Tin mới Xem thêm

  • Điện ảnh và du lịch

    Không phải đến bây giờ chúng ta mới biết vận dụng phim ảnh để quảng bá cho đất nước và dân tộc mình.

  • Văn học trẻ: “bội thực” những nỗi đau riêng?

    Năm 16 tuổi, Arthur Rimbaud – một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái tượng trưng – làm rúng động văn đàn Pháp bằng bài thơ Con tàu say mô tả hình ảnh một con tàu ngật ngưỡng trong giấc mộng tuổi trẻ, phóng khoáng và tự do lướt đi trên hải trình của những biểu tượng đẹp đến mê

  • Lạ tai với kho ngôn ngữ đặc sắc riêng chỉ...

    Giới đi bụi có cả một kho ngôn từ đặc sắc riêng, mà người thường vốn chẳng mấy quen thuộc, thậm chí nghe chẳng hiểu

  • Phan Duy thích đề tài thế sự và quê hương

    Phan Duy là một trong 25 bạn viết trẻ của các tỉnh thành Nam Bộ được mời làm đại biểu tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ IV

  • Cuộc điểm danh lực lượng lớn nhất nước - 2

    Với 80 đại biểu chính thức tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ IV và 25 nhà văn trẻ khu vực Nam bộ làm khách mời, có thể khẳng định với số lượng này không kém gì so với Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc. Và tất nhiên là đông hơn Hội nghị viết văn trẻ thủ đô. Để làm được việc này phải nói đến sự năng động,

  • Trần Xuân Tiến - Văn trẻ việt: thực trạng...

    Một cách công bằng, những người viết trẻ cũng cần ý thức hơn nữa về những sản phẩm của mình thông qua những phản hồi của cả độc giả lẫn

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Bút Ký - Tạp Văn

Trịnh Duy Sơn - Tìm ba cho em

15.4.2017-15:15

 Nhà thơ Trịnh Duy Sơn

 

>> Đem thơ hong giữa nắng trời

 

Tìm ba cho em

 

TRỊNH DUY SƠN

1

 

NVTPHCM- Năm 1992, tôi đang là phóng viên báo Cựu Chiến Binh Việt Nam làm việc Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vào một buổi sáng đẹp trời, tôi vừa bước chân vào phòng làm việc thì đồng chí Đại tá Vũ Linh - Trưởng văn phòng - đưa cho tôi một phong thư và nói:

 

- Tòa soạn mới nhạn được thư của một cháu ở Tiền Giang gửi nhờ báo tìm tung tích của người cha đã hy sinh. Anh đọc kỹ rồi cùng tôi bàn cách giải quyết.

 

Tôi ngồi vào bàn đọc ngay. Lá thư ngắn nhưng nét chữ khá đẹp và rõ ràng:

 

Kính thưa các bác các chú báo Cựu Chiến Binh Việt Nam.

 

Cháu tên là Trần Thị Hương, sinh năm 1961 tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Ba cháu là Trần Văn Luông, (là bộ đội của đoàn 330 Nam Bộ, ra bắc tập kết năm 1955). Trong thời gian ba cháu đóng quân tại Thanh Hóa, ba đã gặp yêu mẹ cháu Hoàng Thị Xuân, hai người đã kết hôn vào khoảng cuối năm 1960. Năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, ba Luông đã đem mẹ con cháu về quê cha đất tổ sinh sống, tại số nhà X, phường K, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang cho tới ngày hôm nay. Từ nhỏ tới lớn cháu luôn được ba yêu thương, chăm sóc chu đáo. Mẹ và các em cháu cũng được ba yên thương hết lòng.

 

