Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Dọc đường văn học

Trần Văn Tuấn “giải cứu binh nhì” Phan An

29.7.2015-18:45

 PGS-TS Phan An

>> Thư viện Thanh Thảo

 

“Giải cứu binh nhì” Phan An

 

THANH THẢO

 

NVTPHCM- Cuộc “giải cứu” này xảy ra sau giải phóng 30.4.1975, người có công lớn nhất là nhà văn Trần Văn Tuấn - bây giờ là Chủ tịch Hội Nhà văn TP HCM, còn đối tượng được “giải cứu” là “binh nhì” Phan An - bây giờ là PGS-TS dân tộc học cũng đang ở TP HCM. Nhưng người có ý tưởng đầu tiên về cuộc giải cứu này là nhà văn Lê Điệp, bạn chiến trường của tôi.

 

Sau 30.4.1975, khi tụ hội về TP HCM, chúng tôi đã có những ngày tự do sảng khoái. Tôi tuy công tác ở Ban Binh vận Trung ương Cục, nhưng thường xuyên chơi với bạn bè bên Đài Giải phóng và Ban Văn Nghệ R. Trong nhiều năm, tôi với Lê Điệp cùng phục vụ ở Đài Phát thanh Giải phóng, tôi ở buổi phát thanh binh vận, còn Lê Điệp ở buổi phát thanh Đô thị miền Nam. Cùng với Kha Lương Ngãi, Lê Điệp thường xuyên đi về vùng Củ Chi ác liệt thuộc địa bàn T4. Chỉ sau khi tôi về lại Ban Binh vận để đi xuống chiến trường Mỹ Tho vào “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972, chúng tôi mới tạm xa nhau. Nhưng tới năm 1974, khi gặp lại nhau trên chiến khu, qua giới thiệu của Lê Điệp, tôi được làm quen với... thơ của Trần Văn Tuấn - một chiến sĩ quân giải phóng. Mới chỉ gặp thơ chứ chưa gặp người, nhưng những bài thơ của Tuấn lúc đó đã gây cho tôi ấn tượng mạnh, vì thơ viết về chiến tranh rất thực của một người lính trong cuộc. Lúc đó Trần Văn Tuấn vẫn đang ở chiến trường T4. Sau 30.4 gặp nhau, mới tay bắt mặt mừng, nhưng thơ thì quên đọc, vì còn mải... lùng rượu uống.

 

Trần Văn Tuấn là chàng trai xứ đồng chiêm trũng Hà Nam, dân lính chúng tôi hay gọi đùa là quê “cầu tõm”. Cái anh chàng Tuấn này có nguyên một cốt cách thanh niên nông thôn miền Bắc hồi đó, trông rất mộc và thật thà. Nếu chúng ta cứ nghĩ thi sĩ làm thơ phải là người có mái tóc bềnh bồng, cặp mắt mơ màng... thì sẽ không bao giờ nói Trần Văn Tuấn là người làm thơ. Vậy mà Tuấn đã bắt đầu sự nghiệp văn học của mình bằng thơ ca, và thơ Tuấn rất “có nét”, rất mạnh mẽ mà cũng không kém phần lãng mạn. Đầu năm Đinh Tỵ 1977, tôi cưới vợ ở Hà Nội, đám cưới tổ chức ở nhà ông bạn Nguyễn Đình Chính (con trai nhà văn Nguyễn Đình Thi). Trước đám cưới một ngày, tôi đến nhà Trần Văn Tuấn ở phố Hàng Bột. Tuấn mới ở Sài Gòn ra, sốt rét rên hừ hừ, mặt xanh mét. Tuấn nói: “Em mang cho đám cưới của anh chai rượu tây, nhưng sốt quá chắc em không dự được, anh cầm về giúp em.” Tôi an ủi Tuấn: “Sốt rét là chuyện thường mà, vài hôm khỏi thôi. Để tao cầm chai rượu về, coi như mày có dự đám cưới.”

Nhà văn Trần Văn Tuấn

 

Lại nói, hồi mới giải phóng, ở Sài Gòn gặp nhau vui chơi được nửa tháng, thì bỗng một ngày Lê Điệp chợt nhớ ra: “Chết rồi, còn thằng Phan An, nó ở đâu mà không thấy về Sài Gòn... uống rượu với tụi mình?”. Đúng lúc ấy mọi người mới nhớ, trong những cuộc nhậu mừng đủ thứ này còn thiếu một người bạn: Phan An. Anh ta đâu nhỉ? Khi nghe Lê Điệp nói, mọi người giật mình, thì chính là lúc thân phận một nhà văn trẻ đi chiến trường B2 cùng với Nguyễn Khắc Phục, Lê Điệp, Ngô Thế Oanh... mới hiện ra không thể rõ ràng hơn. Phan An vốn là cháu cụ Phan Khôi, tốt nghiệp Khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, đã về công tác ở Viện Sử học, nhưng vì “máu” đi chiến trường quá nên đã năm lần bảy lượt nài xin ông chú mình là ông Phan Triêm - lúc bấy giờ đang là Phó ban Tổ chức Trung Ương - để được đi chiến trường B2. Cuối cùng, ông chú Phan Triêm cũng mềm lòng, nhưng ông đâu biết, ngày Phan An lên Trường Sơn, là lúc cháu mình rơi vào một “ách nạn”, quàng giữa đường, và bất ngờ đến nỗi không thể đối phó. Ấy cơ sự cũng chỉ tại thói quen ghi nhật ký của thế hệ chúng tôi hồi ấy. Ghi nhật ký để mỗi mình mình đọc, chứ không phải lên “phây” chém gió như bây giờ cho hàng nghìn vạn người “lai”. Phan An ghi nhật ký trên Trường Sơn, những điều mắt thấy tai nghe mà ai đã đi qua con đường gian khổ này đều có dịp trải nghiệm. Cũng cứ nghĩ là ghi cho mình, để sau này làm tư liệu cho những tác phẩm tương lai, nếu trời cho mình theo được nghiệp văn. Nào ngờ...

