăn trưng bày máy môi cử động, hóa thân thành những con người bằng xương bằng thịt, bước ra cuộc đời đang chất vấn tôi. Những hiện vật như muốn vượt khỏi lồng kính chật hẹp, đòi được hiện nguyên hình, muốn được kể những câu chuyện máu thịt. Cảm nhận ấy thôi thúc tôi đi tìm, kết nối, thổi hồn vào  những hiện vật vô tri trong lồng kính với chủ nhân của chúng trong đời sống máu thịt ở ngoài đời. Một cây bút, quyển sổ tay, chiếc máy ảnh; cùng chiế Chaly bé nhỏ, tôi dong ruỗi trên những con đường ở Sài Gòn, xộc vào những hang cùng ngõ hẻm đi tìm kiếm nhân vật.

 

Tôi khám phá thành phố có nhiều con đường mang tên “Bánh, Bơ, Đường, Đậu”; thường là chủ đề cho nhiều người giễu nhại về những nhân vật được đặt tên đường cũng có cái lý riêng. Đó là những anh hùng liệt sĩ thật dũng cảm, với những cái tên cha mẹ đặt cho thật gần gũi, chân chất; khi hy sinh không bao giờ nghĩ mình được đặt tên đường. Tôi đi tìm lại những nữ biệt động, nữ binh vận ở Sài Gòn, thấu cảm những nhan sắc mà chúng ta mắc nợ. Những truyện ký về thân phận phụ nữ được ra đời trên tít căn phòng trưng bày ở bảo tàng trong những giờ vắng khách. Khởi nguồn tìm tư liệu để viết quyển tiểu thuyết “Đêm Sài Gòn không ngủ” về Mậu Thân 1968, tôi được các cô chú cựu chiến binh chỉ ra một nhân mối đặc biệt và nhiệt tình cho tôi địa chỉ: “Gặp ông Tư Chu đi, 14 Nguyễn Ư Dĩ, phường Thảo Điền quận 2”. “Ông Tư Chu, tức Nguyễn Đức Hùng, chỉ huy một đội quân đặc biệt trong lòng Sài Gòn, được gọi theo cách của người Sài Gòn dành cho sự khâm phục, ngưỡng mộ là “Ông trùm Biệt động” khiến tôi ngán ngại. Nhưng rồi tôi dũng cảm gõ cửa. Ôi, “Ông trùm” hiện ra trước mắt tôi là một người đàn ông thanh mảnh, với gương mặt trầm tư và nụ cười hiền. Ông đã mở lòng để những trang sử biệt động Sài Gòn hiện ra với những số phận con người thầm lặng góp phần làm nên cuộc chiến đấu thần thánh. Chiến sĩ của ông là em bé đánh giày, cô gái bán ba, anh xích lô ba gác, cả những “yếu nhân” nơi phủ đầu rồng, là những cô gái đẹp như hoa, dịu dàng, e ấp  giấu bên  trong một sức mạnh quật cường, ngùn ngụt lòng ái quốc. Tôi rung cảm đặc biệt với những thân phận “cò”, “vạc” đã làm nên đã làm nên những chiến công huyền thoại của biệt động Sài Gòn. Tôi tự hỏi điều gì đã giúp cho những “cò”, “vạc” ở Sài Gòn làm nên bản anh hùng ca của Sài Gòn. Và rồi, tôi - một “con vạc” từ Bến Tre lên Sài Gòn lập thân, lập nghiệp,  nghiệm ra rằng, chính tính cách thân thiện, hào hiệp, bao dung, công bằng, chí thú làm ăn của người Sài Gòn đã cưu mang những anh hùng, nuôi nấng những nhân tố anh hùng, những hạt giống đỏ, những khát vọng, bức phá, vượt rào. Đội quân biệt động của ông Tư Chu đã biết “bình thường hóa” trong sinh hoạt đời thường, lẫn vào  người Sài Gòn để làm nên những kỳ tích phi thường. “Ông trùm” biệt động từng nói: “Chỉ có ở Sài Gòn mới có biệt động Sài Gòn!”. Ông trùm biệt động cứ day dứt hoài với với những chiến sĩ - hiệp sĩ trong đường dây biệt động của ông. Đó là anh Phan Kim Thạch - một sĩ quan phiên dịch cho Nam Hàn, sẵn sàng làm giao liên đưa hai ông trùm biệt động Tư Chu và Ba Thắng thoát khỏi Sài Gòn sau đêm Mậu Thân 1968. Những ẩn số Biệt động thật đáng cho người Sài Gòn thế hệ sau suy ngẫm, bởi có những người lái xe tuy nghiện thuốc phiện vẫn tràn đầy lòng yêu nước, sẵn sàng lái xe qua nguy hiểm, cái chết. Vì lòng yêu nước, muốn đươc cách mạng tin cậy, ông đã gồng mình, vật vã cai nghiện. Có người sĩ quan hoạt động đơn tuyến, vì đại cuộc đã tự móc mắt mình để qua mặt kẻ thù. Ở Sài Gòn có nhà tư sản dân tộc Bùi Duy Cận - người sáng lập và là chủ nhân Hãng sơn Bạch Tuyết, đã giúp hàng ngàn lượng vàng cho cách mạng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông Cận lúc ấy sang Pháp chữa bệnh đã ủy nhiệm cho người cháu, hiến toàn bộ tài sản và hướng dẫn cách sản xuất sơn Bạch Tuyết cho cách mạng. Đó là câu chuyện “gia đình Biệt động” của má Vũ Thị Lượng, với chiếc xe ba gác, mẹ đẩy sau và đứa con tật nguyền đằng trước, chở rác rưởi, xà bần đi khắp thành phố Sài Gòn, chuyển vũ khí tận tay cho các chiến sĩ cách mạng. Ông Tư Chu mãi day dứt về sự hy sinh thầm lặng của anh Lê Huấn (Hai Hồ) - con trai một tướng lĩnh cao cấp Sài Gòn, quê gốc Quảng Nam đã hoạt động đơn tuyến trong lòng địch. Trong vai một sĩ quan quân đội cộng hòa, chính Hai Hồ lái xe đưa ông vào thị sát Bộ Tổng Tham mưu, chuẩn bị cho Mậu Thân 1968. Đó là người phụ nữ chấp nhận làm người chiến sĩ vô danh khi làm vợ một sĩ quan không quân Mỹ đã lấy được cho cách mạng tấm bản đồ chi tiết nội đô Sài Gòn và tấm bản đồ ấy đã giúp lãnh đạo phân khu nội đô nghiên cứu cho kế hoạch tổng tiến công…

