Tin mới Xem thêm

  • Nguyễn Đức Phú Thọ không muốn là bản sao lặp...

    An Giang là vùng đất của miền Tây Nam bộ luôn có sự tiếp nối mạnh mẽ truyền thống văn chương. Tại Hội nghị Những người

  • Con chim Phụng cuối cùng: Soi ánh sáng vào...

    Lịch sử. Chúng ta đã hiểu lịch sử như thế nào? Chân lý. Chúng ta đã chạm tới những đâu? Thân phận con người có được

  • Sứ mệnh văn chương trẻ

    Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần IV - 2017 vừa qua có sự hội ngộ của hơn 100 tác giả TP.HCM và các tỉnh thành Nam bộ, sinh từ năm 1980 trở về sau. Tuy chưa phải là tất cả nhưng cũng cho thấy phần nào diện mạo của văn chương trẻ TP.HCM.

  • Chữ Tín

    Ngày mới về nước, gia đình tôi từng rất bối rối khi bị yêu cầu phải gửi hết đồ đạc trước khi bước vào siêu thị mua sắm.

  • Trịnh Bửu Hoài hồn xanh con chữ đến bạc đầu

    Làm thơ được gọi là nhà thơ/ Viết tuồng được gọi là soạn giả/ Viết văn được gọi là nhà văn/ Vẽ tranh được gọi là họa sĩ…

  • Gian nan xuất khẩu sách 'made in Việt...

    Trong năm 2016 nếu như xuất khẩu chỉ có 400 nghìn bản sách, 6,8 triệu tờ báo, tạp chí thì nhập khẩu lên tới trên 41 triệu bản sách; trên 17 bản băng đĩa, 8,6 triệu tờ báo, tạp chí… Tổng kim ngạch xuất khẩu 19,36 triệu USD nhưng xuất khẩu chỉ 3,9 triệu USD. Tuy nhiên, những con số trên cũng không làm nhiều nhà quản lý ngành xuất bản bất ngờ

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tác phẩm chọn lọc

Đỗ Thị Thanh Bình - Cây đa làng Chẩm

17.5.2017-06:30

 Nhà văn Đỗ Thị Thanh Bình

 

Cây đa làng Chẩm

 

TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ THỊ THANH BÌNH

 

NVTPHCM- Hôm nay là phiên chợ huyện, từ sáng sớm bà Thơm đã ra chợ bày hàng. Bà lần lượt lôi từng xếp vải hoa, lụa là, nhung gấm nội, ngoại ra bày la liệt, treo hàng dãy. Ai đi qua sạp hàng của bà, dù không mua cũng dừng chân ngắm nhìn những xấp hàng nuột nà, lộng lẫy với đủ mọi loại hoa và màu sắc, phù hợp với nhiều lứa tuổi. Sạp hàng của bà Thơm to nhất chợ và bà cũng là người buôn bán  kỳ cựu ở chợ này từ hơn hai mươi năm nay.

 

Với tuổi trên năm mươi, khuôn mặt bầu bĩnh, đôi mắt to sắc sảo, cặp môi ăn trầu cắn chỉ, nước da trắng tuy đã hằn mấy nếp nhăn nhưng lúc nào cũng hồng hào đã để lại  ấn tượng cho những ai mới gặp bà về một thời xuân sắc đã qua.

 

Bằng cái giọng ngọt lịm, bà đon đả mời chào những ai đi qua dù chỉ mới ngước mắt nhìn vào hàng bà. Chợ huyện hai ngày một phiên nhưng ngay cả phiên chợ xép bà vẫn đi và vẫn bán được hàng vì bà đã quen khách và những phiên xép thì cả chợ chỉ có một sạp vải của bà mở bán. Trong làng, ngoài phố ai cũng biết tiếng bà buôn bán mát tay. Cả chợ có hàng chục hàng vải, nhưng hàng của bà lúc nào cũng đông khách, nhất là gần đến các ngày lễ, ngày tết, khách cứ xúm quanh, đo không kịp bán. Bà thường hể hả khoe với các bạn hàng:

 

- Cũng là nhờ thánh thần phù hộ, độ trì cả đấy. Mình nặng căn số nên ngày rằm mùng một nào cùng phải thành tâm khấn vái các ngài là các ngài phù hộ cho. Thiêng nhất là thần làng ở miếu cây đa!

