Tin mới Xem thêm

  • Trần Đình Sử, tại sao?

    Có một người thấp đậm, phong cách khá chân phương với nụ cười lành đi từng bước chắc nịch theo cách riêng của mình: Trần Đình Sử

  • Việt Nga - Mùa hoa tam giác mạch

    Ngần ngại mãi, Phong mới quyết định đi Hà Giang cùng cơ quan! Đây là chuyến đi chia tay Phó Tổng giám đốc. Còn gần tháng

  • Thế nào là nhà văn trẻ?

    Đây vẫn là một câu hỏi mở đối với những người sáng tác cũng như những đối tượng quan tâm đến lực lượng sáng tác này. Chúng tôi xin giới thiệu lại một bài viết cách nay đã lâu để mọi người cùng suy nghĩ về câu hỏi này.

  • Nhã Dương & Không thấy Bora

    Mẹ gợi ý con nên đặt tên cho con gái tương lai của con là Bora. Con hỏi tại sao có cái tên đó, mẹ bảo đọc được trên mạng. Con hỏi cái tên ấy có nghĩa gì, mẹ bảo không nhớ, đọc tới mấy dòng người ta giải thích ý nghĩa thấy li ti quá. Con không hỏi tiếp được vì mẹ đã quay đi quét nhà, nên còn nhiều đoạn con không hiểu mà chịu im

  • Một người làm quan

    Luật pháp cần có biện pháp ngăn chặn tình trạng “chồng trưởng vợ phó” hay “cả họ làm quan” từ khâu bổ nhiệm. Sự ngăn chặn này theo

  • Trịnh Bửu Hoài & Có những kẻ…

    Rồi thời gian sẽ cuốn trôi tất cả/ Những vẻ đẹp hào nhoáng của các loài hoa/ Những chân lý của các nhà trá ngụy

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tác phẩm chọn lọc

Đỗ Kim Cuông - Xóm nhỏ cuối ghềnh

18.10.2016-19:45

Nhà văn Đỗ Kim Cuông

 

Xóm nhỏ cuối ghềnh

 

TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ KIM CUÔNG

 

I

NVTPHCM- Xóm Ghềnh Đá nằm lọt thỏm dưới chân dãy núi Hòn Hèo không hề được ghi chú trong tất cả các loại bản đồ từ huyện lên tới tỉnh, kể cả bản đồ quân sự. Còn trong tấm địa dư của xã vẽ bằng mực xanh đen, giấy đã cũ mèm, tên xóm cũng chỉ được một anh chủ tịch xã nào đó đánh dấu bằng một cái gạch chéo viết mực bút bi kèm theo hai con số: 4 và 18, tức là 4 bộ dân cư với 18 miệng ăn.

 

Có thể xóm quá nhỏ, nó không tồn tại trong cơ cấu chính quyền của một xã miền biển. Nhưng bốn gia đình cố kết, đùm túm sinh cơ lập nghiệp ở đây hàng ngày vẫn phải đánh vật với cơm áo gạo tiền. Đất chân triền dốc đá, không có chỗ cấy lúa, làm ruộng. May nhờ có con suối Lươn bốn mùa có nước ngọt, nên các gia đình đều trông chờ vào những triền đồi đá dốc đứng dọc hai bên suối phát rẫy lập vườn để trồng khoai sắn, cây ăn trái. Vào những ngày vãn việc trên rẫy, các gia đình rủ nhau ra bãi san hô dọc biển để bắt tôm, câu con cua, con mực. Phần để ăn, phần đem bán đắp đổi qua ngày. Chuyện còn kể rằng trận bão năm "giá lương tiền", ba trong bốn căn nhà ở xóm Ghềnh Đá bị gió biển quật ngã. Dân trong xóm đói quá, anh thương binh Hai Mạnh đánh liều dong thuyền vượt sóng về thành phố tìm đến nhà ông chủ tịch tỉnh. Nghe xong chuyện ông chủ tịch mới ớ ra biết rằng chỉ cách nơi ông ở hai giờ rưỡi đi thuyền máy đang có dân sắp chết đói. Ngay trong đêm ông chủ tịch tỉnh cùng với đội cứu trợ theo người thương binh về Ghềnh Đá cứu dân.

