Tin mới Xem thêm

  • Phan Duy thích đề tài thế sự và quê hương

    Phan Duy là một trong 25 bạn viết trẻ của các tỉnh thành Nam Bộ được mời làm đại biểu tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ IV

  • Cuộc điểm danh lực lượng lớn nhất nước - 2

    Với 80 đại biểu chính thức tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ IV và 25 nhà văn trẻ khu vực Nam bộ làm khách mời, có thể khẳng định với số lượng này không kém gì so với Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc. Và tất nhiên là đông hơn Hội nghị viết văn trẻ thủ đô. Để làm được việc này phải nói đến sự năng động, nhiệt huyết của Ban Chấp hành Hội Nhà văn TP.HCM nhiệm kỳ này…

  • Trần Xuân Tiến - Văn trẻ việt: thực trạng...

    Một cách công bằng, những người viết trẻ cũng cần ý thức hơn nữa về những sản phẩm của mình thông qua những phản hồi của cả độc giả lẫn

  • Nguyễn Bàng hồn gửi lại cụm mười giờ...

    Này những bãi bờ/ Anh sẽ nhìn em thêm chút nữa/ Mai về Sài Gòn chỉ nắng với bụi thôi/ Đời viễn xứ mỗi lần đi là sợ

  • Cuộc điểm danh lực lượng lớn nhất nước - 1

    Đúng ngày kỷ niệm báo chí cách mạng Việt Nam, Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ IV đã diễn ra lễ khai mạc. Đây được coi là cuộc điểm danh lực lượng các cây bút trẻ lớn nhất cả nước…

  • Văn học thiếu nhi - mảnh đất chưa được khai...

    Trên thị trường, sách thì nhiều nhưng để tìm được đầu sách hay cho trẻ đọc không phải dễ. Những quyển sách hay và đẹp thì hầu hết đều

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Một người phía chân trời ngóng Chim Lạc trở về

26.02.2017-10:30

 Nhà thơ Nguyễn Công Bình

 

“Một người phía chân trời”

ngóng “Chim Lạc trở về”

 

HOÀNG HỮU QUẾ

 

NVTPHCM- Trong hơn ba chục năm nhọc nhằn, bền bỉ trên đường thi phú, tác giả đã có 5 tập thơ khá đầy đặn. Chỉ với 2 tập thơ gần đây hơn: Một người phái chân trờiChim Lạc trở về (đang có mặt trên bàn viết của tôi), Nguyễn Công Bình đã chứng tỏ một trường lực thơ di dào, đang vào độ chín đượm…

 

Có một ngưi thơ ngơ ngác, cô đơn “chếnh vếnh bên trời một bóng” chấp nhận “số phận gập ghềnh bước thấp bước cao” mà thì thầm:

                               

Câu hát lênh loang ảo giác đánh lừa

Thở dài buốt gió đồng xưa

 

      (Độc thoại - Một người phía chân trời)

 

Trong nỗi buồn đơn độc ấy ,ngưi thơ về ngồi lặng lẽ cùng chiếc bóng tiền kiếp, trầm ngâm chiêm nghiệm trong nhịp điệu thời gian :

        

Tí tách  tí tách  tí tách

Những ban mai bình an, những chiều vàng thánh thót

…..

Từng giọt đắng đót, từng giọt nồng nàn

…..

Lý thuyết cóc tía, định luật ễnh ương sờ sẫm nhận ra chân trời trong túi ba gang lèn chặt điều ước

Đành thôi, nghiêng túi xuống biển, vút cao tìm lại đường bay

 

               (Cà phê cùng tiền kiếp –  Chim Lạc trở về)

     

 

Tôi bị ám ảnh và không khỏi bất ngờ với lối nghĩ, cách diễn đạt,  lối tư duy, cấu tứ và cả tư tưởng của tác giả trong 2 tập thơ gần đây của Nguyễn Công Bình: Một người phía chân trờiChim Lạc trở về.