 

Khoảng chín giờ sáng, bà đang tíu tít đo vải bỗng con gái út của bà, cô Lan hớt hải chạy ra:

 

- Mẹ ơi! Mẹ về ngay! Bố bị ngất xỉu ở đầu làng, chỗ gần miếu cây đa ấy.

 

- Thôi chết rồi! Khổ thân tôi! Làm sao mà lại ra nông nỗi vậy?

 

- Con chả biết nữa. Người ta bảo là bố ra xem chặt cây đa. Lúc người ta mới cưa được một cành thì tự nhiên bố bị ngất xỉu.

 

- Thật rõ lẩm cẩm! Già rồi thì cứ ngồi nhà, mò ra đấy làm gì kia chứ! Mà cũng chẳng ai như mấy ông chính quyền, chỗ thờ cúng linh thiêng thế mà tự nhiên lại đem chặt phá thì còn khối người bị thánh vật chết!

 

Bà vơ vội tiền trong chiếc hộp gỗ nhét vào chiếc túi da đen, quàng ngang người, giao hàng cho con gái, xấp ngửa chạy về. Từ ngoài cổng bà đã thấy hàng chục người trong gian nhà giữa. Mọi người thấy bà vội dãn ra. Ông Thành nằm thiêm thiếp trên bộ phản, mặt tái nhợt. Cô y tá xã đang cúi đo áp huyết cho ông, ra hiệu cho mọi người yên lặng. Ngay sau đó ông Thành từ t mở mắt ngơ ngác nhìn mọi người.

 

- Ông nhà bị choáng, cần phải nằm nghỉ cho ông uống nước đường, chiều ăn cháo.

 

Nói xong, cô y tá vội vã ra về, mọi người lục tục về theo.

 

Bà Thơm lo lắng đặt tay lên chiếc trán vã mồ hội lạnh ngắt của ông, rên rỉ:

 

- Thật là năm xung, tháng hạn!

 

Ai đến làng Chẩm muốn gần thì đi lối tắt, lối ngang qua cây đa cổ thụ, cách cổng làng khoảng ba trăm mét. Không ai biết cây đa có từ bao giờ. Các cụ già nhất làng thì đoan chắc là từ khi các cụ còn bé tí cây đa đã cao hàng chục thước, thân của nó đã hơn một vòng tay người ôm. Có nhiều huyền thoại về cây đa được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Nào là chuyện chỗ cây đa rất nhiều ma. Ai đi ngang qua cây đa lúc đêm khuya sẽ bị ma đòn gánh thè lè cái lưỡi đỏ lòm như máu quấn ngang lưng. Sáng ra chỉ còn là các xác nằm vắt vẻo trên cành cây, ngang lưng đen thui như bị lửa thiêu. Nào là cứ đến các đêm rằm tháng bảy, gốc đa lại tụ hội hàng bầy người ăn cháo lá đa múa may, nhảy nhót. Sáng ra chỉ còn lại những đồng quần áo rách rưởi, bẩn thỉu chung quanh gốc cây với những chiếc lá đa còn dính cháo. Nào là chuyện nếu ai vô tình đi qua gốc đa đái bậy thì y như rằng bị thần bắt tuyệt tự ba đời hoặc bản thân tự nhiên hóa dại, hóa điên cứ cả ngày ra gốc đa ngồi cười khanh khách v.v...

 

Mỗi chuyện, tùy từng người kể thêm, bớt lại càng khoác thêm vẻ huyền bí cho cây đa và đều đi đến một kết luận là cây đa làng Chẩm rất thiêng. Có lẽ vì thế mà đã từ lâu dân làng Chẩm bảo nhau góp tiền bạc xây một miếu thờ bên dưới gốc đa. Người ta kháo nhau bất cứ ai có điều gì oan khuất, bất hạnh hoặc muốn ăn nên làm ra, thăng quan tiến chức, buôn may bán đắt cứ ra cầu khẩn ở miếu cây đa sẽ được toại nguyện. Ấn tượng về cây đa ăn sâu vào dân làng Chẩm, nhất là những người đứng tuổi cho nên lối đi từ trên đê vào làng Chẩm là lối đi tắt, gần hơn đi lối chính đến một cây số nhưng không mấy người dân làng Chẩm đi qua lối này.Thường thường chỉ có bọn trẻ chăn trâu, mò cua bắt cá, thảng hoặc có một vài học sinh đi học muộn mới vội vã chạy đến trường qua lối cây đa. Chỉ có những người lạ ở xa đến làng Chẩm mới phăng phăng đạp xe đi lối tắt, có người còn dựng xe ngồi nghỉ dưới gốc đa um tùm, mắt rượi những buổi trưa hè.