 

Cũng nhờ chuyện ấy, ông chủ tịch tỉnh mới nhận ra người lính cũ trong trung đoàn công binh của mình ở Tây Nguyên ngày trước nay là một công dân quan trọng của xóm biển nhỏ nhoi bị lãng quên. Ít ngày sau, ông chủ tịch tỉnh đã nhờ các chú bộ đội biên phòng Hòn Đỏ gửi tặng cho Hai Mạnh một cái rađiô để cả xóm cùng nghe tin tức hàng ngày. Còn anh bí thư huyện ủy biết được ở vùng Ghềnh Đá có dân sinh sống, lâu lâu lại "phôn" về xã nhắc nhở chú ý tới các đối tượng chính sách.

 

Đi thuyền cá từ ngoài Vịnh Đầm Môn mà nhìn vào Ghềnh Đá, bốn nóc nhà hệt như miếng vá khác màu trên cả một thảm xanh nơi triền núi. Nhỏ nhoi và cô quạnh. Nó dường như tách ra khỏi thế giới của văn minh và ánh sáng. Có những đứa trẻ con chưa một lần được nhìn thấy ô tô, đèn điện. Phim ảnh công cộng chiếu phục vụ cho dân trong xã cũng chưa bao giờ về tới Ghềnh Đá. Xăng nhớt khó khăn, chả có anh chiếu bóng nào vác máy leo dốc đá hiểm trở chỉ để chiếu phục vụ cho bốn gia đình. Nhưng cuộc sống ở đây vẫn tồn tại. Sáng trưa chiều khói bếp vẫn lên xanh trùm phủ các nóc nhà. Gà eo óc gáy. Heo ủn ỉn trong chuồng. Bầy cò vẫn bay về lội trên các bãi sình lầy kiếm mồi. Có lẽ đây là một trong số ít những địa bàn dân cư của đất nước này, nếp sinh hoạt trong các gia đình xóm ấp vẫn giữ được như thời vua Nghiêu, vua Thuấn. Đêm cửa các nhà không cài then, chốt khóa. Cây rau, trái quả trong vườn không ai hái trộm. Gà vịt nhà nọ sang ăn nương vườn nhà kia tối lại về chuồng ngủ. Bò dê thả rông trên triền đồi. Lâu lâu nhà ai có mất con gà, ấy cũng là do cáo chồn trên rừng tìm đường về cắn trộm. Nhà nào bẫy được một con thỏ rừng, nhím, bắt được con rùa biển, bữa ấy các gia đình đều có món ăn tươi. Chuyện của một người nghe được cả xóm đều hay. Nắm xôi ngày giỗ kỵ chia đều cho sắp nhỏ. Chỉ khổ cho đám trẻ nhỏ đến tuổi cắp sách đến trường. Muốn học lớp một, chúng phải dắt nhau đi bộ quãng sáu cây số dọc theo con đường cát ven biển về tận nhà máy xi măng, học ké. Đứa trẻ có trình độ học vấn cao nhất của xóm Ghềnh Đá là thằng Tèo, con Hai Mạnh cũng chỉ học đến lớp năm. Rồi bỏ. Còn muốn học lên cấp hai nó phải vào thị trấn Diêm Thủy, những mười lăm cây số. Tiền của đâu vợ chồng Hai Mạnh có đủ cho con theo học?

 