     

Đủ thứ bày phơi, trải ra như mênh mông trước mắt người đọc để cảm nhận, thưởng thức từ quê hương - nhân dân; thế giới – nhân loại; quan chức - quyền lực, sự ngưng đọng, hứng chịu mọi nỗi nhân sinh cuộc sống... Tất cảng như phong phú, bật thấu cốt lỏi muôn thuở lịch sử nhân loại đã nói xưa nay. Hồn thiêng dân tộc, đất nước đã đánh thức, vẫn hiển hiện cho thấy, vừa gọi kêu: “ Chim lạc trở về”-  là cội nguồn cõi hằng an, nền tảng chân lý, hạnh phúc, văn minh và cả sức mạnh! Chớ - chớ sơ sễnh bởi đã nhập “ mê lộ” quá đà đến vô phương cứu chữa, bất an đỗ vỡ, ô trọc hiểm nguy, nhố nhăng lượm giọng, ngạo mạn…,đáng thương đến nỗi vẫn còn đó nỗi đau thật lớn:

     

Mẹ ơi!

ớc mắt chẳng làm vơi nhức nhối dọc hình hài Tổ quốc

Khi một phần xương thịt còn đau

 

                      (Mẹ ơi! Tổ quốc – Chim Lạc trở về)

         

Hồi còn là học trò, Nguyễn Công Bình đã có tiếng học giỏi ( trường chuyên), có thơ đăng báo, đoạt giải thưởng thơ... Lúc ra đời đã là viên chức nhà nước sớm có chỗ ngồi ở cơ quan qun lí nhà nước cấp tỉnh, trong diện cơ cấu trẻ rồi đột nhiên bỏ ghế, ợt theo hình bóng thi ca như nhà thơ từng nhớ lại: “Bỗng dưng trời sởn  da gà. Văn chương nghip chướng nhập qua đời mình”. Dù không tham gia chiến trận cũng đầy vất vả nhọc nhằn với thời cuộc! Tác giả như nhà thơ xứ sở - Xuân Diệu “đi học nghe chim giảng” ấy cũng lắm bươn chải, lắm nhọc nhằn, đứng ngồi không yên với thơ…

 

Bước vào miền thơ của tác giả, tôi không ít lần trào dâng cảm xúc hòa với cung bậc, nhịp điệu cổ điển hay tự do phá cách (mới và tìm tòi mới hơn), ý, tứ thơ- dù dồn dập hay  lơi lả ,thâm trầm hay cuộn sôi, sâu sắc “ đáo để” đến tận cùng như một tấn trò đời đủ thứ ngóc ngách mà khái quát nhân sinh đến rợn ngợp, hóm hỉnh, hào hoa, gần mà xa, cụ thể mà mơ màng, đời người mà nhân sinh kiếp sống, đất Việt mà nhân loại, nay mà xưa, là mai sau …bằng không ít thủ pháp nghệ thuật tu từ ẩn dụ ý vị và độc đáo.

Qủa thật, lắm lúc tôi không khỏi bất ngờ trước những câu thơ giản dị mà thật ám ảnh:

          

ớc trong cò gội câu ca

ớc đục bắt tép kho cà nuôi con

                     

         (Độc thoại – Một người phía chân trời)

          

Thơ thuần thục, cất cánh vẳng ngân từ ca dao dễ say lòng tỏ dạ, lại nỉ non thân thương, gan đục ở đời mà âu yếm “ lặn lội” vượt theo chồng nuôi con lớn khôn…

 

Hay:

 

Nẻo vưn xưa khói sương nhòe chực khóc

Vắng mẹ câu thơ cũng lạc nhà

 

                    (Quê nhà - Chim Lạc trở về )

 

Câu thơ dung dị ,hình ảnh gần gũi mà kết tinh thấu tận cội nguồn giá trị thi ca trong thời buổi nền văn hóa đang lơi lỏng tính dân tộc,nhân văn .

     

Lại nữa:

           

Chiến tranh lặng vào năm tháng xa xăm, những bà mẹ mất con, những    người vợ mất chồng đã quên ngày chờ đợi

           

Nhang khói ng đài nghi ngút bay lên trời dấu hỏi…

 

               (Trước thành cổ Quảng Trị -  Chim Lạc trở về)

        

Tôi đọc mà như thốt lên khi chạm đến cung bậc và sâu thẳm chữ nghĩa của tác giả về một nét đời người, cuộc sống Việt nam và nhân loại. Chiến tranh là cái cách con người xử sự với nhau đau đớn và tệ hại nhất và hệ lụy đau đớn lâu dài nhất chính là những người phụ nữ.

