Tin mới Xem thêm

  • Chất lãng mạn đang ngày một ít đi

    Chất lãng mạn ngày càng ít đi ở trong mọi lĩnh vực, mọi đời sống, mọi cuộc đời - đó là điều chắc chắn, dễ nhận thấy. Cũng chẳng tốt lên hay xấu đi… Riêng đối với những người làm văn chương mà thiếu đi phẩm chất này, dù với lý do gì, âu cũng là điều đáng buồn và đáng tiếc

  • Chảy máu hay lưu thông chất xám

    Khác với kinh tế quản lý tập trung, nền kinh tế thị trường tuân theo quy luật cung cầu. Thị trường nhân dụng cũng không ngoại lệ. Chúng luôn dịch chuyển từ chỗ thừa sang chỗ thiếu để lập thế cân bằng mới cả về cơ cấu lẫn số lượng

  • Trần Thanh Hà - Bóng chim Thanh Tước

    Đêm sau Thức không tắt điện thoại, nhưng để rung, như vậy vẫn sẽ thấy được cuộc gọi của nàng và không làm phiền vợ.

  • Có còn một khoảng trời thông?

    Giữa Đà Lạt sương sớm, trong một quán cà phê nhỏ ven đèo Prenn, anh bạn cùng bàn bỗng thốt vu vơ: “Con gái Đà Lạt giờ

  • Nghệ sĩ Chánh Tín giao nhà cho ngân hàng

    Ngân hàng Phương Nam cho biết ông Nguyễn Chánh Tín (NSƯT Chánh Tín, 62 tuổi) đã làm thủ tục để bàn giao lại ngôi nhà ở đường Ba Vì

  • Nguyễn Thế Hùng & Những đường cong Tam...

    Nàng không phải là điếm và tôi cũng chưa thể ngộ ra được như thế nào là thơ, nhưng tôi biết những cái tôi và bạn bè tôi làm ra không phải là thơ thôi. Lạ là sao ông và bạn bè ông cũng tán được thì thật là tài. Ông làm phê bình thì ông phải phê và bình chứ, cứ tán thế thì ai chả làm được

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Bút Ký - Tạp Văn

TRẦN QUỐC TOÀN cầu văn chùa Tháp

 

Đoàn nhà văn Việt Nam tại quảng trường Norodom 

 

 

Vào chùa Tháp cầu văn

 

 

TRẦN QUỐC TOÀN

 

Cùng với việc tổ chức giải thưởng văn học Mekong dành cho các nhà văn thuộc ba nước Đông Dương, từ 27-6 tới 2.7.2010, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức chuyên thâm nhập thực tế “Về lại chiến trường xưa” tại nước bạn Campuchia. Chuyến đi thể hiện quyết tâm chấn chỉnh công tác đối ngoại của Hội, theo hướng thiết thực, bắt đầu việc hội nhập quốc tế bằng việc mở cửa giao lưu với những nước láng giềng gần gũi nhất.

 

 

1. Chuyến đi được tổ chức bằng tiền tài trợ của Nhà nước dành cho việc xây dựng các tác phẩm văn học. 15 nhà văn tham gia đều phải ký hợp đồng đăng ký để tài và sẽ thanh lý hợp đồng khi hoàn thành tác phẩm.

Mỗi nhà văn trong đoàn có cách “về lại” vùng đề tài này theo kiểu riêng của mình. Nhà văn Trần Thanh Giao tìm được ngay trong phố chợ Konpong Cham một lão ông người Khmer nói được tiếng Pháp để trò chuyện, lấy chi tiết cho bài kí bắt đầu được khởi bút. Nhân vật của Trần Thanh Giao cho biết, ông mới đi mổ mắt ở TP.Hồ Chí Minh trở về, chi phí 16 triệu đồng tiền Việt. Theo ông, người Khmer sang Việt Nam chữa bệnh, ngày một nhiều hơn. Riêng nhà ông, ai bệnh cũng chạy chữa đường này. Tất nhiên dịch vụ cao cấp này chỉ dành cho giới nhà giàu, việc chữa bệnh của người nghèo thì khác, có thể nhìn thấy ngay trên đường Konpon Cham. Đấy là những con bệnh mới đi ra từ một bệnh viện huyện nào đó trên xe ôm, và “truyền dịch ngồi”, ngay trên xe hai bánh, vừa chạy vừa truyền. Chai huyết thanh treo tòng teng như dân thương hồ treo dưa leo, bí rợ trên thuyền. 

