Tin mới Xem thêm

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Những vật liệu kiến tạo thơ Bích Khê- Kỳ 3

07.5.2017-00:30

Thi sĩ Bích Khê

 

Những vật liệu kiến tạo

thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê

 

PHẠM THỊ NHƯ THUÝ

 

Kỳ 3: Những vật liệu được nhận biết bằng học vấn

 

NVTPHCM- Trong Thơ mới, Bích Khê là nhà thơ có ngôn ngữ thân thể táo bạo nhất, mới mẻ nhất. Tất cả các phần thân thể trong thơ Bích Khê đều trở thành ngôn ngữ của đam mê, khoái lạc, của mơ mộng, ước ao, của cái đẹp trong trắng và vĩnh viễn. Đó không phải là ngôn ngữ duy nhất vì còn có ngôn ngữ vũ trụ, ngôn ngữ thiên nhiên, song đó là phần ngôn ngữ đặc sắc nhất…

 

Học ở chủ nghĩa tượng trưng

 

Khi các nhà thơ của Phong trào Thơ mới Việt Nam (1932 - 1945) còn chưa hết say đắm với chủ nghĩa lãng mạn thì chủ nghĩa tượng trưng phương Tây đã gần đi hết con đường của nó. Tuy nhiên, do nhận thức nhạy bén với những trào lưu hiện đại của nghệ thuật phương Tây, Bích Khê đã nhanh chóng tiếp cận và học hỏi được rất nhiều ở chủ nghĩa tượng trưng, trong khi vẫn còn một chân đứng trên chủ nghĩa lãng mạn. Vậy ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Bích Khê đã diễn ra như thế nào?

 

Chủ nghĩa tượng trưng chủ trương thể hiện thế giới và sự vật không phải bằng những hình ảnh trực tiếp mà bằng những hình ảnh gián tiếp có tính cách gợi ra những ý niệm tương đương về thế giới, về sự vật. Theo quan điểm của các nghệ sĩ thuộc trường phái tượng trưng, thế giới, vũ trụ đều hiện ra dưới hình thức các biểu trưng. Bởi vậy, nghệ thuật muốn phản ánh thế giới phải tìm ra những "hiện thực ẩn giấu" bằng những suy tư triết học của người nghệ sĩ và thể hiện qua các biểu trưng thẩm mĩ.

 

Nguyên tắc mỹ học của chủ nghĩa tượng trưng là tính cách biểu trưng nghệ thuật cho các “vật tự nó” và các ý niệm nằm ngoài giới hạn của sự tri giác cảm tính. Biểu tượng nghệ thuật được xem là công cụ hữu hiệu hơn hình tượng để chọc thủng cái vỏ quen thuộc hàng ngày nhằm vươn tới cái bản chất lý tưởng siêu thời gian của thế giới - cái vẻ đẹp siêu nghiệm. Các yếu tố then chốt của Chủ nghĩa tượng trưng là trực giác, âm nhạc, trữ tình. Nghệ thuật chủ trương dùng những hình tượng đặc biệt để biểu hiện bản chất sự việc, những tình cảm, những điều bí ẩn mà cảm giác không nhận thức được.

 

Chống đối xã hội tư sản nhưng mang nặng một quan niệm bi đát về xu thế của cuộc sống, Chủ nghĩa tượng trưng chủ trương “nghệ thuật vị nghệ thuật” và tự đặt tên là “suy đồi” (từ của Veclen), tức chống lại chủ nghĩa thực dụng và các nghệ thuật thời thượng. Morêa (J.Moréas), người đứng đầu trường phái tượng trưng Pháp đã viết tuyên ngôn của trường phái này (1886). Các đại biểu lớn của trường phái tượng trưng: Veclen (P.Verlaine), Ranhbô (A.Rimbaud), Bôđơle (Ch.Baudelaire), Lôtơrêamông (I.D.Lautréamont) và sau này là Clôđen (P. Claudel) và Valêry (P.A.Valery); Mateclinkơ (M.Maeterlinck), Êliơt (T.S.Eliot; Anh), Rinkơ (R.M.Rilke), Blôc (A.A.Blok), Bêlưi (A.Belyj), Paođơ (E.Pound). Trong nghệ thuật tạo hình có Gôganh (P.Gauguin), Vruben (M.A.Vrubel'), v.v… 