Năm 1986, do một cơn bệnh nặng, ba Luông phải vào bệnh viện điều trị dài ngày. Trong những ngày nằm viện, ba luôn muốn có cháu túc trực bên giường bệnh của ông. Cho tới một buổi chiều, khi đó sức của ba đã quá yếu, mà trong phòng bệnh chỉ có hai cha con. Ba đã dùng hơi tàn lực kiệt cố sức ôm ghì con vào lòng nói  trong hơi thở đứt quãng: “Con ơi! Ba chỉ là ba nuôi của con thôi. Ba ruột của con ông Nguyễn Văn Bính, cùng đơn vị với ba, người gốc Tây Ninh. Ba Bính con đã hy sinh từ năm 1962 tại miền Đông Nam Bộ. Con cố gắng tìm về quê cha đất tổ để còn thờ cúng ông bà và ba ruột của con. Ba xin lỗi vì đã giấu con điều thiêng liêng này cho tới ngày hôm nay”. Nói tới đây ba nấc lên mấy tiếng rồi trút hơi thở cuối cùng! Cháu ôm chặt ba òa lên khóc thảm thiết cho tới khi ngất đi lúc nào không biết. Khi tỉnh dậy, trong lúc cả nhà tang gia bối rối, mẹ cháu cũng khóc ngất đi tỉnh lại nhiều lần. Nhưng mỗi khi mẹ tỉnh thì cháu lại khóc gào thét và hỏi mẹ: “Mẹ ơi, con là con nuôi của ba Luông thật không?. Vậy ba Bính của con người thế nào?”. Cả chục lần cháu hỏi vậy nhưng mẹ chỉ trả lời một câu: “Ba con lúc lâm chung đầu óc mê sảng nên nói vậy. Ngoài ba Luông con không còn ba nào khác”. Nói vậy nhưng mẹ lại khóc kể lể: “Ới ông ơi, đến lúc này mà ông còn nói ra những điều ấy làm cho con nó đau khổ thêm!”.

 

Kể từ ngày ba Luông qua đời tới nay, cháu luôn ghi nhớ từng lời ba trăng trối “Ba chỉ là ba nuôi của con, ba ruột của con ông Nguyễn Văn Bính…”. Những lúc buồn cháu lại mường tượng về một người nào đó mới chính ba ruột của mình. Cháu lại vặn hỏi mẹ lại bị mẹ la mắng phủ nhận lời nói của ba Luông. Gần đây cháu biết biết báo Cựu Chiến Binh Việt Nam có chuyên trang “Tìm người thân”, nhằm mục đích thông tin cho các gia đình liệt sĩ biết được phần mộ của người thân ở đâu và để các đồng đội biết được địa chỉ để liên lạc giao lưu.

 

Cháu viết thư này với nguyện vọng qua thông tin trên báo Cựu Chiến Binh, các bác các chú cựu chiến binh bà con cô bác có ai biết ông Nguyễn Văn Bính người gốc Tây Ninh, nguyên là bộ đội Sư đoàn 330 ra Bắc tập kết rồi lại trở về miền Nam chiến đấu hy sinh thì cho cháu biết…

 

Đọc xong lá thư tôi ngồi lặng đi vì xúc động. Đọc lại thêm vài lần nữa, tôi sang tìm anh Vũ Linh. Hai anh em trao đổi với nhau về nội dung lá thư, phương án giải quyết và được sự đồng ý của lãnh đạo tôi tức tốc bắt xe đò đi Tây Ninh. Nơi đầu tiên tôi đến là hội Cựu chiến binh tỉnh Tây Ninh. Nghe tôi trình bày qua đọc thư của cháu Hương, các anh thường trực Hội đều chung nhận định, đây là một trường hợp khá đặc biệt rất cần sự hợp đồng để giải quyết và hứa sẽ tận tình phối hợp với chúng tôi. Tín hiệu đầu tiên đáng mừng với chúng tôi là số anh em nguyên là bộ đội Sư đoàn 330 về sống rải rác ở Tây Ninh cũng còn trên dưới chục người. Trong số anh em này chắc chắn sẽ có người biết đồng chí Bính. Để tăng thêm khả năng tìm kiếm, các đồng chí Thường trực cựu chiến binh tỉnh và tôi thống nhất sẽ liên hệ với Báo Tây Ninh và Đài phát thanh tỉnh Tây Ninh để nhờ hai cơ quan này đăng phát tin cùng yêu cầu tìm nguồn gốc về người bố của cháu Hương…

 

2

 

Chỉ sau hai ngày trở về Văn phòng báo làm việc, tôi đã nhận được hồi âm: “Ở Công ty Cao su Tây Ninh có đồng chí Trang, nguyên là bộ đội Sư đoàn 330, có biết tin về gia đình đồng chí Bính”.