 

Những phận đời chất chứa oan khuất, nỗi đau; chấp nhận những vỏ bọc không là mình đã làm nên ẩn số của lòng yêu nước mãnh liệt của người dân Sài Gòn. Cho đến phút cuối đời, ông Tư Chu vẫn còn day dứt trước món nợ máu xương. Chỉ sau một đêm Mậu Thân, hơn 88 chiến sĩ biệt động hy sinh, nhiều cơ sở nội thành bị vỡ, bị bắt vào các nhà tù cho trận “dứt điểm” không thành này (mà để có được một chiến sĩ biệt động thật kỳ công, ngoài lòng quả cảm, trung thành vô hạn với Tổ quốc còn phải có được những điều kiện bình thường hóa bám thành phố hoạt động, nên tổn thất này nhân lên hàng ngàn lần). Nỗi day dứt ấy vẫn đau đáu trong ông đến cuối đời, bởi sau ngày hòa bình, lực lượng biệt động đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, được giải thể quá nhanh, chưa kịp làm chính sách cho những người lính thầm lặng, đơn tuyến trong lòng địch. Lần theo lời kể của ông, được sự dẫn dắt của lòng đa cảm, tôi đã đi đến nhiều địa chỉ ở Sài Gòn, được mở lòng, chia sẻ. Những trang viết đầy thêm mỗi ngày. Tiểu thuyết “Đêm Sài Gòn không ngủ” đã ra đời từ rung cảm mãnh liệt số phận những con người thầm lặng mà nghĩa khí rất đỗi Sài Gòn…

 