 

Bích Khê gọi Baudelaire là “Vua Thi sĩ”, vì ông đã học được bao nhiêu mùi thi vị ở tác giả Những Bông Hoa Ác (Les Fleurs du Mal):

 

Có những mùi hương mát như da thịt trẻ con

Êm nhẹ như tiếng sáo, xanh mướt như cỏ non

Và những mùi hương oanh liệt, phong phú và trụy lạc

- Tỏa khắp không gian như những cái vô hạn, vô cùng

Như nhựa thơm, như xạ, như hương trầm

Hát ca những khoái lạc của tinh thần và thể xác

 

               (Bản dịch của Vũ Đình Liên)

 

Và Bích Khê muốn phà hơi lên cho mùi thi vị đó từ Baudelaire truyền nhiễm thấu trần ai (Ăn mày). Sự ảnh hưởng từ Baudelaire đến Bích Khê là rất rõ. Ngoài Baudelaire còn là sự ảnh hưởng của “hình ảnh Rimbaud, cú pháp Mallarmé, kiến trúc và triết lý của Valéry”.

 

Hàn Mặc Tử gọi Bích Khê là “thi sĩ thần linh”. Họ Hàn cho rằng thơ Bích Khê ở tập Tinh huyết có ba tính cách: 1) Thơ tượng trưng, 2) Thơ huyền diệu, và 3) Thơ trụy lạc. Nhận xét về thơ trụy lạc của bạn mình, Họ Hàn viết: “Ở địa hạt dâm cuồng này, ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire. Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà làm cho người ta ghê rợn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều”. Đó là sự khẳng định rõ ràng thơ Bích Khê là thơ tượng trưng. Cần có sự khẳng định như vậy vì thời gian đó, ở Bình Định có cụm từ “Trường thơ Bình Định” có ý chỉ nhóm tứ kiệt gồm 4 nhà thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn và Bích Khê có cùng một xu hướng, trường phái sáng tác. Nhưng thực ra không phải như vậy, họ chỉ chơi với nhau chứ không thành một xu hướng, trường phái, mà họ Hàn thì chủ trương “Thơ Điên”, họ Chế chủ trương “Thơ Loạn”, thi sĩ họ Quách hoài cổ, còn Bích Khê là thơ Tượng trưng.

 

Nhà nghiên cứu Mai Bá Ẩn [6, Bích Khê và chủ nghĩa tượng trưng, phongdiep.net, 2011] nhận xét khá chính xác về thơ tượng trưng của Bích Khê: Còn Bích Khê thì một chân trụ vững ở bờ chủ nghĩa lãng mạn nhưng một chân kia đã đưa sang và gần chạm đến bờ (một tay níu giữ bên này để một tay trườn sang bên kia) tượng trưng chủ nghĩa một cách có chủ ý, ngay từ đầu cầm bút. Đây mới chính là tâm điểm để ta nhận ra biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ lãng mạn 1932 - 1945. “Tính chất uẩn khúc, huyền ảo, siêu thực trong thơ tượng trưng đã được Bích Khê thể hiện qua hàng loạt các bài thơ trong tập thơ Tinh huyết (Duy Tân, Tranh loã thể, Giờ trút linh hồn). Có thể nói “hình ảnh Rimbaud, cú pháp Mallarmé, kiến trúc và triết lý của Valéry” đã tạo dựng cho Bích khê một thứ “thơ vàng ròng” đậm tính tượng trưng... Ba yếu tố tượng trưng, huyền diệu, trụy lạc của tập thơ Tinh huyết đã làm cho Bích Khê trở thành một cây bút khác hẳn với khuynh hướng lãng mạn”.     