 

Mừng hết chỗ nói, tôi báo ngay cho anh Vũ Linh rồi lại tức tốc lên đường tìm đến Công ty Cao su Tây Ninh để gặp được ông Trang. Vừa xem xong lá thư của cháu Hương, ông Trang hồ hởi nói: Trường hợp hy sinh của anh Bính tôi biết rất rõ. Khoảng đầu năm 1961, anh Bính cùng trong đoàn với tôi từ Thanh Hóa trở về Nam chiến đấu. Sau gần sáu tháng lội bộ trên đường Trường Sơn, đến trạm tập kết cuối cùng là cầu Cần Đăng, Tây Ninh thì dừng chân mấy ngày chờ bổ sung về các đơn vị. Vào một buổi trưa, bất ngờ máy bay Mỹ đến oanh tạc vào đội hình đóng quân của chúng tôi. Hậu quả, 3 đồng chí trong đó anh Bính hy sinh gần chục đồng chí khác bị thương. Tôi biết anh Bính trong thời gian  cùng đơn vị nhưng hoàn cảnh gia đình, nhất là chuyện riêng tư của anh ấy thì không rõ lắm. Tôi chỉ biết  anh Bính còn một người em ruột tên Dũng ở số nhà B, đường Trần Hưng Đạo, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh...

 

Tôi tìm đến nhà ông Dũng vào một buổi chiều. Qua trình bày của tôi, ông Dũng rơm rớm nước mắt và nói: “Anh tôi ra bắc tập kết rồi trở lại quê hương chưa kịp chiến đấu đã hy sinh. Tôi không được biết tin gì về việc anh tôi có một người con như anh kể. Nhưng nếu quả thực cháu Hương là con của anh tôi thì gia đình mừng lắm. Anh cố gắng đưa cháu Hương tới đây. Gia đình chúng tôi sẽ đón nhận cháu như người thân trong gia đình…

 

Thật không bút nào tả nổi nỗi vui của tôi và anh em trong tòa soạn báo. Chúng tôi nhanh chóng báo tin và cháu Hương cũng vội lập tức từ Mỹ Tho lên thành phố Hồ Chí Minh để cùng tôi đến nhà ông Dũng. Trên đường đi cháu Hương bày tỏ cảm xúc vui mừng khôn xiết.

 

- Từ ngày nghe ba Luông nói, mặc dù mẹ Xuân cứ gạt đi nhưng không hiểu sao cháu luôn linh tính ngoài ba Luông cháu còn ba Bính nữa. Kỳ này cháu tìm được tung tích ba ruột cháu thì mừng quá chú ơi...

 

Thật vô cùng cảm động khi được chứng kiến cảnh ông Dũng ôm hai vai cháu Hương cả hai người đều giàn giụa nước mắt, khóc không thành lời. Sau một hồi hỏi thăm người mẹ gia cảnh của cháu Hương, ông Dũng dẫn tôi cháu Hương lên gian thờ, thắp hương cho ông Bính. Trước khi chia tay, ông Dũng còn dặn cháu Hương về nhà mời mẹ Xuân lên thăm nhà ông. Nếu mẹ đồng ý ông sẽ xin việc làm cho Hương thành phố Hồ Chí Minh. Khi tiễn chúng tôi ra khỏi nhà, ông Dũng còn dúi vào tay cháu Hương một số tiền đi đường.

 

3

 

Trong lúc từng ngày từng giờ tôi, anh Vũ Linh và anh Trịnh Quốc Khánh ở Văn phòng đang mong cháu Hương dẫn mẹ đến thăm gia đình ông Dũng thì ở huyện Bến Cầu, Tây Ninh lại diễn ra một sự kiện như sau:

 

Vào một buổi sáng sớm, bà Tư Hậu đang bán bún giò heo trong quán thì nghe loa phóng thanh từ ngọn cây cừ kế bên nói oang oang: “… Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, tỉnh Tây Ninh một đồng chí tên Nguyễn Văn Bính, là bộ đội thuộc Sư đoàn 330, ra Bắc tập kết rồi lại trở về Nam chiến đấu. Nay một cháu gái tên Hương, hiện cư trú tại tỉnh Tiền Giang muốn tìm cha mình là ông Nguyễn Văn Bính với lí lịch quân nhân kể trên. Đề nghị các Cựu chiến binh và bà con cô bác có ai biết thông tin gì về ông Bính thì vui lòng liên hệ với Đài phát thanh tỉnh Tây Ninh để giúp cháu Hương tìm hay biết được tung tích người bố của mình…”