Sống giữa Sài Gòn, tiếp xúc với bao anh hào, những con người tinh hoa, những bậc đại thụ văn chương; người phụ nữ bé nhỏ, mong manh như tôi giữa trường văn trận bút cũng rất biết giới hạn của mình. Tôi không dám đánh nhau với chiếc cối xay gió nên không bao giờ có ý nghĩ mình sẽ viết một bài văn bia; bởi đó là một việc khó, rất khó. Thà cặm cụi ngồi viết tiểu thuyết cả ngàn trang, trong nhiều năm liền, còn biết đích đến của mình còn hơn phải gò mình vào mấy trăm từ chở nặng cả lịch sử một vùng đất địa linh nhân kiệt trong bất lực. Tôi tự biết “văn bia” là thể loại không phù hợp chút nào với tạng đa cảm, yếu mềm của tôi. Bỗng một đêm thức dậy sớm, không tài ngủ thêm được nữa, tôi cứ thao thức... Kỳ lạ thay, dường như hồn những người đã khuất mà tôi được biết như đang sống dậy, hiển hiện trước mắt tôi; có cả những người con gái đẹp dấn thân trong những ngày hoàng hôn lịch sử đã thôi thúc tôi viết những dòng đồng cảm, tri ân nhan sắc:

 

“Có nơi nào như ở Sài Gòn/ Chúng ta mắc nợ những người con gái đẹp/ Có gì quý bằng nhan sắc và nhân phẩm/ Khi Tổ quốc cần những người con gái biết hy sinh...”

 

Chạm tay vào những phận đời, những giọt nước mắt của những con người bình thường mà phi thường, tôi dường như được nhập hồn để viết:

 

Sài Gòn đêm Mậu Thân không ngủ / Những người lính biệt động “đánh  nhanh rút nhanh” vẫn kiên trì chờ đại quân, dù biết mình phải chết! / Đó đây những góc phố, con đường các anh chị còn nằm lại / Nhiều người lạc đường, “lội” sông đã không về / Những người lính cảm tử được giấu trên máng xối, tường hai lớp, vách hai ngăn…/  Những bà mẹ giấu con ngay trong tấm lòng mình /  Sài Gòn rưng rưng hai chữ lòng dân!”

 

Phải, đó đây những góc phố con đường mỗi ngày ta qua, xương máu những người lính năm xưa còn gởi lại. Càng tiếp cận với những trang lịch sử được làm nên bằng những cuộc đời thầm lặng, tôi càng cảm nhận vẻ đẹp thành phố mình đang sống một cách máu thịt, sâu thẳm. Với tôi, bản thân Sài Gòn là một kho báu di tích lịch sử khổng lồ, chạm vào đâu cũng thấy mình đang mắc nợ…

 

Thành phố cưu mang, nghĩa tình!

 

Tôi nhớ những năm đầu của đổi mới, cánh nhà văn, nhà thơ phần lớn đều nghèo. Chưa ai sống được bằng nhuận bút. Lương của tôi không đủ trả tiền nhà trọ. May mà lúc ấy Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ mở dịch vụ tiệc cưới. Tôi gia nhập tổ giặt khăn. Công việc ấy khá nặng nề, tay chân thường xuyên bị ghẻ lở vì tác hại của xà phòng quyện với dầu mỡ, nước chấm. Nước mắt tủi thân của tôi từng rơi theo những bọt bong bóng xà phòng lúc giặt khăn. Bù lại, thu nhập một tuần giặt khăn hơn cả lương tháng. Tôi gởi cho em trai học út Đại học Cần thơ những đồng tiền giặt khăn xót đắng mồ hôi.

 