Vốn là một cô giáo, nhà thơ Đặng Nguyệt Anh chụp rất nhiều hình một trường học Việt Nam trên Biển Hồ. Trường có sân chơi, có lớp tầng trệt, lớp tầng lầu và nổi trên mặt nước. Dù đang mùa hè, trên sân trường vẫn đông học sinh. Lại thêm các chú cún, chú vện vẫy đuôi mừng khách. Ở cổng trường, dưới hàng chữ Khmer có ghi rõ chữ Trường học Việt Nam. Nếu không theo bà giáo nhà thơ này nhìn ngắm các thuyền chữ ấy, cứ theo tour, tiêu hết thời gian trên các nhà hàng bách hóa của người Khmer cũng bồng bềnh giữa hơn hai mươi nghìn cây số vuông mặt hồ, có tháp đón gió và ngắm sóng, có bán nhiều đồ nhậu cùng hàng lưu niệm, thì tầm nhìn dễ mất chất thơ vì bao quanh cái chợ nổi “hàng không mẫu hạm” to đùng này là không ít xuồng ba lá của các “cái bang nhi đồng”, chìa tay ăn xin bằng tiếng Việt. Có! Có thứ ăn mày đồng bào đáng thương này, nhưng chả là bao so với các trí thức tương lại ở xa Tổ quốc, đang đè sóng mà lớn lên trên sân trường kia! Sang một ngày khác, ngay tại chợ trung tâm Phnom Pênh, Đặng Nguyệt Anh làm quen được với một thiếu niên Việt Nam 12 tuổi tên Khả từ Kiên Giang sang đây kiếm sống, bằng cách làm phiên dịch cho khách Việt Nam mua sắm tại chợ. Công phiên dịch ai cho thì lấy chứ không xin.

Nhà văn Lê Văn Thảo đã từng ở rừng Campuchia hồi chống Mỹ, suốt hành trình thường đi thành cặp với nhà văn Trần Thôi, người cũng đã và đang sống với bà con Khmer Nam Bộ ở Trà Vinh. Cả hai đều biết đôi câu tiếng Khmer, họ giúp nhau nói chuyện với người gặp trên đường “về lại”, người bán dế và cà cuống khìa tại bến phà Niết Lương, người nướng cơm ống tre nước cốt dừa trên đường Konpong Thom, những đứa bé nghệ sĩ chân đất chụp lén du khách vừa bước xuống bến tàu du lịch Biển Hồ bằng máy kĩ thuật số rồi bán cầu may cho người được chụp khi họ chơi xong cuộc du thuyền, vừa bước lên bờ…

 

2. Riêng người viết bài này đã trở về chiến trường xưa theo một ngả khác với những lần tìm đến trước đây. Trở về lần này qua cửa khẩu Mộc Bài với va li du lịch và hộ chiếu xuất cảnh chính quy. Lần trước còn dạy học ở Đồng Tháp, khi chiến tranh biên giới Tây Nam chưa kết thúc, vào ngày 3.5.1978 tôi đưa giáo sinh của mình tới huyện biên giới Hồng Ngự làm công tác đổi tiền. Điểm đổi phải dời liên tục để làm mù con mắt pháo kích của bọn Pôn Pốt. Có lúc tiếng đại bác làm ai nấy trong đội thu đổi đi như chạy, riêng tôi là thủ qũy tiền cũ, cứ ì ạch phía sau vì bao tải bạc cắc trên lưng. Có đêm tắm mò trên sông biên giới, ngay bên những hố đại bác còn nham nhở đất đỏ.