Vợ chồng Hai Mạnh là công dân đầu tiên đến lập nghiệp ở Ghềnh Đá, rồi tiếp sau đến các gia đình khác. Không ai tranh cái chức tổ trưởng tổ dân cư của một anh thương binh cụt một nửa bàn chân của anh. Thương tật nhưng anh Hai Mạnh vẫn lao động rất hăng. Đào đá ngày còn được cả khối. Câu mực có đêm được vài ký đưa cho vợ đem vào bán ở chợ. Anh chị đã sắm được một cái ghe nhỏ vừa chở người vào thành phố, vừa đi câu đêm trong vịnh. Ngoại trừ chiếc đài radiô của ông chủ tịch tặng cho Hai Mạnh đưa tin tức trong nước, thế giới cập nhật trong ngày, còn có hai nguồn thông tin nữa thường xuyên đến với bà con trong xóm Ghềnh Đá. Thứ nhất là chiếc ghe đi chợ của Hạnh - vợ Hai Mạnh. Mỗi tuần đôi lần, chị chở bà con trong xóm đi chợ Đầm bán cá tôm, sò, hến và mua gạo mắm, các thứ hàng thiết yếu về dùng. Những câu chuyện các bà, các cô lượm lặt được ở chợ, ở phố trở thành đề tài hấp dẫn cho cả xóm trong ngày. Từ chuyện làm pháo chui, nổ bị thương mấy người ở nhà một ông cán bộ cao cấp chưa biết tỉnh xử lý ra sao, đến chuyện cô đào Mộng Điệp ở Đoàn cải lương Rau Cải Biển bỏ chồng đi theo một kép vào hát ở Nam Bộ, đến cô ca sỹ ngôi sao chích hêrôin... Mấy đứa con nít ở xóm cũng mê đá bóng. Chị Hạnh có sáng kiến ra sạp báo cũ ngoài chợ mua báo theo dạng cân ký. Báo cũ người, mới ta. Dù chưa biết Rônanđô, chiều chiều lũ trẻ kéo nhau ra ngoài bãi cát đá banh nhựa hò la chẳng khác nào Vôn-cúp.

 

Nguồn tin thứ hai đến từ các chú bộ đội biên phòng đóng trên Hòn Đỏ. Họ là đồng đội của Hai Mạnh. Lớp cũ cùng đồn với Mạnh giờ chỉ còn một hai người. Còn lại anh em đã giải ngũ về quê, có người chuyển ngành, người được đề bạt điều về thành phố hay thuyên chuyển đi đơn vị khác. Nhưng bất kỳ một anh lính nào mới được điều về Hòn Đỏ, nghe kể chuyện Hai Mạnh và sau một đôi lần đến thăm nhà, nghiễm nhiên anh ta trở thành "đồng đội của chú Hai." Đã bao năm rời quân ngũ nhưng các ngày lễ Tết có chút quà, các đồng chí chỉ huy ở đồn Hòn Đỏ cũng cử người mang vào biếu anh chị Hai. Hai Mạnh là thương binh của đồn đã đành, nhưng anh còn là người đầu tiên về đóng quân, xây dựng lán trại lập nên đồn biên phòng Hòn Đỏ bây giờ.

 

Đứng từ đầu hồi nhà của Hai Mạnh, phóng tầm mắt ra biển, Hòn Đỏ chẳng khác nào như cái ụ mối chồi lên mặt nước xanh đen. Ngày mưa, có mù giăng nhìn đảo không rõ, còn vào lúc trời quang bể tạnh bằng mắt thường cũng có thể nhìn thấy ngôi nhà quét vôi màu trắng của đồn biên phòng nằm dưới bóng cây xanh. Đi thuyền máy từ đảo vào Ghềnh Đá chưa tới nửa giờ. Ngày chủ nhật các anh bộ đội hay sang chơi làm công tác "dân vận." Đối với các chú biên phòng, bốn hộ dân ở đây đã thân thiết như người nhà. Gặp bữa ở nhà nào chỉ việc sắp thêm chén đũa. Để bù lại, bà con được nghe tin tức thời sự nóng bỏng của tỉnh và Trung ương. Còn những đứa trẻ con có thêm một ông thầy. Đấy cũng là một sáng kiến của Hai Mạnh sau khi đã bàn bạc với đồng chí chỉ huy đồn. Xuất phát từ việc trẻ con Ghềnh Đá đói chữ quá. Từ tám giờ sáng trở đi, căn nhà của Hai Mạnh biến thành một lớp học tập thể. Quãng trên chục đứa trẻ cả trai lẫn gái ngồi xúm xít nhau quanh hai tấm phản gỗ để nghe "thầy giáo" bộ đội giảng bài. Ít nhất cũng phải có bốn loại lớp học khác nhau. Đứa bé nhất tập tô, tập viết trên các cuốn vở kẻ ô ly đã có mẫu chữ viết sẵn. Đứa học cộng trừ nhân chia. Đứa cao hơn, cỡ lớp ba đã bắt đầu được thầy cho giải toán đố. Lớp cao nữa học các phép tính về số thập phân, diện tích hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn. Bọn trẻ học ngoan, chăm chỉ nhưng cũng rất hiếu động. Có lần "thầy" đọc một bài toán về "hai cái vòi nước cùng chảy vào một cái bể...." Bất chợt, con Don - đang mắm miệng tập tô bất đồ hỏi cắc cớ: "Anh Ti nè, cái vòi nước là sao hí?" Thằng Ti anh nó hơi ngớ ra một chút rồi biểu: "Cái vòi nước cũng giống như mỗi lần tao đi tè ấy!" Cả thầy và trò được một phen cười bể nhà. Mất công chú bộ đội lại phải hì hục vẽ lên bảng cái vòi nước để giảng giải cho sắp nhỏ.