 

Bởi vậy họ luôn nghĩ, nhớ, chứng kiến, trải qua nó hằn một dấu hỏi lớn “?”, mênh mông đến vô định như không lời giải đáp vì nó vẫn lặp đi lặp lại đấy thôi! Tác giả đã thấu cõi người mà nêu lên chuyện muôn thuở  nhân sinh ,trách nhiệm lớn lao với nhau, không luận bàn đúng sai,hay hận thù. Bởi thực tế sẽ làm người ta tự thức tỉnh, có cần chi phải hằn học? . Nỗi ấy niềm này, người liên quan chịu hậu quả chết cả cõi lòng dù đời vẫn sống, mắt vẫn mở mà nhìn như mờ ảnh, như nhập cõi hư vô đến “quên”! Chai sạn đớn đau?. Tôi nhớ đâu đó một bằng hữu thi ca đã viết : “ Chiến tranh đã tắt lâu rồi, mà trong ngực  chị từng hồi bom rung”. Đó là sự “Nhớ”!Riêng Nguyễn Công Bình lại đưa ra một uẩn khúc khác: sự “Quên”! Chờ đợi dằng dặc,đau đớn đến tột cùng để “quên”.Đó là cách nói rất Nguyễn Công  Bình về nỗi đau  không gì bù đắp được.Nng cũng chính từ hình ảnh và ngôn từ của thơ,tác giả nhắn gởi người đọc  một thông điệp : Liệu con người có quên được không khi nhang khói vẫn ngày ngày lên trời tìm câu trả lời ?

          

Tôi hạ bút thưởng ngoạn thơ Nguyễn Công Bình, niềm phấn khích trào dâng, những đón nhận có được ngồn ngộn nhưng phải dằn lòng đọc đi đọc lại để thẩm thấu đa tầng cảm hứng, thậm chí còn là để thuộc.Tất cả đều dồi dào cảm xúc ,dấu ấn trải nghiệm, suy nghĩ lắng đọng, cảm thông tiếc nuối và cả trách khéo cuộc sống đến lỡ làng ngẩn ngơ, sầu vạn cổ:

 

Em sang nhịp cầu nước mắt

Khư khư gi áo cho người

Ta lạc về miền đau khát

Cõi lòng bão thốc khôn nguôi

Gió mưa ngày xưa lặng tắt

Mây giăng tượng đá chân trời

 

      (Tượng đá - Một người phía chân trời)

 

Cả hai đã xa xôi vọng về nhau, thành tượng đá!  Tác giả chọn hình ảnh tiếp nối nhau như gió,bão, mưa, cu nước mắt, tượng đá …diễn đạt thay cho thuyết trình, giải bày thực trạng cảm xúc, là lối viết cô đọng và sâu sắc mà chồng nén lớp lớp cảm hứng thi ca khiến cho thơ vời vợi suy tư rung động.Hình tượng trung tâm  “ợng đá” cô đúc điển hình thêm khắc tạc vào tâm khảm.

 

Ở đâu hầu như cũng vậy, tác giả nhà nghề thi tứ, hình ảnh, câu chữ. Cái tứ “ Sông Lam” quê nhà chở che cho cái ý văn hóa địa linh, nhân kiệt thật khoáng đạt ,mạnh mẽ vẫn không lạc đề:

 

Sông Lam vặn lưỡi gươm thần sáng quắc

Vung ngang trời sử xanh

 

                (Lam-Hồng huyền thoại - Chim Lạc trở về )

Hay :

 

Sông chảy triệu năm vẫn cuồn cuộn trẻ

Người Nghệ ngàn đời khí phách càn khôn.

 

                 (Sông Lam – Một người phía chân trời)

 

Hình ảnh khác:             

    

Núi mãi xanh ngã vào sông mãi biếc,

Để muôn năm quấn quýt một Lam Hồng

 

                  (Lam - Hồng huyền thoại- Sđd )

 

Hình như mới có Nguyễn Công Bình viết về sông Lam- núi Hồng  dùng hình ảnh bóng núi in ngã vào lòng sông với dụng ý : Sông Lam- con sông chung hai tỉnh xứ Nghệ và núi Hồng lĩnh đất Hà Tĩnh  muôn đời không thể tách rời nhau, mãi quấn quýt “bên nớ,bên ni cũng tình xứ Nghệ” cả ngàn đời nay. Nhưng nếu ai đó hẹp hòi , cục bộ thì dù là nguời xứ Nghệ vẫn không dễ thấy?

