Tin mới Xem thêm

  • Bùi Sim Sim giữa hai chiều quên nhớ

    Chưa đủ nhớ để gọi là yêu/ Chưa đủ quên để thành người xa lạ/ Em ám ảnh anh hai chiều nghiệt ngã/ Nghiêng bên này lại chống chếnh bên kia / Ngôi sao nào thổn thức giữa trời khuya/ Dịu dàng quá lời thì thầm của gió/ Ngủ ngoan thôi ngọn cỏ mềm bé nhỏ/ Biết đâu chừng thiên sứ đến vây quanh

  • Nguyên Trân giữa song khuya thanh vắng

    Phố thị say ngủ/ Thâm u đầy quyến rũ/ Những con đường cong cong mềm mại/ Mang dáng dấp dậy thì/ Mảnh trăng non dướn mình soi bóng/ Khẽ nhoẻn cười lay động mặt hồ êm/ Bao chấm sao li ti huyền bí giữa trời đêm/ Giữ ước mơ thần thoại nơi dải Ngân Hà xa thẳm/ Làn gió mơn vi vu trở về tự vạn dặm/ Ru lá cành lao xao

  • Thảo Phương dường như ai đi ngang cửa...

    Khi nhà thơ Thảo Phương còn trên cõi nhân gian, hơn một lần tôi dự định viết về thơ chị, nhưng cứ lưỡng lự vì thấy trong thơ chị có

  • Nguyễn Thị Hạnh Loan ngọt ngào dâng hiến đam...

    Nụ hôn đưa ta về chốn thần tiên/ Ngôi nhà ấy ngày xưa anh đứng đợi/ Đóa hoa đẫm sương vườn khuya hái vội

  • Cầm tấm bằng cử nhân mà vẫn cứ... ngơ ngác!

    Theo các chuyên gia, chương trình đại học của VN đang đào tạo theo mô hình chuyên ngành hẹp (trong khi thị trường việc làm hiện rất khác so

  • Dạ Ngân - Nhìn từ phía khác

    Một buổi trưa, lúc đó thường nhà hàng chưa mở cửa, một cô gái cứng tuổi hơn tôi và nền nã như mọi cô gái miệt vườn đi xích lô đến Vĩnh Thịnh

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Không gian phê bình Hoàng Thuỵ Anh

24.02.2017-18:30

 Nhà phê bình trẻ Hoàng Thuỵ Anh

 

Không gian phê bình

quảng trường của những cuộc

đối thoại văn chương

 

YẾN THANH

 

NVTPHCM- Có thể nói, nếu như phê bình thế hệ tiền chiến mà đỉnh cao như Hoài Thanh vẫn chủ yếu lấy phương pháp ấn tượng (“Tôi lấy hồn tôi để hiểu hồn người) nhằm khai triển các chiến lược đọc và tường giải tác phẩm, thì phê bình thế hệ f ngày nay mà Hoàng Thụy Anh là một trong những người đại diện ấn tượng và xuất sắc nhất, lại dựa trên những nền tảng lí thuyết nghiên cứu văn học mới…

 

Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895 - 1975) - một trong những nhà bác học lỗi lạc nhất của Liên Xô nói riêng và thế giới nói chung trong thời hậu hiện đại đã có một phát minh (hoặc đồng phát minh với các cộng sự) về tính đối thoại (dialogic) của tác phẩm văn chương. Trong Những vấn đề thi pháp Dostoievski, Bakhtin viết: “... ngược lại, tất cả trong tiểu thuyết này đều được xây dựng nhằm làm cho sự đối lập đối thoại trở thành bất tận. Không một yếu tố nào của tác phẩm được xây dựng theo quan điểm của “người thứ ba” không can dự. Trong bản thân tiểu thuyết, “người thứ ba” không can dự không thể hiện diện được. Không có vị trí kết cấu hay vị trí ý nghĩa cho anh ta”[1]. Mặc dù trong công trình nói trên, Bakhtin chủ yếu khuôn gọn phạm vi “đối thoại” chỉ trong tiểu thuyết đa thanh (polyphony) mà F. Dostoievski là đại diện tiêu biểu nhất, nhưng có thể thấy trong sự nghiệp nghiên cứu, Bakhtin luôn có tham vọng giãn nới thuộc tính đối thoại cho toàn bộ thế giới văn chương. Mặc dù vậy, đối thoại của Bakhtin dường như mới chỉ dừng lại ở “đối thoại liên chủ thể”, còn phải bước sang những công trình cộng sự của ông, hay là những bút danh khác của chính Bakhtin mà cho đến nay giới nghiên cứu văn học thế giới vẫn còn tranh cãi như Voloshinov hay Medvedev, thậm chí chính thức phải đến những nhà giải cấu trúc như J.Kristeva thì mới được trở thành “đối thoại liên văn bản”. Tức là, lúc này toàn bộ bản chất của ngôn ngữ là đối thoại, là liên văn bản.