 

Vào những ngày bọn trẻ có buổi học, Hai Mạnh bận rộn. Sau lúc chờ chị vợ nổ máy thuyền đưa bà con đi chợ, anh xoay trần nấu một nồi nước lá sâm đất rõ to, luộc một nồi sắn hoặc khoai. Quãng mười giờ trưa, thầy và trò đã mệt nhoài sau lúc đánh vật với những con số và bài chính tả sẽ được lót dạ bằng món quà quê kiểng ấy. Vất vả với lũ trẻ nhưng Hai Mạnh không lấy vậy làm phiền lòng. Có mất công dọn dẹp nhà cửa, ồn ào suốt ngày, nhưng anh có được một niềm vui là ba đứa nhỏ của nhà anh và những đứa trẻ con trong xóm biết thêm nhiều điều mới mẻ qua lời thầy dạy. Những anh lính biên phòng trẻ tuổi đóng quân ở Hòn Đỏ bây giờ đều có trình độ tú tài, có người đã qua trường sỹ quan. Họ giỏi giang hiểu sâu biết rộng hơn thuở Hai Mạnh làm lính. Nhưng họ vẫn hay quen mồm gọi anh là "thủ trưởng." Lớp cán bộ chiến sỹ ở đồn đã truyền tai nhau câu chuyện về một người lính biên phòng đồn Hòn Đỏ bị đắm thuyền trôi lênh đênh trên biển ba ngày mà không chết, người đã từng tham gia bắt giữ tàu Biển Đông chở hàng lậu, trị giá tới hàng tỷ đồng, lợi dụng mưa bão đêm hôm cập vào cảng cũ ở ngoài vụng Hòn Khoai để tuồn hàng, bọn con buôn và thủy thủ sợ mất bạc tỉ đã nổ súng chống cự... Huyền thoại tới mức chính có lần Hai Mạnh đọc một bài báo viết về mình, cũng phải bật cười. Mấy anh nhà báo hay có tài thêm thắt. Quả thật có nhiều chi tiết anh đã quên...

 

Có chăng, chỉ có điều này là thật. Những lần Hạnh lái thuyền chở bà con đi chợ vào thành phố. Quãng từ ba giờ trở đi, Hai Mạnh đứng ngồi không yên. Anh ngồi ở dước gốc cây xoài ngong ngóng nhìn về hướng mỏm Rùa để chờ chấm thuyền của vợ anh chồi lên ở chân sóng. Trong dãy Đại Sơn dưới chân Đèo Cả có một hòn núi giống hình mẹ con - gọi là hòn Vọng Phu. Còn ngay ở nơi Ghềnh Đá này, có một gã đàn ông si tình bằng xương bằng thịt chiều chiều đợi vợ. Tỷ như có một ai trêu Hai Mạnh về việc ấy, anh lại buông ra một câu nhạt hoét: "Đâu có. Tôi đang coi thử chiều nay có giông gió chi không hà. Tối đi câu mực."