 

Gần đây, một sự kiện trọng đại đến với làng Chẩm khiến bà con bàn tán xôn xao. Đó là việc đường dây điện sẽ được kéo về làng Chẩm trước Tết âm lịch. Khỏi phải nói, ai cũng vui như mở cờ! Người ta lo mua đồng hồ điện, giây điện để kéo điện vào nhà. Rồi đây làng Chẩm sẽ sáng trưng, sẽ thoát cảnh đèn đóm tù mù từ bao đời nay. Nhà có tiền hơn thì chuẩn bị tiền mua tủ lạnh, cát-sét, ti-vi thậm chí cả đầu vidéo nữa. Tất cả bao trùm không khí vui tươi như sắp có hội. Nhưng có một điều khiến một số người tỏ ra lo ngại là khi được thông báo đường dây điện sẽ kéo qua lối tắt và cây đa sẽ phải chặt bỏ. Một trụ điện sẽ được dựng lên đúng tại chỗ cây đa. Lớp thanh niên tỏ ra không mấy quan tâm về chuyện này mà chỉ ngong ngóng mong sao sớm có điện. Riêng những người lớn tuổi và lớp trung niên lại băn khoăn, lo ngại. Họ thì thầm, bàn tán lo sợ thần làng sẽ trừng phạt, dân làng làm sao ngóc đầu lên được.

 

Hiểu được tâm tư của bà con, ủy ban nhân dân xã tổ chức họp do Chủ tịch xã là ông Lục chủ trì để phân tích lợi, hại. Mọi việc có vẻ cũng lắng dịu khi ông giải thích cho mọi người thấy rõ là chỉ chặt bỏ cây đa, còn miếu thờ vẫn giữ nguyên, việc thờ cúng của bà con không hề bị ảnh hưởng gì. Tuy nhiên một việc ít ai ngờ đến, người phản đối gay gắt nhất trong việc chặt cây đa lại là ông Thành, trung tá về hưu, một đảng viên trong chi bộ. Ông Thành năm nay vừa đúng tuổi sáu mươi lăm, nhưng trông ông trầm lắng, điềm đạm, ít nói. Ông tham gia bộ đội từ năm hai mươi tuổi và về hưu khoảng năm năm nay. Vợ ông, bà Thơm, là người buôn bán giỏi giang, lanh lợi có tiếng ở chợ huyện. Mọi người trong xã đều biết cái cơ ngơi nhà ngói, cây mít hiện nay của gia đình bà là đều do một tay bà tạo dựng. Còn ông Thành - như bà thường kể với mọi người - thì sau gần bốn mươi năm ở trong quân đội, khi về hưu chỉ mang về cho bà bốn tấm huân chương và một cái lon trung tá. Tất nhiên là bà còn quên là cũng trong mấy chục năm ấy ông còn có với bà được ba người con, hai trai, một gái. Khi còn tại ngũ, cứ hai hoặc ba năm ông Thành mới về phép một lần. Mỗi lần về phép, dù thời gian ít ỏi, ông đều đi thăm bà con trong làng. Từ khi về hưu, bà con càng quý mến ông hơn về tác phong gần gũi, hòa đồng, về tư cách đạo đức của người sĩ quan quân đội và nhất là những đóng góp thiết thực của ông cho quê hương.

*

* *

 

Trong buổi họp nói về việc chặt bỏ cây đa, ông Thành là người phát biểu cuối cùng nhưng chắc nịch: Tôi phản đối việc này vì cây đa là biểu tượng sống của làng Chẩm ta. Nó có từ đời ông, đời cha chúng ta, cho nên chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn, hơn thế nữa, nó còn là một di tích cách mạng của làng ta. Chắc trong các vị lớn tuổi có mặt ở đây hôm nay, không thể nào quên được rằng chính chi bộ đầu tiên của xã ta năm 1945 được thành lập chính dưới gốc đa này.

 

Mọi người giật mình nhớ lại: ý kiến của ông Thành thật xác đáng, khó ai bác được.