Lần thứ hai, vài tháng sau ngày giải phóng Phnom Pênh 7.1.1979, thời chúng ta đang giúp bạn đánh tàn quân Pôn Pốt, theo một đơn vị bộ đội địa phương Kiên Giang, tôi sang Cămpuchia theo đường biển, đi tàu quân sự từ Hà Tiên, từ biển vào tỉnh Căm Pốt theo sông Căm Pốt. Con sông xanh màu nước biển như mang một chút vịnh Thái Lan ngoài kia vào làm gương soi cho thị xã Căm Pốt đứng xinh xinh sát hai bên bờ sông. Trong nhà hàng thủy tạ, chúng tôi ngồi uống cà phê quốc doanh, chờ tới giờ mở cửa để vào coi khu trưng bầy tội ác Pôn Pốt, cách bờ sông một mặt đường nhựa. Không biết trong ấy cất giữ hài cốt của bao nhiêu boong bao nhiêu on Khmer mà hình xương ống chân, ống tay, xương sọ tràn cả lên mặt tấm biển hiệu nền đen chữ trắng, dài chín mười thước treo cao trước cổng. Bảy anh em văn nghệ chúng tôi không ai đọc được chữ Khmer, nhưng chỉ nhìn hàng chữ nối bằng các mẫu tự Khmer được tạo nét theo mẫu các ống xương, các hộp sọ, chúng tôi cũng lạnh người thấu hiểu nội dung dòng chữ, cũng giật mình nhớ lại rằng, ngày vào 2.5.1975 bọn Pôn Pốt đã đặt chân lên đảo Phú Quốc, rằng chúng đã giết chỉ còn sót có một người ở ấp Phú Mỹ, Hà Tiên và ngày 8.6.1978 vượt Lục Đầu, Thạch Đầu, bọn chúng nó đã chĩa B.40 vào nhà máy xi măng Kiên Lương mình!

Trời phật ơi! Ở đời sao lại có thằng người ác như Pôn Pốt, cái thằng đã băm vằm dân tộc mình làm đau đến cả từng con chữ cái! Còn nhớ, khi chuyển lên đường bộ, nhân lúc xe pal, tôi theo người bạn họa sĩ chạy xuống đồng làm quen với cây thốt nốt. Tôi đặt tay lên thân cây vút thẳng và ngửa cổ nhìn lên những tầu lá sắc đang xòe tay vũ nữ Ap-xa-ra. Duyên may, chót vót trên cây mấy chục mét cao ai đó đang gỡ những ống bương hứng nước ngọt của cây. Người ấy theo những nấc thang buộc sẵn vào thân cây mà tuột xuống. Đó là một cụ già, nụ cười không răng, tấm lưng không áo khoe màu da cháy đỏ màu rượu thuốc. Cụ đeo bên hông một chùm các ống nước đường thiên tạo vừa ủ nắng trời mà lên men rượu. Cụ đưa một ống bương lên khóe miếng móm mém, sau cụ, chúng tôi chuyền tay nhau mà uống cạn cái lí bố sóng sánh chất ngọt vắt ra từ gốc loài cây tượng trưng cho dân tộc này. Bằng mấy tiếng Khmer mới học, anh bạn tôi hỏi cụ được mấy người con? Cụ trả lời. Chúng tôi lắc đầu không hiểu. Cụ cười móm mém rồi đưa lên trước mặt chúng tôi sáu ngón tay. A! Cụ được sáu người con. Nhưng kìa cụ lại nắm hai bàn tay lại, đập đập lên gáy mình ba cái, nói một tiếng - Pôn Pốt rồi lại xòe tay. Chỉ còn ba ngón! Ba đứa con kia đã bị đập đầu, đã thành họa tiết máu ở hàng chữ xương trên bảng hiệu nhà trưng bày tội ác chúng tôi từng lạnh mình nhìn thấy.