 

II

Ít người biết rằng mười sáu năm trước, đã có lần Hạnh đã từng vừa là ân nhân vừa là tù nhân của Hai Mạnh và những người lính biên phòng ở Hòn Đỏ. Cuối những năm 80, nhiều bến bãi ở bờ biển miền Trung là nơi tập kết cho những con thuyền vượt biên, chở người trốn đi nước ngoài. Có địa phương mỗi năm xảy ra hàng trăm vụ. Không ít cán bộ, đảng viên ham tiền, ham vàng rủ nhau bán bãi, bán thuyền, thậm chí tổ chức những đường dây đưa người trốn đi nước ngoài trái phép như cơm bữa. Mỗi người ra đi tìm một niềm vui nơi đất khách quê người với những mục đích khác nhau. Nhưng họ đều có chung một điểm gặp gỡ: đem thân xác đánh liều với biển cả đầy giông tố, cá mập và những toán cướp biển. Nhiều chuyến vượt biên đã đi thoát tới Hồng Kông, Singapor, Philippin, Thái Lan... Rất nhiều chuyến tàu đã bị bắt giữ ngay tại bến cá. Không ít các đường dây đưa người trốn ra nước ngoài đã bị lực lượng công an, bộ đội, dân quân tự vệ tóm gọn. Cũng có những con tàu vượt qua được các trạm gác của công an, biên phòng ra được tới ngoài phao số "0", tưởng phen này sắp tới được "thế giới tự do" thì bão tố nổi lên giữa nơi chỉ còn trời và nước.

 

Chuyến tàu chở Hạnh và sáu mươi người đi vào một đêm tháng sáu bất ngờ gặp bão gần đảo Hoàng Sa. Thuyền gãy bánh lái. Máy tàu bị liệt. Con tàu đánh cá phó mặc cho sóng biển đánh trôi đi hai ngày trời, rồi xô vào ghềnh đá bị vỡ tan ra từng mảnh. Hạnh chỉ còn nhớ đến vậy. Cô cũng không biết bằng cách nào mà giành giật được một chiếc phao xốp cứng, trong cơn hoảng loạn còn ôm theo được một chai nước lọc.

 

Hạnh chụp phao vào người, cột dây và cứ vậy mặc cho sóng cuốn trôi. Lúc tỉnh, lúc mê mệt thiếp đi. Hạnh luôn thầm nguyện cầu trời Phật được chết trên chiếc phao, hy vọng có một con tàu nào đó nhìn thấy xác của cô mà vớt lên đưa vào bờ.

 

Đứng từ trên chòi gác cao của Hòn Đỏ, Hai Mạnh đã nhìn thấy cánh áo trắng phập phồng nổi ngoài khơi xa cách bờ hàng cây số. Đang lúc mưa to gió lớn, Hai Mạnh đã bàn với các chiến sỹ trong đồn và anh lái con thuyền nhỏ ra cứu nạn nhân. Đưa được Hạnh vào bờ, nhìn da thịt cô trắng bợt không ai tin rằng cô còn sống. May sao tim vẫn đập nhẹ. Anh y sỹ của đồn biên phòng đã tiêm thuốc, Hạnh hồi tỉnh dần. Đến tối cô húp được chút nước cháo, uống sữa. Hoảng loạn và sợ hãi, khi biết mình đã được bộ đội biên phòng cứu sống; có lúc Hạnh như một kẻ mất trí, không còn nhớ gì nữa.

 

Hai cơn bão nối tiếp nhau đi vào miền Trung. Mưa gió lớn mấy ngày liền, máy bộ đàm không liên lạc được với trong đất liền, các chiến sỹ ở đồn Hòn Đỏ đành "tạm giữ" Hạnh ở lại với họ trong lúc chờ thuyền. Nhà chật, căn phòng làm việc của Mạnh dành cho cô gái vượt biên. Hạnh đã sống hai ngày, ăn cơm lính, mặc quần áo lính. Cô khép kín như một con sò bị vứt lên bãi cát, giữ mối mặc cảm là mình có tội, chờ ngày giao cho công an tống đi trại. Những câu hỏi đưa ra với Hạnh chỉ được cô trả lời: "Em chán sống ở Việt Nam. Theo bạn bè rủ nhau, hùn vàng đi vượt biên hy vọng sang Mỹ kiếm được việc làm. Có tiền gửi về nuôi mẹ và đàn em năm đứa.

 

Quê Hạnh ở Cam Ranh. Tất cả chỉ có vậy.