 

Nghe xong bản tin, lòng dạ nóng cồn cào như lửa đốt. nghĩ thầm trong bụng: “Lại ông Ba Bính nhà này con rơi từ ngoài Bắc chứ chẳng ai khác”. liền gọi người con gái ra bán hàng thay mình rồi vội nhảy xe tới Đài phát thanh tỉnh hỏi cho ra nhẽ. Nhận được câu trả lời của Đài phát thanh, ngay chiều hôm đó bà bảo người con trai chở sang tận Thanh An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương gặp người anh ruột của mình là ông Nguyên Văn Bính. Qua câu chuyện bà Tư Hậu kể cho ông Bính nghe về tình cảnh của cháu Hương đi tìm ba, ông Bính rưng rưng nước mắt, bởi ông không thể ngờ rằng giọt máu thất lạc của ông đã mấy chục năm nay, giờ này lại đang lặn lội đi tìm ông.

 

Qua số điện thoại có sẵn trong lá thư yêu cầu tìm ba, Ông Bính gọi trực tiếp đến Văn phòng báo, gặp chúng tôi và bày tỏ nguyện vọng muốn tìm đến Mỹ Tho để trực tiếp gặp bà Xuân và cháu Hương càng sớm càng tốt. Cũng qua trao đổi trên điện thoại, chúng tôi biết hiện ông Bính đã ngoài 70 tuổi, sức khỏe đã giảm nhiều. Chúng tôi cũng được biết thêm trước khi nghỉ hưu ông là đại tá, Phó Trưởng phòng hậu cần Quân Khu 7. Anh Linh nhìn tôi đầy băn khoăn. Liệu có gì sai sót trong chuyện này không? Đang mừng vì cháu Hương tìm được người thân, giờ lại có người nhận là cha ruột của cháu. Vậy hai người cùng tên Bính, cùng là bộ đội tập kết, đều cùng quê Tây Ninh rồi trở về quê hương chiến đấu?   cùng đều con riêng tên Hương? Thật bất ngờ và khó xử. Tuy vậy, như có linh tính mách bảo, anh Vũ Linh vẫn tiếp thu lời ông Bính, người gọi điện thoại, khuyên ông hãy bình tĩnh, đợi một ngày không xa chúng tôi sẽ đưa cháu Hương đến tận nhà nhận ba.

        

Chúng  tôi  nhanh  chóng  báo  cho  cháu  Hương  biết những thông tin vừa có được. Hương cũng tỏ ra bất ngờ. Giọng như lạc đi: Nếu ba của cháu không phải liệt sĩ Bính hy sinh cầu Cần Đăng mà là ông Nguyễn Văn Bính hiện đang sinh sống ở tỉnh Bình Dương như chú nói thì quá hạnh phúc chú ơi... Nhưng cháu vẫn lo… Bởi nếu ba Bính của cháu còn sống thật thì tại sao trong bằng ấy năm… Hương không nói hết câu nhưng tôi hiểu điều cô đang nghĩ. Tôi động viên Hương: Chiến tranh mà cháu. Trong chiến tranh mọi điều đều thể xảy ra đều có lí do riêng cho mỗi hoàn cảnh. Có vẻ Hương hiểu điều tôi nói. Cô nói nhỏ: Thế thì mình đi ngay chú ơi…

 

4

 

Tôi và đại tá Nguyễn Bội Giong (nguyên thư ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thời kỳ kháng chiến chống pháp) trực tiếp dẫn cháu Hương tới xã Thanh An tìm ông Nguyễn Văn Bính. Ngay từ phút đầu gặp chúng tôi, ông Bính đã ôm chầm lấy cháu Hương và chửi:

 

- Cha bố cái thằng Luông. Nó làm cha con tao xa nhau mấy chục năm trời!

 

Nghe ông Bính chửi vậy, cháu Hương càng khóc to hơn và vội nói:

 

- Không phải như ba nghĩ đâu, ba Luông là người rất tốt. Không ba Luông thì con cũng không còn cơ hội gặp lại ba như hôm nay.