 

V.N. Voloshinov (hoặc là bút danh, hoặc là đồng sự của Bakhtin) trong công trình Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ từng viết: “Trong từ, trong mỗi phát ngôn, bất kể nó vớ vẩn đến mức nào, trong mọi trường hợp, bao giờ cũng diễn ra sự tổng hợp biện chứng sống động của tâm lý và tư tưởng, của cái bên trong và cái bên ngoài. Trong mỗi hành vi nói, trải nghiệm chủ quan bị phá hủy trong sự kiện khách quan của ngôn từ - tức phát ngôn - được nói, còn ngôn từ được nói thì lại được chủ quan hóa trong hành động hiểu đáp lại, để sớm muộn cũng sản sinh ra một lời đáp. Mỗi từ, như chúng ta đều biết, là một đấu trường nhỏ của sự giao thoa và trọng âm xã hội theo các hướng khác nhau”[2]. Như vậy, ở đâu có ngôn ngữ, ở đó có đối thoại chứ không chỉ nằm trong phạm vi tiểu thuyết đa thanh. Với tôi, có một không gian đối thoại văn chương đặc thù nhất và cũng mang tính chất quảng trường carnaval nhất, đó là các công trình phê bình văn học, mà nhất là công trình phê bình có sự khảo sát nhiều đối tượng tham gia cùng đối thoại. Ở đấy, chúng ta thấy có sự đối thoại giữa nhà phê bình/người đọc với tác giả văn học thông qua văn bản của họ, hoặc là sự đối thoại trực tiếp giữa nhà phê bình/người đọc với nhân vật, với tư tưởng trong tác phẩm. Cũng đồng thời lúc ấy, nhà phê bình đối thoại với người đọc phê bình, thông qua những cắt nghĩa, tường giải tác phẩm văn học. Một không gian đối thoại bao gồm: người đọc tác phẩm phê bình - nhà phê bình/người đọc tác phẩm văn học - tác giả văn học - nhân vật và tư tưởng trong tác phẩm. Những cuộc hồi đáp bất tận này làm nên sự chu chuyển văn học, dẫn truyền ý nghĩa từ tác giả qua văn bản đến với nhà phê bình rồi từ đó lại đến với người đọc với những ảnh xạ vạn hoa khác nhau mà tôi gọi đó là sự di dân của thông điệp thẩm mỹ.

 

Hẳn rằng, Hoàng Thụy Anh khi cho xuất bản công trình tiểu luận phê bình Tiếng vọng đa thanh [Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2016] cũng đã chia sẻ và dựa vào quan điểm đối thoại văn học nói trên. Là công trình phê bình thứ ba được xuất bản, sau chuyên luận Thơ Hoàng Vũ Thuật - nhìn từ thi pháp học Roman Jakobson [Nxb Thuận Hóa, Huế, 2010], tập tiểu luận Bản xô-nát thi ca [Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012], công trình đối thoại văn chương thứ ba của Hoàng Thụy Anh có nhiều bước trưởng thành, cách tân mới mẻ. Nếu như trong hai công trình trước, phạm vi đối thoại mới chỉ dừng lại ở một tác gia cụ thể (Hoàng Vũ Thuật), hoặc một thể loại cụ thể (thơ), hoặc một phương pháp nghiên cứu cụ thể (thi pháp học của Roman Jakobson), thì đến công trình Tiếng vọng đa thanh, tác giả đã thực sự đa thanh trên nhiều phương diện, đa thanh thể loại, đa thanh phương pháp và đa thanh đối tượng.