 

Phải bốn năm sau nữa, Hai Mạnh mới hiểu được nỗi lòng của Hạnh. Mặc dù sau chuyến đi Mỹ hụt ấy, thoát chết, Hạnh không bị tù tội gì cả. Chẳng ai nỡ bắt giam một cô gái mười tám tuổi - người duy nhất còn sống sót trong chuyến tàu vượt biển không thành trở về. Hơn sáu chục mạng người đã làm mồi cho cá biển. Hạnh nhớ ơn cứu mạng của các chú bộ đội biên phòng. Không ai bảo, hàng năm cứ đến ngày Tết Quân đội, những anh lính ở đảo Hòn Đỏ lại nhận được một bọc quà từ Nha Trang gửi ra. Món quà chủ yếu gồm bánh kẹo, thuốc lá, mì tôm, mì chính... Gói quà ấy của Hạnh gửi ra biếu đảo. Có năm Hạnh còn theo tàu ra thăm "các chú bộ đội." Hai Mạnh biết thêm một điều, giờ đây Hạnh đã trở thành một cô gái bán hàng thuê cho một chủ tiệm vải ở chợ Đầm. Cô gái đã phá tan được mặc cảm với bộ đội. Với Hai Mạnh, cô càng tỏ ra thân thiện hơn. Mối quan hệ có khá hơn chăng là lâu lâu về thành phố, Hai Mạnh ghé thăm Hạnh ở ngay tại sạp hàng. Người ân nghĩa cũ, hai người uống với nhau một ly cà phê, nói dăm ba câu chuyện tầm phào, rồi chia tay.

 

Anh bộ đội nghĩ: "Lính tráng vất vả như mình, sao dám mơ tưởng đến các cô gái thành phố suốt ngày ăn diện, son phấn." Cô gái ngồi nghe bản nhạc buồn phát ra từ một chiếc cát sét, nét mặt thoáng ưu tư: - "Mình là dân buôn bán, chợ trời, bộ đội cách mạng ai người ta thèm yêu."

 

Điều ngạc nhiên của Hai Mạnh chính là vào cái đêm anh nằm đơn độc một mình trong Viện Quân y. Bàn chân của Hai Mạnh bị trúng đạn của bọn buôn lậu bắn trả đã được tháo các ngón dập nát. Vết thương ở bụng, viên đạn đã được gắp ra và khâu lại. Anh chưa quen với cảm giác mất mát cơ thể. Hạnh đến, không biết ai đã báo tin dữ cho cô. Cô mang theo một giỏ đầy sữa đường, hoa quả. Thoạt nhìn thấy anh nằm bất động trên giường, băng quấn trắng người, Hạnh lặng lẽ bước tới cầm lấy tay anh và khóc. Nhìn ngấn nước mắt của cô, trái tim một anh lính thật thà hiểu rằng: Cô gái đẹp ấy đã thương anh mà anh đâu dám mơ ước.

 

Trong những ngày ở Viện Quân y, từng đêm Hạnh lại đến với Hai Mạnh. Kiên nhẫn chăm chỉ như một cô em gái tốt bụng. Ẩn chứa tình thương của một người mẹ. Còn đôi mắt sáng long lanh, lại bảo rằng cô gái ấy yêu anh thật lòng, chứ không phải sự thương hại hàm ơn.

 

"Em có dám về sống ở Ghềnh Đá với anh không?" Hai Mạnh hỏi Hạnh sau những ngày họ chuẩn bị cưới nhau. "- Nếu sống ở đâu có anh dù cực mấy em cũng chịu!" "Em không tiếc công việc buôn bán ư?" "Em sinh ra ở trong vườn, trong bãi mà anh." "Anh muốn sự yên tĩnh và được lao động, được nuôi sống mình bằng chính bàn tay của mình." "- Còn em, cũng không muốn xa cái nơi chúng ta gặp nhau lần đầu, anh ơi."