       

Được biết hôm nay chúng tôi dẫn cháu Hương về nhận ba, vợ con ông Bính đều ở nhà chờ đón. Bà Tư Hậu từ Tây Ninh cũng tất tưởi sang từ chiều hôm qua, suốt đêm thao thức mong trời mau sáng để được gặp người cháu ruột của mình. Bà con chòm xóm tụ đến mỗi lúc một đông để tận mắt nhìn thấy cô con gái của ông Bính bị thất lạc cha mấy chục năm trời. Điều mọi người muốn tìm hiểu cha con ông Bính thất lạc nhau trong hoàn cảnh nào?.

 

Sau những giây phút đoàn tụ đầy xúc động, cả mấy chục con người già trẻ, gái trai đều ngồi im lặng nghe cháu Hương kể:

 

- Sau khi được các bác cựu chiến binh báo tin ba Bính cháu còn sống, qua linh tính, mẹ cháu tin ngay điều này. Mẹ cứ hết khóc kêu tên ba cháu rồi lại trách: “Ới ông Bính ơi! Ông là người hay là ma. Nếu ông còn sống thật thì sao ông ác đến thế. Ông bỏ mặc mẹ con tôi mấy chục năm trời. Tôi không cho ông nhận con đâu, tôi không thiết nhìn mặt ông nữa”.

 

Sau một ngày khóc than vật vã, dần rồi mẹ cũng bình tĩnh lại. Và cũng đến lúc không còn cách nào giấu được sự thật về cuộc đời nữa. Đêm hôm đó hai mẹ con thức suốt và mẹ cháu đã kể cho cháu nghe về tất cả những chuyện đã qua trong cuộc đời của bà:

 

“Năm 1956, bộ đội Sư đoàn 330 về đóng quân ở Nông Cống đông lắm. Không nhà nào không có bộ đội đến ở. Nhà ông ngoại ngày đó tới bốn năm anh (trong đó có anh Bính anh Luông). Cả hai anh đều năng nổ, đẹp trai nhưng tính cách mỗi người mỗi khác. Anh Bính người cao to nhưng ít nói trầm tĩnh. Anh Luông thấp hơn anh Bính nhưng trắng trẻo và thư sinh hơn. Ngày đó mẹ là cô gái nông thôn mới lớn nhưng cũng ưa nhìn. Ngày nào cũng bị các anh chọc ghẹo. Thời gian trôi qua dần dần mẹ cũng gần gũi các anh như anh em ruột thịt trong nhà. Qua ánh mắt cử chỉ và lời nói, mẹ thấy anh Bính có cái gì đó quan tâm đến mẹ nhiều hơn và mẹ cũng cảm thấy quý mến và gần gũi anh Bính hơn. Khi anh Bính đi công tác vài ngày mẹ đã cảm thấy nhơ nhớ. Rồi tình yêu giữa mẹ anh Bính nảy nở từ lúc nào mẹ cũng không hay. Ngay từ lần đầu tiên anh Bính ngỏ lời yêu mẹ, anh đã nói thật lòng: “Anh là người tỉnh Tây Ninh. Trước khi đi tập kết, anh đã có vợ và một đứa con nhưng gần đây anh được tin vợ con anh đã bị bom Mỹ giết hại. Em có thật lòng thương yêu anh thì hãy thông cảm cho anh điều này.

 

Mẹ và anh Bính yêu nhau dù cả hai đều cố giữ bí mật nhưng chẳng bao lâu tin tức đã lan ra khắp làng…Việc thanh niên nam nữ yêu nhau chẳng có tội tình gì nhưng ngày đó Miền Bắc đang dồn sức lực chi viện cho đồng bào miền Nam nên có nhiều phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang” “Ba khoan” nữa. Ba khoan tức khoan yêu, khi đã yêu thì khoan cưới khi đã cưới rồi thì khoan sanh con. Vậy nên việc yêu của mẹ bố Bính cũng nhiều lời dị nghị. Nhưng mọi lời đồn đại mẹ đều bỏ ngoài tai, bởi mẹ yêu bố con từ trái tim mình. Chỉ một điều làm mẹ hơi khó xử. Đó là việc cùng lúc bác Luông cũng đem lòng yêu thương mẹ. lần bác Luông đã đặt vấn đề thẳng với mẹ và xin mẹ chấp nhận. Mặc mẹ cũng đã trả lời. “Em cũng không ghét bỏ anh nhưng nay em đã trót nhận lời yêu anh Bính bạn của anh rồi…”