 

Xét trên tiêu chí đa thanh phương pháp, điều tôi ấn tượng nhất về Hoàng Thụy Anh là tuổi đời, tuổi nghề còn khá trẻ (sinh 1979) - thuộc thế hệ cuối 7x hay còn gọi là phê bình thế hệ f, nhưng chị đã sớm sở hữu và nắm chắc rất nhiều phương pháp nghiên cứu của nhiều trường phái lí luận phê bình khác nhau. Đọc Tiếng vọng đa thanh, người đọc có thể thấy rất nhiều phát hiện lí thú của chị xuất phát từ những thành quả áp dụng hiệu quả, không khiên cưỡng lí thuyết về tự sự học (Narratology), phân tâm học (Psychoanalysis), chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism), chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism), chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism)... mà đặc biệt là thi pháp học (Poetics). Thế hệ phê bình f hiện nay khác các thế hệ phê bình tiền bối ở chỗ trong công trình phê bình của họ việc nghiên cứu được thực hiện dưới thao tác khoa học khách quan, những tìm tòi mới mẻ được trừu xuất nên dựa trên việc “đọc lí thuyết”, nhằm vượt xa khỏi quán tính “đọc cảm thụ” chủ quan như bạn đọc thông thường. Họ là những người “đọc chuyên nghiệp” được đào tạo trường qui bài bản, có sự làm quen với những lý thuyết mới đến từ phương Tây, nên công trình phê bình cũng đồng nghĩa với công trình khoa học, bên cạnh thuộc tính nghệ thuật, “đồng sáng tạo” cố hữu của phê bình văn học.

 

Hoàng Thụy Anh là một thạc sĩ lí luận văn học, có sự làm quen với lí thuyết cấu trúc và thi pháp học từ rất sớm, cho nên cũng thật dễ hiểu là chị có xu hướng vận dụng những lí thuyết này, cũng như những lí thuyết gần gũi như tự sự học, giải cấu trúc, phân tâm học, hậu hiện đại... vào trong quá trình nghiên cứu. Có thể nói, nếu như phê bình thế hệ tiền chiến mà đỉnh cao như Hoài Thanh vẫn chủ yếu lấy phương pháp ấn tượng (“Tôi lấy hồn tôi để hiểu hồn người) nhằm khai triển các chiến lược đọc và tường giải tác phẩm, thì phê bình thế hệ f ngày nay mà Hoàng Thụy Anh là một trong những người đại diện ấn tượng và xuất sắc nhất, lại dựa trên những nền tảng lí thuyết nghiên cứu văn học mới. Với trường hợp của chị, có lẽ nổi bật nhất về mặt áp dụng lí thuyết vẫn là chủ nghĩa cấu trúc và thi pháp học.

 