 

3. “Về lại chiến trường xưa” để thấy đất nước Campuchia đang rất thanh bình. Ở Phnom Pênh, trên quảng trường Norodom, quảng trường Độc Lập, trên đường ven sông, chim bồ câu-biểu tượng hòa bình bay lượn và đi lại thản nhiên trên các vỉa hè lát đá. Chim bồ câu dạn dĩ tới mức tranh nhau mổ các hạt bắp còn trên tay du khách. Chim bồ câu đậu trên vai anh bộ đội tình nguyện Việt Nam trong nhóm tượng đài ghi công các anh sau cuộc tiễu trừ Khmer Đỏ diệt chủng. Trong suốt cuộc hành trình, tới nhà nghỉ nào vào mỗi trưa, mỗi chiều chúng tôi cũng gặp những búp tay hòa bình chắp trước ngực những thiếu nữ Khmer hiền từ chào đón. Những người đẹp ấy đã bước vào thơ Nguyễn Hiệp một thành viên trong đoàn:

 

"Lộng lẫy Chan Tha, nước mắt Chan Tha
Em múa điệu gì trong ngôi chùa cổ
Mươi thế kỷ rồi thơ dại hóa thân

 

E thẹn Chan Tha, nhút nhát Chan Tha
Đêm, chợt bùng ngọn lửa
Cho viên cuội ngượng ngùng bên dải phù sa,

 

Xiêm áo trời mây
Cơ thể lụa là
Hương tỏa vạn hình
Thâu đêm suốt sáng
Tiếng trống bập bùng, nhịp tim tiên nữ
Vòng bụng tròn quyến rũ cả siêu nhiên.

                            (CHAN THA)

 

4. “Về lại chiến trường xưa” cũng là đến với khu đền Angkor mà người Việt có cách gọi của mình - đền Đế Thiên, Đế Thích ở tỉnh Siem Reap, cách Phnompenh 317 km về hướng Bắc, một di sản văn hóa nhân loại với hơn 600 đền đài và phế tích bằng đá, mà các vì vua trị vì đế quốc Khmer cổ đã xây dựng thành kinh đô của mình trải dài từ đầu thế kỷ thứ 9 tới thế kỷ 15 rồi bị bỏ quên trong rừng nguyên sinh sau các cuộc chinh phạt của quân Xiêm và được một nhà thám hiểm người Pháp tìm lại năm 1858.

Angkor đang sống lại bằng nhịp thở của hàng nghìn du khách tới đây mỗi ngày từ khắp thế giới, sống khỏe, bằng tiền vé 20 USD mỗi người bỏ ra để được vào chiêm ngưỡng và bái phục một di sản được xếp hạng, để thỏa trí tò mò đi theo bước chân của các nhân vật trong phim “Bí mật ngôi mộ cổ” từng quay ở đây; sống lâu bền bằng công sức trùng tu đang tiến hành của nhiều quốc gia theo lời mời của Liên hiệp quốc; và trên hết, Angkor sống bằng chính sự bất tử của công trình kiến trúc kì vĩ, độc nhất vô nhị mà những nghệ sĩ Khmer đã tạo tác trên sự vững bền của đá.

Hội nhà văn đã chọn tháng Bảy tổ chức “về lại chiến trường xưa” để nối hành trình tìm đề tài của các nhà văn vào đại lễ cầu siêu và dâng hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trên chiến trường biên giới Tây Nam và chiến trường Campuchia cử hành sáng 17.7.2010, tại Nghĩa trang liệt sĩ đồi 82 huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh - nơi yên nghỉ của trên 10.000 vong linh anh hùng liệt sĩ của cả nước. Trong hành trình chung, là một người viết, tôi về lại chiến trường xưa như vào chùa Tháp để cầu văn, để tìm cái đẹp. Tôi đã thấy, đã như được giác ngộ, phải cùng nhau giữ lấy cái đẹp kia.

 

Nguồn: Văn Nghệ

  

 

BÚT KÝ- TẠP VĂN TÁC GIẢ KHÁC:

>> Những sai lầm về kiến thức lịch sử Sài Gòn

>> Đắm mình huyền sử non nước Cao Bằng

>> Lê Văn Duy & người đẹp Đồng Tháp Mười 

>> Hồ Anh Thái với hành trình sách Bắc Âu

>> Tinh mơ Hà Nội của Nguyễn Hữu Quý

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.