 

Chỉ chưa tới một tuần, những người lính biên phòng đã giúp vợ chồng Hai Mạnh dựng xong căn nhà gỗ, lợp ngói ngay trên bãi đất bằng phẳng ở Ghềnh Đá. Thấy nhà Hai Mạnh ở ngoài Ghềnh không có chuyện gì, làm ăn được, hai gia đình nữa mới ra cất nhà dựng trại. Thằng cu Tèo là đứa trẻ đầu tiên ra đời của xóm. Hai Mạnh vẫn còn nhớ, ngày ấy để mua được mười ba ký gạo phiếu và vài lạng thịt về giã làm ruốc cho con, còn lại chút mỡ đem rán ăn dần, Hạnh phải đi đò vào Nha Trang từ chiều hôm trước. Ba giờ sáng chị đã phải đi xếp sổ ở quầy hàng gạo, thực phẩm. Về được đến nhà ngoài Ghềnh Đá đã nhọ mặt người. Vậy mà những đứa trẻ cứ nối nhau ra đời. Sườn dốc đá trơ trụi đã thành một rừng cây
chắn sóng.

 

***

 

 Mưa về quãng nửa đêm. Một cơn mưa lớn đủ làm cho cây cối tỉnh lại sau những ngày dài say nắng. Cơn mưa kéo dài quãng hơn một giờ đồng hồ rồi tạnh hẳn. Bầu trời quang đãng như gột sạch những bụi bẩn để lộ ra mảnh trăng non cuối tháng treo lơ lửng trên đỉnh Hòn Hèo.

 

Lúc trời đổ mưa, hai vợ chồng Hai Mạnh đều trở dậy, che chắn cho con heo nái mới đẻ chưa được nửa tháng. Rồi không ai ngủ lại được nữa. Hai Mạnh lui cui đun nước chế trà. Hạnh bảo chồng: "Kìa mình coi, điện ngoài bãi tàu vẫn còn sáng. Mưa gió thế này chắc mấy ông Hàn Quốc ướt sạch." Hai Mạnh phì cười: "Mình lo chuyện con bò trắng răng. Chuyên gia nào còn ở lại đây lúc này. Khai trương động thổ xong là họ lên xe về thành phố cả chứ." "- Mai mốt thằng Tèo đến tuổi ta xin cho nó làm công nhân đóng tàu được không, anh Hai hè." "Để rồi tính."

 

Hai Mạnh không trả lời dứt khoát câu hỏi của vợ... Cả vài tháng nay những người dân ở vùng biển Đầm Môn vui như mở cờ trong bụng khi hay tin Trung ương cho tỉnh liên doanh với một công ty nước ngoài mở xưởng đóng tàu tại đây. Và theo như lời ông bí thư huyện ủy, chẳng bao năm nữa vùng này sẽ trở thành một trung tâm công nghiệp. Chưa ai hình dung nổi một trung tâm công nghiệp, khu chế xuất là thế nào nhưng mọi người từ trẻ đến già đều vui. Ít nhất họ cũng hy vọng Nhà nước mở đường cho dân ba xã vùng biển. Có đường ắt rồi có người, có điện, có nhà máy xí nghiệp. Bà con còn vui vì một lẽ khác: hy vọng con cháu của họ rồi đây sẽ có việc làm. Khổ quá rồi! Bao đời nay để kiếm sống họ phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời để trồng tỉa trái bắp, củ sắn trên các sườn núi dốc đứng. Nhà khá giả sắm được thuyền câu. Thanh niên nam nữ đến tuổi lao động đổ xô đi gánh muối thuê, đi đánh cá, mò cua bắt ốc... Sáng nay cả vùng như mở hội. Xe lớn xe con từ tỉnh đổ về đậu thành một dãy dài. Dễ đến vài trăm người mang cờ đỏ, băng rôn, trống đánh rộn rã mừng ngày làm lễ động thổ xây dựng "nhà máy đóng tàu lớn nhất Đông Nam Á".

 

Hai Mạnh chân cẳng thương tật, không đi được. Hạnh đi dự lễ còn đám trẻ ở xóm Ghềnh Đá, từ chiều hôm trước chúng đã rủ nhau cơm đùm xôi bới, xin tiền cha mẹ vượt dốc đá sang sân trụ sở xã coi các chú công nhân dựng rạp kéo điện. Phim video chiếu cả đêm. Loa đài phóng thanh mở to hết cỡ. Vui như ngày làng mở hội mừng mùa cá. Phải ở nhà, Hai Mạnh cũng chộn rộn bứt rứt đứng ngồi không yên. Anh nhìn không chán mắt ánh điện sáng hắt lên nền trời sau triền dốc đá. Tiếng trống dội về lẫn vào tiếng
sóng biển.