 

 Với thế thái  nhân tình… lắm khi thơ nẩy lửa bởi ý tứ nhận ra từ bản chất hiện thực chấn động ở góc độ đắt giá nhất với tột cùng sự trớ trêu:

                                                       

Chợ giời bán vịt sông Ngân

Bán gà chín cựa, nỏ thần Kim Quy

Chợ giời ra giá kì thi

Cụ Nghè Văn miếu lắm khi bàng hoàng

“Cò lửa” cá cược “ Cò gian”

Ma cô mặt mốc, quan tham mặt dày.

 

Khiến cho:

              

Câu thơ chóng mặt xoay vần xanh xao

 

               (Chợ giời – Một người phía chân trời)

 

Bởi thế cho nên, ở nơi khác, tác giả bất ngờ thốt lên:

 

Thánh điềm nhiên trong cốt đá sao đành !

 

   (Khúc ca chiều dưi tượng Thánh – Chim Lạc trở về)

 

Những linh thiêng muôn thuở dân tộc, quốc bảo húy kỵ… đều đưc đem ra làm hàng mua bán thủ lợi vị kỷ, lăng loàn bất chấp nhân nghĩa, đạo lý là điều không thể chấp nhận!

          

Một bài thơ“ Vô đề” rất ngắn, cô đúc, ý tứ khái quát chân lý cuộc sống chỉ 6 câu mà càng gần cuối càng ngắn để chỉ còn lại hai động tác chim “ bay và hót”. Ấy là sự khẳng định sâu sắc: vì có sự tự do như  trời đất sinh ra vậy nên lảnh lót mấy ngàn năm khắp địa cầu di trú không gì cản trở. Một bài khác - “Vô đề 2” câu dài hơn ( bài 8 câu) là chim trong lồng quen xưng tụng, vong hồn ngay cả khi đang sống, được cho ăn để mua vui, bắt chước, a dua cho đến “một ngày kia gãy nát chiếc lồng phơi /Có những con chim rúc mình chờ chết” . Hình như đâu đó có nhà văn già (T.H ) khi tuổi cập cửu thập  trong một bài báo cũng ợn hình ảnh này để than thở cuộc sống tù túng trong lồng. Còn  Nguyễn Công Bình đã khát khao “tung phá” theo một lối khác và có lúc dữ dội:

 

                     Chẳng thể ghìm nhịp tim náo động

                     Chẳng thể ngăn phún trào máu rựng

                     Vọt lên

                     Vọt lên

                     Ngoài mọi giới hạn

 

                                 (Thăm phòng tranh một họa sĩ - Chim Lạc trở về )

 

Nhưng khi lộn trái mặt đời là sự gian manh và kệch cỡm:

 

                      Những biểu trưng đỏ mặt thời xưng tụng

                      Sự vinh danh trơ tráo đến bao giờ ?

                                                (Ý nghĩa nhỏ vụt trên đường – Chim Lạc trở về)

 

                   Giả trá đè ngang sự thật

                  Thẳng ngay chết đứng ngày thường

 

                                                (Vô cảm - Chim Lạc trở về )

 

Cũng là nêu lên hình ảnh người vợ, bạn đời đặc biệt chung tayợt khó xây dựng gia đình êm ấm nghe như Tú Xương thương vợ vọng về. Song Nguyễn Công Bình có cách riêng. Tác giả như cánh buồm để“ Em” nổi gió mà trăm năm buồm “không qua hết sông em”. Rồi vì mê thơ mà:

 

                      Anh tập tểnh Càn Long vi hành dâu bể

                      Vương quốc nhọ nồi thịnh trị nhờ Em

 

                                              (Hoàng hậu nhà mình – Một người phía chân trời)

 

Hay:

                          Ta bồng bềnh thi phú

                          Cơm áo Mình lệch vai

 

                                             (Mình ơi-Chim Lạc trỏ về)

 

Không phải lơ đểnh đến lúc vợ vắng nhà, lóng ngóng bếp núc, cơm áo nhà thơ mới thấu giá trị của  người vợ nhưng vì thơ phải cậy nhờ ấy mà . Thật thân thương, trân trọng những “bà Tú” đời nay.