 

Sau một lúc yên lặng, bỗng ông Lục, chủ tịch xã lên tiếng:

 

- Tôi thừa nhận cây đa có ý nghĩa nhiều mặt đối với làng Chẩm ta. Nhưng nếu vì thế mà chúng ta không dám chặt bắt đường dây điện đi vòng thì phải làm thêm hàng chục trụ điện thêm hàng trăm mét dây, chi phí sẽ tốn thêm hàng chục triệu đồng, liệu làng ta có lo nổi không? Tôi tính thế này: Để lưu giữ được hình ảnh cây đa lâu dài, trước khi chặt bỏ, chúng ta thuê thợ chụp ảnh đến chụp mấy pô làm kỷ niệm, sau này treo vào bảo tàng.

 

Những tràng pháo tay hoan nghênh ý kiến của ông Lục vang lên rầm rầm. Mọi người  lục đục ra về. Ông Thành lặng lẽ bước theo sau, buồn bã. Đang đi, ông nghe tiếng chân người bước rảo theo sau, rồi tiếng ông Lục nói nhỏ bên tai ông:

 

- Thôi, chú Thành ạ! Tất cả đều đã qua. Ta cần nhìn tương lai của làng xóm, chú cứ yên tâm, Thế nào rồi cũng sẽ rửa cho chú mấy tấm ảnh chụp cây đa ấy !

* *

*

 

Tối hôm ấy, sau khi quạt muỗi buông màn cho bố, Lan ra hè ngồi hong tóc. Cô miên man suy nghĩ về những ý kiến của bạn bè và về những hiện tượng bất thường của bố cô trong thời gian gần đây chung quanh việc chặt bỏ cây đa.

 

- Lan à, ông bô nhà mày gàn bỏ mẹ, giữ khư khư cái cây đa ấy làm cái quái gì?

 

- Tao nói thật cho mày biết nhét Cứ giữ cái cây đa ấy thì đến mùng thất làng này mới có điện.

 

- Trung tá quân đội gì mà lạc hậu thế? Mày cũng phải vận động bố mày đi chứ. Nay mai có điện về tha hồ mà xem vi-deo, phim tập hay lắm nhá ! Mê ly, rùng rợn, đánh đấm thoải mái, cụ bô lại mê tít, ngồi xem cả ngày ấy chứ !.

 

Có một vài lần Lan cũng ý tứ nói gần, nói xa về việc điện kéo về làng, việc phá bỏ cây đa, nhưng lần nào cũng vậy, chỉ thoáng nghe vài câu nét mặt ông Thành bỗng dưng buồn hẳn. Ông lẳng lặng bỏ đi chỗ khác. Đến hôm nay, thì ông quỵ hẳn trước việc chặt bỏ cây đa, Lan lờ mờ cảm thấy có một mối liên hệ nào đó giữa cây đa với bố cô mà cô không thể nào biết được.

 

Hồi trưa, lúc tỉnh dậy sau cơn choáng, thấy con gái ngồi bên, ông mệt nhọc hỏi cô:

 

- Người ta chặt xong cây đa chưa?

 

- Chưa bố ạ! Cây đa to quá. Có lẽ họ phải chặt cả ngày mai mới xong.

 

Nghe xong, ông lại nhắm nghiền mắt, thở ra nhè nhẹ.

* *

*

 

Khi ở tuổi mười tám, Thành là một thanh niên khỏe mạnh, vạm vỡ, đẹp trai. Bố anh chết sớm. Bà mẹ ở vậy nuôi đứa con trai độc nhất ăn học bằng nghề dệt vải. Cách mạng tháng 8 thành công. Thành ở trong lớp thiếu nhi đầu tiên của xã. Khi giặc Pháp đánh chiếm trở lại, Thành tham gia du kích hai năm rồi lên đường nhập ngũ. Trong đội du kích xã ngày ấy có Lụa, một cô gái thùy mị đẹp người, đẹp nết. Có cùng một làng quê với bao kỷ niệm của tuổi ấu thơ, có cùng những tháng ngày sát cánh bên nhau chiến đấu bảo vệ xóm làng, chẳng bao lâu, tình yêu nảy nở giữa hai người. Biết bao nhiêu lần họ đã ngồi dưới gốc cây đa cùng nhau tâm sự, cùng ước về tương lai khi quê hương hết bóng quân thù, khi họ nên vợ nên chồng. Không bao giờ Thành quên được buổi chiều mùa đông năm ấy. Hôm ấy, sau một trận chống càn ác liệt, Thành và Lụa lội tắt đồng về miếu cây đa. Họ dựng súng vào gốc đa ngồi sát bên nhau nhìn về làng. Bà con trong làng chạy giặc tứ tán, thôn xóm tiêu điều, vắng ngắt. ánh nắng hiếm hoi của buổi chiều đông không át được những cơn gió lạnh buốt se sắt hun hút tạt vào họ. Giữa cảnh hoang vắng ấy, cả hai người như thấy gần nhau hơn. Họ ngồi sát bên nhau, nhìn đôi mắt trong veo và cặp má ửng hồng của cô gái, Thành thấy dâng lên trong lòng một tình cảm khác lạ, anh đắm đuối trong tình yêu dào dạt. Quàng tay ngang lưng cô gái, anh thấy như trời đất quay cuồng.