 

Theo Giáo sư Đỗ Đức Hiểu, thơ mới Việt Nam có hai làn sóng. Làn sóng thứ nhất “chịu ảnh hưởng chủ yếu của thơ lãng mạn Pháp nửa đầu thế kỷ XX”. Lớp nhà thơ thuộc làn sóng này viết diễn cảm. Làn sóng thứ hai “chịu tác động sâu sắc của Baudelaire và những nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa Pháp”. Lớp nhà thơ của làn sóng này viết diễn đạt cái tương hợp. Bích Khê là nhà thơ mới thuộc làn sóng thứ hai. Đẹp và dâm, vừa là sự đối nghịch, vừa là sự tương hợp. (Trong bài: “Sự tương hợp giữa Thơ Mới và Thơ Pháp trong cuộc giao thoa của hai văn hóa Việt Nam và Pháp nửa đầu thế kỷ XX”: Đỗ Đức Hiểu: Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội Nhà văn, H.1999, tr.153-154).

 

Chủ nghĩa tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật và là một quan điểm triết học - mỹ học xuất hiện cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Vì thế, nó là một thuật ngữ nhiều nghĩa để chỉ một trào lưu không thuần nhất. Tháng 9/1886, chủ nghĩa tượng trưng ra đời ở Pháp với bản “Tuyên ngôn tượng trưng” của Jean Moreas đề xuất một quan niệm thi ca mới nhằm phản ứng lối thơ thiên về chạm trỗ, trau chuốt ngôn từ của phái Thi sơn (Parmasse) và cách làm thơ quá dễ dãi của trường phái lãng mạn. Họ quan niệm: thi ca tượng trưng biểu hiện trước hết “những tư tưởng nguyên uỷ”, nó là kẻ thù của “sự mô tả khách quan”. Hình tượng tượng trưng là đa nghĩa, bất định, nó ghi nhận sự tồn tại của “khu vực bí ẩn” (Mallarmé), của “những cái vô hình và những thế lực định mệnh” (Maeterlinck), thơ “trước hết phải có nhạc tính” do âm nhạc hơn hẳn các nghệ thuật khác trong việc truyền đạt những sắc thái, những bán âm (Verlaine).

 

Quan niệm tượng trưng như là hình tượng có khả năng không chỉ biểu đạt những sự tương hợp của các khách thể và hiện tượng mà trước hết có khả năng truyền đạt “nội dung thể nghiệm của ý thức” (A.Belyi). Do vậy, ở những tác phẩm tượng trưng biểu tượng vật thể thực được đan bện chặt với các thủ pháp ấn tượng.

 

Nguyên tắc mỹ học của thơ tượng trưng là: nếu như thơ lãng mạn chủ yếu biểu hiện bằng hình tượng, hình ảnh tương phản thì thơ tượng trưng biểu hiện mối quan hệ giữa con người và sự vật trong mối tương hợp. Mỹ học tượng trưng cũng quan niệm giữa vũ trụ và con người có một mối tương quan bí ẩn. Mối tương giao, tương hợp này diễn ra trên nhiều mặt. Có sự tương giao về ý niệm: hư - thực, có sự tương giao về cảm giác: ánh sáng - bóng tối, có sự tương giao về không gian: ngang - dọc, có sự tương giao về màu sắc: đen - trắng, có sự tương giao về màu vị: trong - ngọt... Giữa vũ trụ và con người có sự tương ứng huyền bí (Baudelaire).

 

Chủ nghĩa tượng trưng tương giao với vũ trụ, thiên nhiên bằng trực giác qua lối thể hiện bằng biểu tượng phi cụ thể. Valery nói: thơ là nguồn hoan lạc cho trí” chính là trực giác của tượng trưng.