Nhờ nắm chắc hai lí thuyết này, nên phê bình Hoàng Thụy Anh mạnh về phân tích vấn đề hình thức mang tính nghệ thuật của tác phẩm. Chị rất giỏi trong việc hình dung khái quát và chỉ ra những mô thức sáng tạo chung, bản chất nghệ thuật xây dựng hình thức tác phẩm của tác giả. Trong tiểu luận Giữa hai bờ sáng tối, Hoàng Thụy Anh đã tinh tế nhận ra trong tập thơ Đoản khúc của Fan Tuấn Anh cấu trúc “không thấy... chỉ thấy”, “phải làm gì để... nhưng”, “không tin... tin” nhằm phản biện lại chính trật tự thế giới mà thi nhân đã kiến tạo nên. Thế giới trong thơ Fan Tuấn Anh, thông qua sự phân tích mô hình cấu trúc, Hoàng Thụy Anh đã chỉ ra là những nghi vấn, những giả định mang tính ý niệm về tồn tại và trật tự phi lý của tồn tại đương đại. Ngoài ra, chị cũng thống kê trong thơ Fan Tuấn Anh, từ chết xuất hiện 105 lần/35 bài thơ, tạo nên một sự ám ảnh trong tư tưởng cũng như tạo ra đặc trưng riêng về mặt thi pháp. Trong tiểu luận Một số kiểu nhân vật trong Truyện ngắn (II) của Từ Nguyên Tĩnh, Hoàng Thụy Anh đã chỉ ra được hai sự thật chiến tranh (sự thật của chiến tranh và sự thật của hiện thực cuộc sống), được biểu hiện thông qua hai loại không gian nghệ thuật là không gian đồng hiện và không gian đời tư. Với tiểu luận Ngụ ngôn của người đãng trí - “nghệ thuật của người điên”, Hoàng Thụy Anh cũng phát hiện ra những đặc trưng thi pháp điển hình của trường ca Ngô Kha là sự nới rộng không gian và sự ngưng đọng về thời gian. Với tiểu luận Tùy bút Vi Thùy Linh, Hoàng Thụy Anh đã tìm thấy mô thức sáng tạo của tác giả, là đồng thời sử dụng cả hai trục lựa chọn và kết hợp do ảnh hưởng từ tư duy thơ ca, với hệ thống ngôn ngữ mang sáng tạo riêng như ái thành, ái trình, thủ pháp sử dụng trùng điệp từ... Ở đây, có thể thấy khá rõ dấu ấn lí thuyết của thi pháp học Roman Jakobson. Nhìn chung, lối viết phê bình của Hoàng Thụy Anh làm người đọc ngạc nhiên bởi kiến văn sâu rộng, sự phong phú về các lí thuyết văn học được áp dụng trong quá trình phê bình. Nhưng thành công trong phê bình của chị đó là áp dụng hợp lý, tương thích giữa lý thuyết với đối tượng văn học. Không phải chị úp chụp một khuôn mẫu lí thuyết sở trường lên mọi đối tượng văn học, mà rõ ràng đã có sự chọn lọc, cân nhắc. Phê bình của Hoàng Thụy Anh đọc lên cũng không có cảm giác nặng nề, do lí thuyết trong ấy đã được “tiêu hóa”, giản lược lại chỉ như một công cụ để giải mã tác phẩm, hơn là để đánh đố người đọc hay tỏ vẻ làm dáng hàn lâm, tân kỳ như nhiều người khác. Thành công của sự đa thanh lí thuyết trong phê bình Hoàng Thụy Anh, đó là chị đã tạo ra từng sản phẩm phê bình cụ thể với những kết quả phát hiện mới đầy tính táo bạo nhưng cũng đầy tính hợp lý, nói cách khác, chị đã gọi tên được đặc trưng sáng tạo của từng nhà văn thông qua việc áp dụng những lí thuyết mới. Với thi phẩm Đoản khúc của Fan Tuấn Anh đó là thơ hậu hiện đại, với tập truyện ngắn Âm thanh đổ bóng của Nguyễn Hiệp là chất thiền vị và những phức cảm phân tâm học, với tùy bút Vi Thùy Linh là triết học nữ quyền của S. de Beauvoir, với trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí của Ngô Kha là chất siêu thực đầy những ám ảnh phân tâm...

Tập tiểu luận, phê bình Tiếng vọng đa thanh của Hoàng Thuỵ Anh

 

Xét từ góc độ đa thanh thể loại, có thể thấy hiếm có nhà bình nào, nhất là nhà phê bình trẻ thế hệ f (7x, 8x) lại dám xông pha vào nhiều thể loại văn học như thế. Thông thường nhà nghiên cứu văn học cũng giống như nhà văn, tức chỉ có am hiểu và sở trường một số thể loại nhất định. Ta thấy Hoài Thanh, Đỗ Lai Thúy, Đặng Tiến... chủ yếu phê bình thơ, trong khi Bùi Việt Thắng, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Đăng Điệp... lại chủ yếu phê bình văn xuôi, Phan Trọng Thưởng chuyên chú phê bình kịch, Trương Đăng Dung lại hướng mối quan tâm đến phê bình lý thuyết văn học. Những nhà phê bình cùng thế hệ f với Hoàng Thụy Anh cũng thường khuôn gọn địa hạt sân chơi của mình vào những thể loại cụ thể. Đoàn Ánh Dương, Đoàn Minh Tâm, Phan Tuấn Anh, Mai Anh Tuấn chủ yếu hoạt động trong văn xuôi, Trần Ngọc Hiếu chuyên tâm hơn với thơ, Nguyễn Mạnh Tiến chuyên chú vào văn học dân gian mà đặc biệt là thơ dân gian dân tộc thiểu số. Trong khi đó, Hoàng Thụy Anh từ chỗ lấy thơ ca làm “sân nhà” đã dần lấn sân sang những thể loại khác trong quá trình phê bình. Đọc Tiếng vọng đa thanh, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra sự đa dạng về thể loại của đối tượng phê bình.