Lần đầu tiên mua được chỉ vàng, tôi vui mừng khôn tả. Trưa hôm ấy, tôi rủ nhà thơ Thảo Phương “làm một bữa no”. Nhận ra vẻ buồn bã khác thường của chị, tôi gặng hỏi. Chị ngập ngừng nói đang cần tiền đóng học phí cho con. Tôi chợt nhớ ra mình đang đeo trên tay chỉ vàng, vội cởi nó ra, đưa cho chị. Từ sự chia sẻ những khó khăn trong đời sống thường nhật, bất chấp khoảng cách tuổi tác, tự bao giờ, tôi và chị trở thành đôi bạn vong niên. Vậy đó, những phận đời “cò”, “vạc” đã nương tựa nhau những ngày khốn khó, cùng chia ngọt sẻ bùi, hòa nhau nước mắt nụ cười vinh quang và cay đắng, hẩm hiu bèo bọt đời văn chương. Tôi nhớ những ngày sống trong căn phòng trọ tồi tàn, nóng hầm hập trên đường Lê Văn Sỹ. Trong “hầm bát quái” ấy, tôi đêm ngày luyện lòng kiên nhẫn viết hàng ngàn trang bộ tiểu thuyết “Người đẹp Tây Đô”, rồi kịch, rồi phim… Thời ấy, báo Sân khấu còn hoàng kim. Tổng biên tập Minh Khoa không tin cô gái còn quá trẻ như tôi lại viết truyện “Đêm xuân” về nỗi niềm vương phi Bích Châu viết “kê minh thập sách” mong thức tỉnh vua. Nhà văn Ngọc Linh phải đưa tôi đến gặp tổng biên tập. Qua cuộc trò chuyện, ông tin, cho in truyện. Và tôi còn nhớ, nhuận bút lúc ấy được 500.000 đồng (có thể mua được một chỉ vàng 24k). Tôi nhớ những quán cóc vỉa hè, nơi những người bạn đọc thơ bừng bừng nhiệt quyết, ôm giấc mộng văn chương viết nên những tác phẩm tâm huyết, để đời nay kẻ còn người mất, người đã quá già và tôi cũng không còn trẻ nữa. Tôi nhớ những con đường hun hút rơi đầy những cánh hoa dầu đưa tôi đến trường đại học vào ban đêm sau thức tỉnh rằng tuổi xuân ngắn ngủi, nhan sắc sẽ tàn phai, chỉ có tri thức là giàu có theo tháng năm. Tôi nhớ căn phòng trọ nằm trên tầng ba ngôi nhà đã xuống cấp, cầu thang rung rinh như răng bà già chỉ có một cửa duy nhất nên đi học về khuya phải có người mở cửa. Người hàng xóm tốt bụng ấy là một ông già hom hem, lặng lẽ. Hỏi ra, tôi mới biết đó là một người cháu của gia đình Ngô Đình Diệm. Ông giấu thân phận mình trong căn phòng ọp ẹp, cũ nát. Ông có một người con gái, sống ở Mỹ, lâu lâu mới gởi chút tiền về cho cha. Đôi lúc ông bặt tin con, ấp úng nói lời mượn ít tiền. Tôi sẻ vài trăm ngàn nhuận bút, đặt vào chiếc phong bì, gởi cho ông. Người đàn ông xuất thân từ một gia đình vương quyền ở Huế bất ngờ rơi nước mắt, cảm kích. Chỉ chiếc phong bì mong manh mà những khoảng cách được xóa bỏ. Ông mở lòng ra kể về gia đình Ngô Đình Diệm. Người đàn ông mang họ “Ngô Đình” này đã từng bị gia tộc ghẻ lạnh vì dám yêu và lấy một người phụ nữ không môn đăng họ đối nhưng vẫn giữ trong lòng sự ngưỡng mộ “cụ Ngô”. Tôi đã  từng hỏi ông về bà Ngô Đình Nhu. Ông nói: “Đó là một phụ nữ đẹp và sắc sảo. Bà ấy cũng rất tử tế với tôi. Bà cũng trách tôi bướng. Cũng có nhiều điều người ta nói không đúng về bà ấy!”. Sau này đọc Madam Nhu- Quyền lực bà Rồng” của nữ tác giả  Monique Brinson Demery; tôi thầm nghĩ, nữ tác giả này không thể nào có được một tư liệu sống động về người đàn ông mang tên Ngô Đình Tr. còn sót lại ở Sài Gòn. Cũng rất lâu rồi, sau khi chuyển nhà, tôi không còn gặp ông ấy. Những phận đời “cò”, “vạc” ở Sài Gòn tụ tán là chuyện thường tình. Nhưng phận bèo biết nương tựa, đùm bọc nhau lúc gieo neo luôn đọng trong ký ức mỗi con người. Người Sài Gòn nghĩa tình là thế. Tôi nhớ anh Tư Bốn - người phụ trách công tác Đảng đã từng mời tôi đến văn phòng để hỏi về phần chồng bỏ trống trong lý lịch lại có hai con. Sau khi nghe tôi giãy bày, anh cười hiền nói: “Đảng cần sự minh bạch, nên muốn em bổ sung thông tin về cha của những đứa bé. Nghe em nói anh hiểu rồi!”. Năm tháng vun vút trôi đi. Từ thành phố cưu mang, bao dung nghĩa tình, những đứa trẻ năm ấy lớn khôn, bay đến những chân trời mơ ước.

 

 

 

>> XEM TIẾP BÚT KÝ - TẠP VĂN TÁC GIẢ KHÁC... 

 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.