       

Hồn quê lắng sâu, cõi tâm thức cội nguồn trong thơ Nguyễn Công Bình là tinh hoa vốn cũ không thể mờ phai:

 

                                 Làng tôi giờ cũng thị thành

                                 Rưng rưng mắt mẹ còn dành tết xưa

 

                                                (Tết xưa – Mt người phía chân trời)

 

Cái tết xưa nghèo mà thơm thảo: “Bánh dày gói cả hồn quê, mẹ mua áo mới tôi khoe cùng làng/ Ông treo câu đối nhà ngang/ Chổi cùn rế rách bà mang giấu vườn”. Đấy là nét văn hóa truyền thống đẹp mà từ đó bao thế hệ, bao văn nhân, sỹ tử sinh sôi- nảy nở, đạo lý vững bền. Nét đẹp đó hằn vào tâm linh, đúc kết con người nhân bản, dẫu có đổi thay vẫn không hề lay chuyển làm nền cho sự phát triển.

        

Cảm thức về sự vùn vụt của thời gian cứ được nhắc nhiều trong thơ , với Nguyễn Công Bình là không ngẫu nhiên. Đến cả ngàn năm chuyển giao còn là thoáng chốc sau một tiếng gà gáy:

 

                               Gà gáy ngàn năm cũ

                               Ngàn năm sau lên đường

 

                                    (Giao thừa 2000 – Một người phía chân trời)

 

Như nhắc nhở con người ta thực quá nhỏ nhoi và ngắn ngủi trước vô tận tự nhiên để biết choàng tỉnh xót xa:

                         Bến Giác là đâu ?Thiên đường hay Cực lạc ?

                         Quạ rít giọng ngưi đánh tráo hoàng hôn…

                          ….

                          Miền hư ảo biết tìm đâu khế ngọt

                          Đại bàng bay đói rã những chân trời

 

                                       (Lời giã biệt sông Mơ – Chim Lạc trở về)

 

Chính nhà thơ đã từng tự vấn:

 

                              Ngẫm là người lắm khi ta chán ngắt

                             Sợ cả tiếng chim thánh thót dọa mình

 

                                                      (Hình nhân rơm- Chim Lạc trở về)

 

   Kim thì tóe lửa, cổ thì như bơ vơ, văn hóa nưc nhà như bị bứng cả gốc rể:

 

                          Lối xưa hn đá tha hương chốn nào?

 

                                             (Về đâu nghê đá? - Một người phía chân trời)

 

Cay cay sống mũi, xót xa cảnh đời nay nhộn nhạo khi “Vào vũ trường Đại thế giới” của xứ người, nhớ “Đêm sông Xen” tha hương, lúc“ Nhà thơ đi bộ”,…

 

Trông người mà ngẫm đến ta, khi  gặp phái đoàn MIA đang tìm về cố quốc những nắm xương tàn kẻ thất trận, nhà thơ thắt nhói “Chợt nhớ các anh”- những anh hùng liệt sỹViệt Nam mà hồn cốt:

 

                           Vùi chặt giấc mơ dưới đất rừng rớm máu

                            Những ụ mối hình tù và lặng câm…

 

 Thế nhưng nhân tình thế thái đã đến độ vô sỉ, chai lì:

 

                      Những thân hình ma –nơ- canh uốn éo thi thời trang

                      Những giọt kính chớp lóe dọc mông eo cho điểm định vị từ trước

                      Những mặc cả lạnh lùng chín mặt lúc màn buông

 

                                                             (Di động- Chim Lạc trở về )

 

Trong khi nhân loại vẫn còn đâu đó bắn giết lẫn nhau bởi những cuộc cờ người:    

                                                  

                      Im ắng nơi này, gầm đại bác nơi kia

                      Nhân loại nhiều phen đẫm máu cuộc cờ lừa

 

                                                 (Các dòng sông vẫn chảy- Chim Lạc trở về)

 

thì có những kẻ chỉ lo ôm ghế quyền lực mà “trái tim im lìm gỗ đá”(Vô cảm) trước vận mệnh nhân dân, nhân loại…

 

Lối cấu tứ, ý nghĩ, cảm xúc tư tưởng của thi nhân quấn quyện vào nhau( enchainement) khó trích dẫn phải đọc hết cả bài thấu ý, mới thấm thỏa  nghệ thuật thi ca. Song tôi vẫn muốn nêu ra đây thêm ý -tứ nữa:

                               Đi đi đi

                               Về về về

                               Chen lấn người xe hầm hập phố

                               Hút chìm một bóng tri âm.