 

Khi vào tới R (Trung ương Cục), Phan An vẫn hồn nhiên ghi nhật ký, mà không hề nghĩ là có người để ý tới chuyện riêng tư này. Có người để ý thật. Và người đó đã lén đọc nhật ký Phan An lúc anh đi rừng hay làm rẫy. Chẳng biết Phan An ghi những gì, có “sái” lắm không, mà cuốn sổ tay nhật ký của anh đã bị lấy và nộp lên cho bí thư chi bộ. Thế là bắt đầu một “ách nạn” mà Phan An không hề nghĩ tới. Anh bị theo dõi, bị ngăn chặn, bị cô lập. Người ta cảnh giác với anh, tuy bên ngoài cũng không có vẻ gì làm khó anh. Nhưng ở rừng, ai cũng biết, đó là cái khó nhất mà ai nhỡ vướng vào sẽ luôn có cảm giác như mình mắc lỗi, thậm chí, như mình mang tội. Chẳng biết Phan An có trải qua những tâm trạng như thế không, nhưng chúng tôi là bạn bè anh, rất thông cảm và đều thương anh do hoàn cảnh mà anh mắc vào.

 

Thương thì thương, nhưng không thể nào thanh minh cho bạn được. Vì cũng chẳng ai biết, Phan An đã viết những gì trong nhật ký. Riêng tôi, khi nghe chuyện, chỉ tiếc cho Phan An: giá anh làm thơ, như tôi chẳng hạn, dù thơ tôi cũng chẳng hay ho gì, nhưng thơ thì kín đáo hơn văn xuôi. Tôi đã có mấy chục bài thơ viết trên Trường Sơn theo kiểu ghi nhật ký như Phan An, nhưng vì thơ tù mù hơn, mịt mùng hơn văn xuôi, nên sau này khi tôi gặp nạn với bài thơ “Một người lính nói về thế hệ mình”, thì cấp trên khi soi lại thơ tôi viết trên Trương Sơn, đã không quá nặng lời phê phán, vì cũng không “bới” ra được gì tỏ ra nguy hiểm. Còn nói về gia đình, dòng dõi, thì Phan An là cháu cụ Phan Khôi, nhưng anh cũng là cháu ông Phan Triêm - Phó ban Tổ chức Trung ương, chức to như núi. Vậy mà Phan An đã khổ suốt trong 5 năm anh ở chiến trường. Đã vào chiến tranh, đã “chấp nhận thương đau”, mà người ta không tin mình, thì khổ lắm. Còn ghi nhật ký trên Trường Sơn, thì đúng là “Thấy gì ghi nấy” như cụ Nguyễn Công Hoan sau này có quyển sách cùng tên, chứ đâu có dám bịa ra điều gì. Mà trên Trường Sơn, thì chuyện thực còn ghê hơn chuyện bịa rất nhiều, việc gì phải tưởng tượng cho mất công. Chắc Phan An nghĩ thế, và anh đã phải trả giá cho sự ngây thơ hồn nhiên của mình.

 

Đúng Phan An là người hồn nhiên, sau này anh vẫn vậy, và đó là điều khiến bạn bè rất yêu mến anh. Nhưng dù có mắc lỗi vì ghi nhật ký (sau này tôi mới biết, chính chị Đặng Thùy Trâm cũng “mắc lỗi” vì ghi nhật ký khi ở chiến trường Đức Phổ) thì cũng không đến nỗi phải bị bỏ rơi vào đúng ngày giải phóng. Đến nỗi sau cả tháng bạn bè vẫn không biết Phan An đang ở đâu. Trần Văn Tuấn đã xung phong lên lại trên rừng tìm Phan An. Và anh đã tìm được bạn mình đang “hớp chút ánh trăng” qua kẽ lá. Phan An có lẽ là một trong những người tham gia chiến tranh nhưng không biết ngày giải phóng. Có lẽ do anh ở một mình coi cái kho nào đó giữa rừng, và không có radio. Chứ nếu có cái “đài bán dẫn”, chắc anh đã biết ngày giải phóng. Trần Văn Tuấn kéo Phan An về Sài Gòn ăn nhậu, coi như xong phim: “Cuộc giải cứu binh nhì Phan An”.

 

Mừng thì mừng, mà cười không nổi.     

 

 

 

>> XEM TIẾP BÚT KÝ - TẠP VĂN TÁC GIẢ KHÁC...   

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.