 

Chỉ sau một thời gian ngắn thì bố Bính được điều đi đơn vị khác và nhận lệnh lên đường trở lại miền Nam chiến đấu. Khi đó mẹ đã có giọt máu là con trong bụng. Phải xa người yêu, nhưng điều làm mẹ đau đớn nhất là trong việc bố bị điều đi đột ngột bàn tay của bác Luông. Anh Luông đã đi báo cáo cấp trên chuyện bố Bính đã có vợ con ở quê mà còn yêu phụ nữ khác. Trong khi cái thai trong bụng mẹ ngày một lớn lên. Con thử tưởng tượng ngày đó mẹ là người phụ nữ không chồng mà sinh con thì sẽ ra sao. Mẹ dồn đau đớn và bực tức lên đầu bác Luông: “Anh không xứng bạn của anh Bính không xứng đáng là con người nữa. Vợ con anh Bính trong kia bị bom Mỹ giết hại rồi anh ấy mới yêu tôi chứ. Bây giờ con anh Bính đang nằm trong bụng tôi đây. Anh muốn giết cả tôi và con anh Bính phải không?. Mẹ nói tới đó mặt bác Luông cắt không còn hạt máu. Bác nói như khóc: “Anh xin lỗi em. Anh đâu có biết là vợ con anh Bính đã bị bom Mỹ giết hại. Bây giờ để chuộc lại lỗi lầm anh xin quỳ xuống mà cầu mong em hãy tha thứ và bằng lòng lấy anh, để anh có cơ hội chăm sóc cả hai mẹ con em. Anh sẽ không bao giờ để lộ con của em là con của anh Bính. Nếu sau này hết chiến tranh anh Bính còn sống về nhận em con thì anh sẵn sàng trả tạ lỗi với anh ấy. Còn không may anh Bính hy sinh hoặc còn sống mà không nhận con thì anh sẽ yêu thương mẹ con suốt đời”. Đến cả chục lần bác Luông nói với mẹ những điều như thế. Cho đến một đêm cuối năm trời tối mịt mù, mẹ đã tính chuyện quyên sinh. Trong lúc mẹ đã định gieo mình xuống dòng nước xiết thì có một vòng tay hộ pháp như bàn tay của một vị thần ôm choàng sau lưng mẹ. Sau giây phút định thần mẹ nhận nay đó chính vòng tay của bác Luông.

 

- Em ơi! Anh ngàn lần xin lỗi em rồi mà. Em không nghĩ đến em thì phải nghĩ tới đứa con trong bụng chứ!

 

Và cũng chính u i “Phải gi lấy đứa con trong bụng” n m đã quyết định lấy c Luông và đ con có ba.

 

Những năm 60, bộ đội Sư đoàn 330 phần lớn trở về Nam chiến đấu, một số đi học hoặc chuyển sang đơn vị khác, một số chuyển sang làm công nhân nông trường Ngọc Trạo, Vân Du… Trong số đó, Ba Luông con thuộc diện được chuyển sang làm cán bộ nông trường.

 

Khoảng cuối năm 1962, mẹ nhận được tin ba Bính của con đã hy sinh tại Tây Ninh. Mẹ và ba Luông đều xót xa và âm thầm thương tiếc ba con. Cũng từ ngày đó mẹ và ba Luông không còn hy vọng ba con có ngày trở về nhận con nữa. Ba Luông càng tỏ ra ân hận và kiên quyết nuôi con khôn lớn thành ngườì. Cả mẹ và ba Luông đã cùng nhau thề rằng: Suốt đời không bao giờ để lộ chuyện con là con ruột của ba Bính. Mẹ ba Luông ngờ đâu ngày đó Sư doàn 330 có tới hai người tên là Bính cùng về Nam chiến đấu, ông Bính hy sinh lại không phải ba của con. Hết chiến tranh, con và các em của con đã khôn lớn dần, Ba Luông liền thu xếp đưa vợ con về quê hương xứ sở của ba.

      

Cả mẹ ba Luông đều tin ba Bính đã hy sinh nên mỗi dịp ngày 27 tháng 7 vẫn làm mâm cơn âm thầm cúng anh và mong anh phù hộ cho con.