 

Theo thống kê của tôi, trong 23 tiểu luận phê bình, xét từ góc độ thể loại của đối tượng phê bình, có 2 trường ca, 3 tiểu thuyết, 5 truyện ngắn, 8 thơ, 1 tùy bút, 1 phê bình chân dung tác gia văn học, 3 phê bình về sự kiện văn học. Như vậy, ta có thể nhận ra quang phổ rộng xét trên phương diện thể loại của đối tượng phê bình. Ở đấy, thơ vẫn chiếm ưu thế như một thế mạnh sở trường trong phê bình của Hoàng Thụy Anh, bởi chị có nhiều kinh nghiệm đọc chữ nhất ở sân chơi này. Phê bình thơ của Hoàng Thụy Anh kết hợp được sự nhạy cảm thiên tính nữ của một tâm hồn cảm thụ nữ giới, lại được dẫn đường và gia cố bởi một loạt các lí thuyết văn học hiện đại và hậu hiện đại mà chị đã có sự tìm hiểu công phu trong quá trình học tập và nghiên cứu. Trong các gương mặt thơ mà Hoàng Thụy Anh lựa chọn, họ đều là những gương mặt thơ đương đại có nhiều cách tân về mặt thể loại, hoặc là đều là những tác gia thơ hiện đại/hậu hiện đại tiêu biểu cho làng thi ca Việt Nam đương đại như Fan Tuấn Anh, Hồ Thế Hà, Hoàng Vũ Thuật, Bạch Diệp, Nguyễn Minh Khiêm, Nguyễn Ngọc Phú, Mai Văn Phấn, và có thể tính cả Phan Hoàng, Ngô Kha, Lưu Trọng Lư là được nghiên cứu đến từ những điểm nhìn thể loại khác trong cuốn sách này. Tiếc thay, có lẽ do thời gian hoặc những giới hạn về địa văn hóa, nên nhiều nhà thơ có các cách tân mạnh mẽ hơn chưa được chị chú ý khảo đến trong phê bình của mình. Với thơ, chị đã có nhiều phát hiện đáng chú ý trên góc độ thể loại như thơ Lưu Trọng Lư có 3 thanh âm đặc trưng là mộng, sầu, tình, với sự chú trọng đến nhạc điệu trong thi pháp thơ. Thơ Nguyễn Ngọc Phú với những nhịp ngắn - dài và mô thức đồng dao cùng các câu hỏi phát triển tư duy cho trẻ. Thơ Hồ Thế Hà với những câu hỏi phản biện day dứt, ngôn từ suy nghiệm triết lý... Nhìn chung, tôi xem phê bình thơ Hoàng Thụy Anh vẫn là địa hạt thành công nhất.

 