 

                                                       ( Phố hạ- Chim Lạc trở về)

 

Kể cũng nhiều thay đổi, nhà cao vút lên, phố dài rộng ra, những ô cửa xanh vàng lóa mắt nhưng ngẹt ngộp, lẩn quẩn với những cơn lốc đời. Cái nhân văn đạo lý, nhân bản tính người tri âm ấy thì hút chìm đâu ?. Ai xưa từng than: “ Đèn soi tri kỷ đất mênh mông”-đời như đêm, đèn sáng soi tìm tri kỷ ( tri kỷ thôi, chưa khó như tri âm) mà đã thấy đất mênh mông, hoang vắng  làm vậy.

         

Trong hơn ba chục năm nhọc nhằn, bền bỉ trên đường thi phú, tác giả đã có 5 tập thơ khá đầy đặn. Chỉ với 2 tập thơ gần đây hơn: Một người phái chân trờiChim Lạc trở về (đang có mặt trên bàn viết của tôi), Nguyễn Công Bình đã chứng tỏ một trường lực thơ di dào, đang vào độ chín đượm. Thơ Nguyễn Công Bình không câu nệ “truyền thống lề luật” cứng nhắc mà cũng chẳng cố làm “cách tân thời thượng”; cứ tung tẩy, tùy nghi ứng biến trong mọi hình thức diễn đạt chỉ cốt phụng sự hết mình cho những ý tưởng sáng tạo cần thể hiện. Thơ ấy lắm khi cần đọc chậm để ngẫm nghĩ và suy tư vì  độ nén tư duy,đa tầng ý tứ trong mỗi câu chữ, tỉ dụ:

 

                                  -   Và đêm

                                   Đêm là cái hộp diêm lặng lẽ

                                  Giấu nỗi niềm chất chứa mỗi que diêm…

 

                                                           (Thơ tình thưở ấy -Một người phía chân trời )

 

                                 -  Chú Cuội chơi cờ trên chín tầng xanh

                                  mỗi quân cờ là một vì sao ngã nghiêng chớp tắt

                                  bàn cờ cuồn cuộn mây giăng

                                 quên ngồi canh lúa ,quên chờ thức trăng

                                 một mình chơi-một mình thắng cuộc

                                 vơ ánh sao đầy túi

                                 chẳng hay mình chịu thua

 

                                                     (Chú Cuội chơi cờ-Chim lạc trở về )

 

Thơ ấy lắm khi đạt đến độ dung dị và ấn tượng khó quên,tỉ dụ :

                            

                              - Mập mờ cái vẫy tay

                              Thoáng chùng chiềng mê lộ

       

                            - Thương hụt chìm đáy phổ

                              Nhớ mệt nhoài chân mây

 

                                         (Vô hạn – Một nời phía chân trời)

 

                            -  Lả tả trò ganh ghét

                              Rụng dưi làn hương bay…

                                   

                           -  Trời nổi gân xanh

                                                       mùa trở dạ…

 

                              - Sợ sông lạc những bến bờ vô định

                              Anh dắt sông quay ngược về nguồn…

 

                                     (Trích Chim Lạc trở về)

 

Đưng thơ thì dài,lại gập ghềnh chông gai trong thời thi ca đang đầy những biến động về cách nhìn , cách định lượng các chân giá trị thực và ảo; tôi chân thành cung chúc một ngọn bút gốc gác xứ sởXư-Ca-Gô (Xứ Cá Gỗ) địa linh nhân kiệt thâm trầm  mà tóe lửa -Nguyễn Công Bình  vẫn bền tâm tiếp tục cuộc hành trình thơ bằng tình yêu và duyên nợ với thi ca.      

                                      

         Sài Gòn, tháng Ngọ nhuận - Nhâm Thìn

 

 

 

>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC... 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.