 

Đến ngày ba Luông bệnh nặng chắc là suy nghĩ nhiều lắm. Mấy chục năm qua ba Luông đã hoàn thành nhiệm vụ nuôi con khôn lớn, nay ba sắp qua đời thì phải nghĩa vụ cho con biết người cha ruột của con và nguồn gốc tổ tiên, ông bà. Khi nóng thì mẹ giận ba Luông không giữ lời hứa nhưng khi bình tĩnh thì mẹ thấy ba Luông làm đúng. Mẹ thật sự xin lỗi con vì đã bao năm giấu con những điều thiêng liêng này. Bây giờ mọi chuyện đã khác. Ba Bính con nếu còn sống thật, thì đó là phước của con còn dày lắm. Trời phật thương con, mẹ cũng mừng. Phận mẹ là thế, mẹ cam chịu. Chỉ mong sau nay con gặp ba Bính thì con cũng nói về ba Luông như những gì con biết để ba Bính thông cảm hoàn cảnh, không còn giận ba Luông nữa…Vì… nghĩ cho cùng, lỗi ngày xưa giữa 2 người cũng chỉ do hiểu lầm hoàn cảnh của nhau…!”…

 

Cả mấy chục con người ngồi trên ghế, trên phản và trên nền nhà nghe cháu Hương kể mà không ai cầm được nước mắt.

      

Thế là mọi chuyện đã rõ về phía ông Luông, bà Xuân và cháu Hương. Còn ông Bính mấy chục năm qua ông đi những đâu làm những không đi tìm tung tích những người thân của mình. Đáp lại cái nhìn dò hỏi và hiểu điều mọi người đang chờ được giải đáp, sau một hồi trầm ông Bính chậm rãi kể lại những ngày tháng qua của mình:

      

“Khoảng giữa năm 1962, đoàn của ông trở lại miền Nam chiến đấu có tới trên 200 người. Qua gần sáu tháng hành quân vượt Trường Sơn người tụt lại, người chết do sốt rét ác tính, có người chết do nước cuốn trôi. Khi tới binh trạm cuối cùng cầu Cần Đăng thì bất ngờ bị bom Mỹ đánh vào đội hình làm anh Đoàn Văn Bính hy sinh cùng với 2 người nữa. Mấy ngày sau ông được điều về đơn vị chiến đấu thuộc R. Sau chiến thắng năm 1975, mặc dù công việc bộn bề nhưng ông vẫn xin đơn vị để về Thanh Hóa tìm bà Xuân. Dù hỏi đến trăm người ông cũng chỉ nhận lại được một câu trả lời: “Bà Xuân và ông Luông đã xây dựng gia đình, có con với nhau và chuyển về miền Nam từ sau năm 1975. Lòng đầy thất vọng, không tìm được bà Xuân nhưng yên tâm một phần khi biết bà đã có gia đình riêng với người đồng đội của mình, ông Bính đành quay trở vào Nam sau đó đã xây dựng lại gia đình tại xã Thanh An, Huyện Bến Cát.

 

Từ khi xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam ông Bính lại nhận nhiệm vụ ra chiến trường giúp bạn cho tới ngày bộ đội Việt Nam rút khỏi Campuchia năm 1979.  Ông được Nhà nước phong quân hàm Đại tá và bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng Hậu cần Quân Khu 7 cho tới ngày nghỉ hưu.

 

Vậy mọi chuyện đã rõ. Mọi người đều còn chút buồn riêng nhưng một niềm vui mới, niềm vui của đoàn tụ dần lấn át.  

      

Cuộc liên hoan mừng cha con ông Bính sau mấy chục năm xa cách giờ được sum họp đã làm nỗi buồn chiến tranh qua mau.

      

Theo nguyện vọng của ông Bính, tới đây tôi Đại Nguyễn Bội Giong sẽ cùng cha con ông về Mỹ Tho để thăm bà Xuân và cùng thắp lên mộ ông Luông những thẻ hương thơm nhất để tỏ lòng biết ơn đối với một con người, một đồng đội dày ân nghĩa và nhiều kỷ niệm.

 

 

>> XEM TIẾP BÚT KÝ - TẠP VĂN TÁC GIẢ KHÁC...   

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.