Sự xâm lấn thể loại phê bình của Hoàng Thụy Anh có thể thấy lan dần từ truyện ngắn sang tiểu thuyết. Có đến 5 tập truyện ngắn được tác giả lựa chọn nhằm phê bình, và đa phần đó đều là những tập truyện có nhiều cách tân về mặt thể loại như Nhật ký nhân viên văn phòng (Phong Điệp), Truyện ngắn II (Từ Nguyên Tĩnh), Âm thanh đổ bóng (Nguyễn Hiệp)... Tiểu thuyết chỉ có ba, khá ít ỏi, điều này cho thấy sự chuyển dạ chậm rãi nhưng tinh tế trong nhãn quan, thị hiếu thẩm mỹ của Hoàng Thụy Anh từ thơ sang văn xuôi, từ cảm tính sang lý tính trong phê bình. Ba tiểu thuyết chị lựa chọn, theo tôi xứng đáng là ba tiểu thuyết đặc sắc. Ngoài tiểu thuyết Chân trời mùa hạ (Hữu Phương) đạt giải B, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2011, hai tiểu thuyết còn lại chưa nhiều người biết đến nhưng đều là những tiểu thuyết có nhiều cách tân mang tính khai phóng xét về mặt thể loại, đó là Tưởng tượng và dấu vết (Uông Triều) và Bàn tay nhỏ dưới mưa (Trương Văn Dân). Nét đột phá trong Tiếng vọng đa thanh xét từ góc độ thể loại, đó là Hoàng Thụy Anh đã dần tiến từ phê bình trường hợp, phê bình tác gia, phê bình tác phẩm sang phê bình về phê bình, phê bình những hiện tượng của đời sống văn học. Sự giãn nới khuôn khổ tri thức này cho thấy sự trưởng thành tột bậc của chị, vượt thoát khỏi lối phê bình đặt hàng, phê bình điểm sách, phê bình bốc thơm, phê bình cánh hẩu tràn lan hiện nay như một vấn nạn trên văn đàn, để đến với những vấn đề quan thiết hơn, toàn diện hơn, nhưng cũng chính vì thế mà “đụng chạm hơn” và tiềm chứa nhiều “nguy cơ rủi ro” hơn. Những vấn đề chị quan tâm trong công trình của mình như: đánh giá lại thực trạng phê bình trẻ miền Trung, vấn đề văn học mạng với bạn đọc trẻ, bản chất đúng nghĩa của phê bình văn học... đều có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam đương đại. Tiếng nói của Hoàng Thụy Anh được cất lên từ vị thế người trong cuộc trực tiếp kiến tạo nên những vấn đề ấy, lại vừa như một trí thức nhiều tâm huyết muốn thay đổi thực trạng hiện tồn đang diễn ra. Chính vì vậy, chị đã có những nhận định sắc sảo, tâm huyết như Hội Nhà văn cần tổ chức các bàn tròn trực tuyến bàn luận văn học, tổ chức các hội thảo chuyên đề cho các cây bút lí luận phê bình trẻ, không nên kì thị tuổi tác trong nghiên cứu văn học, nhuận bút cho lí luận phê bình cần được nâng cao... Hoàng Thụy Anh cũng mạnh dạn cho rằng cần đổi mới về lí thuyết trong phê bình, mới có khả năng đọc/hiểu tác phẩm văn học đương đại. Người phê bình ngày nay cần là nhà khoa học trước tiên, bởi tác phẩm văn học đương đại đã phát triển lên một trình độ mới, khi những nhà văn cũng đồng thời là những lý thuyết gia hoặc đọc rất kĩ lý thuyết văn học, do đó, nếu người phê bình không cập nhật được lí thuyết văn học đương đại thì sẽ không giải mã được tác phẩm. Về thực trạng văn học mạng, bên cạnh sự thừa nhận những điểm mạnh, Hoàng Thụy Anh cũng thẳng thắn chỉ ra những nhược điểm như khi đọc người tiếp nhận bị mất tập trung, nhiều dị bản cùng tồn tại... Thái độ trí thức dấn thân trong chữ nghĩa của Hoàng Thụy Anh như vậy là đầy trách nhiệm và rất đáng trân trọng.

 

Về sự đa thanh của đối tượng, có thể thấy qua 23 tiểu luận trong Tiếng vọng đa thanh, Hoàng Thụy Anh đã có 23 cuộc đối thoại khác nhau với những văn nhân đương đại. Có lẽ, điểm nhìn đương đại trong phê bình của Hoàng Thụy Anh là đặc điểm cần chú ý nhất. Chỉ trừ Lưu Trọng Lư đã nổi lên từ thời Thơ mới, thì tất cả những nhà văn, tác phẩm được khảo đến trong Tiếng vọng đa thanh, đều là những người đang sống, đang viết cùng thời với người viết phê bình. Nếu như thiên chức, sứ mệnh của nhà phê bình đó là cắt nghĩa, minh định giá trị những sự kiện văn học đang diễn ra, những cái chưa ổn định thì Hoàng Thụy Anh đã thực hiện rất tốt công việc của mình. Lựa chọn những tác gia, tác phẩm đương đại vừa thú vị, nhưng cũng gặp không ít khó khăn. Bởi vì, có thể những nhận định của nhà phê bình sẽ trở nên ngộ nhận, khiên cưỡng, hoặc những giá trị mà hôm nay được tung hê, ngày mai sẽ bị loại bỏ khỏi sự hợp thức. Nhưng một nhà phê bình chân chính luôn cần chấp nhận cái án được tuyên cáo trước ấy của mình, mỗi lần quyết định ngồi vào bàn viết, lần giở một tác phẩm ra và tái sáng tạo lại nó theo cách đọc/viết của mình.