 

Uống chưa xong chén trà Hai Mạnh bảo vợ: "Mình này, ta ra coi thử cái kè ngoài đìa, mưa gió có hề hấn gì không? "Anh chờ em lấy cái đèn pin nghe." Trước khi đi, chị còn cẩn thận giắt màn, đắp tấm mềm cho hai đứa trẻ.

 

Gió thổi tràn trề ngoài bãi cát. Con nước ròng để lộ ra bãi san hô lởm chởm. Nghe thấy tiếng chân người bước lao xao trên cát, những con còng và lũ cua đá vùn vụt chạy trốn ở một hõm giữa các tảng san hô, những con hải sâm không thoát ra kịp, còn nằm kẹt lại giữa đống rong biển, đen trùi trũi to như cán dao. Biển giận dữ hung bạo nhưng biển cũng thật nhân hậu, đãi người. Hai Mạnh thấm thía với cái điều ấy từ ngày hai vợ chồng anh về lập nghiệp trên vùng đất này. Họ chỉ có hai bàn tay trắng, thêm chút vốn của Hạnh gom góp được trong mấy năm đi làm thuê. Bây giờ hai vợ chồng anh đã có nhà cửa, vườn tược và con cái. Nghe đài giới thiệu mô hình nuôi tôm đìa ở các nơi, Hai Mạnh nảy ra ý định xây kè ngăn biển làm đìa nuôi tôm. Hạnh đồng ý ngay với kế hoạch của chồng. Hai vợ chồng và thằng Tèo đã bỏ cả một tháng trời đắp đìa, ngăn nước mặn. Thêm một ngày các chú bộ đội biên phòng ở Hòn Đỏ vào giúp, chỉ ăn mỗi bữa cơm trưa đã đủ hình thành nên một cái đìa rộng quãng hai sào. Bờ kè chưa đủ cao, còn phải thêm ít công nữa và làm hệ thống cống thoát nước. Lạy trời cho mưa thuận gió hòa, chỉ cần trúng vài vụ tôm, gia đình anh sẽ đổi đời. Để cho chắc ăn, khỏi bỡ ngỡ, Hai Mạnh vào tận Cam Ranh xuống các trại tôm hỏi cặn kẽ về cách nuôi tôm thịt. Anh còn mua một cuốn sách "Kỹ thuật nuôi tôm" về tự mày mò, nghiên cứu. Cái đìa tôm luôn là nỗi ám ảnh và làm tốn công sức của vợ chồng Hai Mạnh trong nhiều tháng nay.

Mưa to, nhưng bờ kè được đắp bằng những tảng san hô chết vững chãi, không hề hấn gì. Nước trong đìa lấp xấp, chao động bởi những chú cá thia lia.

 

"Anh ơi, liệu đầu tháng sau, đìa nhà ta đã thả được tôm chưa, để em còn liệu mua tôm giống?"

 

Hai Mạnh không trả lời vợ. Anh ngồi xuống xếp lại một tảng san hô bị xô lệch, mắt dõi nhìn ngoài khơi xa. Dãy Hòn Lớn vươn dài ra biển như một bức bình phong chắn sóng. Trời nổi giông, đổ mưa nhưng dân các làng cá vẫn đi biển nhiều. Đang mùa cá thu, cá nục. Đèn đánh cá kéo dài giăng trên mặt biển một dãy phố nổi chập chờn trên sóng. Không nhìn thấy ngôi nhà của đồn biên phòng ngoài Hòn Đỏ, nhưng Hai Mạnh vẫn nhận ra nó. Bởi ngọn đèn biển sáng xanh như một vì sao làm dấu cho những con thuyền trên biển khỏi nhầm hướng, trở về.

 

 

>> XEM TRUYỆN NGẮN TÁC GIẢ KHÁC...    

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.