Họ quyện vào nhau trong những chiếc hôn nồng thắm.

*

* *

 

Sau đó hai tháng, trong một trận chống càn, Lụa bị thương nặng. Đồng đội lạc nhau mỗi người một ngả, giặc còn đang đóng chốt ở trong làng. Thành bế vác cô trên vai, lăn lội trong đêm khuya tìm đến gốc đa. Nhìn Lụa quằn quại với vết thương quá nặng: một viên đạn xuyên qua ngực trái, lòng Thành đau thắt. Anh xé chiếc áo đang mặc buộc vết thương cho người yêu, ôm cô vào lòng, mong truyền cho cô chút hơi ấm của mình. Dưới ánh trăng nhạt nhòa, mặt Lụa ngày càng tái nhợt, hơi thở yếu dần. Thành càng ôm cô chặt hơn, nước mắt tuôn trào, anh đau đớn thấy mình bất lực không thể làm gì hơn để cứu được ngươi yêu ! Bỗng anh thấy Lụa cựa người, mở mắt nhìn anh, đôi mắt sâu thăm thẳm như sáng hơn lên. Đôi môi cô mấp máy một tiếng nói khẽ khàng : Em... yêu... anh... nhiều lắm ! Anh hốt hoảng ôm chặt cô hơn nhưng không bao giờ cô còn nói chuyện với anh được nữa! Anh cào cấu những mô đất chung quanh, vặt nát đám cỏ trước mặt, nức nở gục xuống bên cô.

* *

*

 

Năm tháng qua đi, đơn vị của Thành hành quân chiến đấu ở nhiều mặt trận khác nhau. Không ít cô gái ở những nơi anh đến đóng quân phải lòng anh bộ đội đẹp trai ấy nhưng anh vẫn dửng dưng.

 

Thỉnh thoảng, những lúc rảnh rỗi, anh thường lôi trong ba lô ra một chiếc hộp nhỏ, trong đó có chiếc mùi xoa lụa màu mỡ gà có thêu hai chữ TL quấn lấy nhau bên góc phải. Đó là vật kỷ niệm duy nhất của người yêu mà anh còn giữ được.

 

Những lần về phép, mẹ anh thường giục anh lấy vợ để bà sớm có cháu bế, đỡ hiu quạnh lúc tuổi già nhưng anh cứ khất lần. Một lần anh về phép gặp lúc mẹ đang ốm nặng. Trong số họ hàng, bà con thường đến chăm sóc bà cụ có Thơm, một cô hàng xóm tháo vát nhanh nhẹn, khá xinh. Trước đây nhiều lần Thơm từng bóng gió xa gần để khơi gợi tình cảm của anh nhưng chưa bao giờ anh thấy mảy may rung động trước người con gái ấy. Đã có lần mẹ anh ướm thử nhưng anh đều lảng tránh. Bà chỉ biết chép miệng, thở dài.

 

- Tội nghiệp, nó cứ nhớ con Lụa mãi!

 

Lần này, trước hoàn cảnh neo đơn của gia đình, mẹ lại đang ốm nặng, anh đành nghe lời khuyên của mẹ và họ hàng, đồng ý lấy Thơm.

 

Đám cưới được tổ chức trước khi anh trả phép ba ngày. Sau khi anh lên đường trở về đơn vị, Thơm vội chạy về nhà mẹ khóc rấm rứt:

 

- Anh ấy thế nào ấy mẹ ạ!