 

Với tôi, Hoàng Thụy Anh là một nhà phê bình dũng cảm và có nhiều phát hiện mới mẻ. Nhiều trường hợp chị lựa chọn trong công trình phê bình này, tôi tin còn xa lạ với nhiều bạn đọc, và ngay cả với tôi cũng có nhiều trường hợp lần đầu được đọc. Bạn đọc có thể chưa biết nhiều tới Fan Tuấn Anh, Hồ Thế Hà, Từ Nguyên Tĩnh, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Ngọc Phú, Bạch Diệp, Nguyễn Hương Duyên, Nguyễn Minh Khiêm... được đề cập đến trong Tiếng vọng đa thanh. So với số tác giả đã thành danh như Lưu Trọng Lư, Hoàng Vũ Thuật, Phan Hoàng, Vi Thùy Linh, Nguyễn Đức Tùng, Ngô Kha, Võ Thị Xuân Hà và phần nào đó là Phong Điệp và Uông Triều, thì số những nhà văn chưa nổi danh toàn quốc chiếm số đông áp đảo. Hoàng Thụy Anh đã dũng cảm khai phá, xông xáo vào tìm hiểu và cắt nghĩa những viên ngọc thô, “khơi những nguồn chưa ai khơi” và thực hiện đúng chức phận tiên phong và tiền trạm trong quá trình đọc văn học của nhà phê bình, nhằm dẫn đường cho bạn đọc phổ thông. Một đặc trưng khác về mặt đối tượng trong công trình Tiếng vọng đa thanh, đó là đặc trưng địa văn hóa, tức tính vùng miền trong lựa chọn đối tượng của một cây bút phê bình miền Trung như Hoàng Thụy Anh. Có thể thấy, chị đã có sự ưu ái cho nhiều cây bút sống, viết hoặc có quê hương ở miền Trung như Fan Tuấn Anh, Bạch Diệp, Hồ Thế Hà, Lưu Trọng Lư, Võ Thị Xuân Hà, Hoàng Vũ Thuật, Hữu Phương... Dĩ nhiên, đây cũng là trách nhiệm của người “đồng hương” nhưng cũng là giới hạn trong việc lựa chọn đối tượng phê bình. Một số trường hợp, theo tôi là chưa xứng đáng để tiến hành khảo cứu, mặt khác, chị đã thiếu đi sự quan tâm đủ/đúng mức đến những cây bút Việt Nam đương đại xuất sắc. Đối tượng phê bình chưa thật xuất sắc thì sẽ khó cho nhà phê bình thăng hoa hay tìm thấy những chân lý nghệ thuật mới mẻ. Hơn nữa, việc đứng ngoài những hiện tượng văn học xuất sắc nhất, gây xôn xao văn đàn hiện nay như Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Xuân Khánh, Thuận, Đoàn Minh Phượng... sẽ giới hạn phạm vi ảnh hưởng của phê bình Hoàng Thụy Anh ở dải đất hẹp miền Trung.

 

Với tất cả những khả thủ và cả những giới hạn tất yếu phải có của một nhà phê bình, tôi tin rằng Hoàng Thụy Anh sẽ còn đi xa và đi lâu dài trong văn giới. Phê bình văn học Việt Nam đương đại, ngay từ hôm qua đã biết đến chị như một cây bút tiềm năng, hôm nay đã khẳng định sự tham dự sâu sắc của chị vào đời sống đương đại, và ngày mai sẽ hi vọng chị sẽ dẫn dắt chúng ta - những người đọc đầy đam mê trong cuộc viễn chinh truy tìm cái đẹp.

 

Trường An, 10.4.2016

 

________________

[1] M.M. Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp Dostoievski (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.27.

 

[2] V.N. Voloshinov (2015), Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ (Ngô Tự Lập dịch), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.82.

 

 

>> XEM CHÂN DUNG & PHỎNG VẤN NHÂN VẬT KHÁC...  

 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.