- Thế nào là thế nào?

 

Thơm càng tủi thân nghẹn ngào :

- Anh ấy chả hỏi gì đến con cả!

 

Bà mẹ ngớ người ra một lúc, rồi chợt hiểu ra. Nguyên nhân nào dẫn đến cơ sự như vậy bà đã rõ vì bà là một trong những người biết rõ về mối tình Thành Lụa nhưng bà cũng không nghĩ rằng nó lại sâu sắc đến thế. Bà nhẹ nhàng dặn dò con gái:

 

- Con cứ yên tâm. Nó đi xa về mệt mỏi. Mẹ nó lại đang đau yếu nên nó buồn đấy thôi. Lần sau nó về thế nào cũng có thằng cu đấy. Rồi bà tong tả sang tìm bà mẹ Thành tâm sự. Ba tháng sau Thành nhận được điện báo tin mẹ anh ốm nặng phải về gấp. Về đến nhà anh mới biết là mẹ anh vẫn bình thường nhưng cụ buồn rầu kéo anh vào buồng to nhỏ. Bà mong anh hãy sớm cho bà một đứa cháu nội để bà yên tâm trước khi nhắm mắt xuôi tay.

 

Lần ấy, Thơm có mang và đẻ con trai.

 

Thời gian trôi qua, mẹ Thành qua đời khi anh có đứa con trai thứ hai. Cứ khoảng hai, ba năm anh lại về phép một lần, Thơm ngày càng tỏ ra là người đàn bà lanh lợi, tháo vát, biết làm ăn buôn bán, gây dựng cơ ngơi. Nếu nhìn bề ngoài, ai cũng cho đó là một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên trong quan hệ tình cảm giữa Thành và Thơm hình như vẫn có một khoảng cách nào đó. Thành trầm tĩnh, sống nội tâm. Thơm sống ào ạt, bon chen và tính toán. Sau những tháng năm binh nghiệp, khi ông Thành về nghỉ hưu thì cái khoảng cách đó như rộng thêm ra. Nhiều lúc ông lặng người đi khi nghe vợ chì chiết:

 

- Không có tay gái này thì bây giờ cũng chẳng có chỗ mà chui ra, chui vào đâu!

 

- Cống hiến cả đời, bây giờ được cái gì? Mấy tấm huân chương có đem nấu ăn trừ bữa được không - Tóc ông Thành bạc nhanh. Vốn người ít nói, ông càng thêm trầm lặng. Chiều chiều, bà con trong làng thường thấy ông hay thơ thẩn ra chỗ miếu cây đa. Có khi ông ngồi trầm ngâm hút thuốc dưới gốc đa cả tiếng đồng hồ. Thấy như vậy, vợ ông đoan chắc ông bị ma ám. Nhiều lần bà đã đi lễ thầm khấn vái cho ông.

 

Chỉ riêng có một người hiểu được tâm trạng của ông đó là ông Lục, chủ tịch xã, người cùng chiến đấu với ông trong đội du kích năm xưa và là anh ruột cô Lụa. Đôi khi, dù bận việc ông cũng tạt qua gốc đa ngồi trò chuyện với ông Thành chốc lát. Thường thì ông ái ngại, nhìn ông Thành rồi chép miệng, lầm bầm:

 

- Khổ thật, người già lại hay nhớ về chuyện cũ !

 

Cơm nước xong, theo thói quen ông Thành đội mũ len, khoác chiếc áo bông bộ đội lững thững ra đường. Ông lại hướng về phía chỗ miếu cây đa. Bước chân của ông bỗng khựng lại. Cuối tầm mắt ông, chỗ cây đa, bây giờ trống hoác. Sừng sững uy nghi hiện lên một trụ điện quét vôi trắng lóa bên cạnh chiếc miếu cổ rêu phong. Mệt nhọc, ông lặng lẽ quay về. Màn sương chiều đông mờ mờ lan tỏa trên các lối mòn. Mắt ông tối sầm lại. Đúng lúc đó, làng xóm bỗng bừng sáng rực rỡ. Tiếng reo vui từ trong các ngôi nhà, các ngõ xóm vang lên:

 

- Có điện về rồi! Có điện! Có điện!

 

 

>> XEM TRUYỆN NGẮN TÁC GIẢ KHÁC...   

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.