 

Mở đầu trường phái tượng trưng Pháp là Baudelaire với tập “Những bông hoa ác”. Tập thơ ra đời năm 1887 đã làm chấn động dư luận Pháp, đã bị tòa kết án vì lần đầu tiên ông đã thi vị hóa cái Xấu, cái Ác. Còn Bích Khê thực sự đã thi vị hóa cái tội lỗi, nhuốc nhơ, rùng rợn thành cái cao siêu, nhơn đức, thơm tho, khoái lạc... Cái “Sọ người” rùng rợn với Bích Khê lại là một “khối mộng” cho “hồn thơ chếnh choáng”, một “buồng xuân hơ hớ”, “một bình vàng”, “chén ngọc đầy hương”, cả một hồ trăng lấp loáng và chứa ở đó cả một sự sống đầy tình thương “người chứa một trời thương”. Nếu Bích Khê không dùng trực giác của tượng trưng thì làm sao có được những câu “thơ là nguồn hoan lạc cho trí” như thế này:

 

Người yên tịnh nhưng người đi muôn dặm

Máy thu thanh hòa âm nhạc thơm tho!

Miệng yêu kiều mơn ánh sáng say no!

Nguồn trinh tiết gây hồng tươi xanh thắm!

Bầu sữa người êm mát vạn sầu lo”.

 

                        (Sọ người)

 

Và những từ, những hình ảnh chỉ có trong thế giới ma quỷ, trong địa ngục, trong “cõi chết” như “đau” “chôn”, “sâu hóm”, “huyệt” “vạn thước sâu”, “mồ người”,… tất cả đã trở thành “ước mơ” thành “tình yêu”, thành “xuân mười bốn” và cuối cũng là quấn quýt, xoắn bện lấy nhau trong tình yêu vĩnh cửu:

 

Hãy khép trong đau để ước mơ

Để yêu lờ lặng những trang thơ

Để chôn tất cả hờn vô tận

Sâu hóm trong đây huyệt chữ mờ

Huyệt chữ bằng tinh vạn thước sâu

Mồ người thi sĩ rất đa sầu

Mồ người mỹ nữ xuân mười bốn

Hai đứa ôm nhau cắn lấy nhau.

 

Học ở chủ nghĩa siêu thực

 

Bích Khê không chỉ học được ở thơ tượng trưng mà còn tiếp thu được nhiều cái mới trong thơ siêu thực, lối thơ chỉ tin cậy ở trực giác. Chủ nghĩa siêu thực là một trào lưu văn học và nghệ thuật ở thế kỷ XX, bắt đầu ở Paris và được nhà thơ người Pháp André Breton viết tuyên ngôn vào năm 1924. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng các trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ. Siêu thực là một khuynh hướng nghệ thuật lớn bao trùm nhiều loại hình của nghệ thuật. Bắt đầu từ thơ, siêu thực lan tới hội họa rồi tiếp đến điện ảnh, tiểu thuyết. Thuật ngữ Chủ nghĩa siêu thực được nhà thơ Guillaume Apollinaire dùng trong tác phẩm của mình vào năm 1917. Sau tuyên ngôn năm 1924, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong văn học và nghệ thuật.

 

Những nguyên tắc mỹ học của Chủ nghĩa siêu thực là: Hướng về thế giới vô thức của con người - đó là một lĩnh vực vô hạn đối với sự sáng tạo nghệ thuật. Đề cao cái ngẫu hứng, những cái xuất hiện lướt qua trong đầu, không qua sự kiểm soát của lý trí. Vứt bỏ sự phân tích logic, chỉ tin cậy ở trực giác, giấc mơ, ảo giác, ở những linh cảm bản năng và sự tiên tri. Hướng tới sự hồn nhiên trong suy nghĩ như trẻ thơ, tới trạng thái mê sảng, tới những ảo giác mộc mạc của người nguyên thủy và nền nghệ thuật cổ sơ của họ. Chủ nghĩa siêu thực chủ trương thơ ca phải được tuôn trào tự do, không cần tuân thủ các quy định về câu cú, đề cao sự liên tưởng tự do. Về cơ bản, Chủ nghĩa siêu thực chống sự tầm thường của chủ nghĩa hiện thực.

 >> Thư viện Doãn Thuỵ Như (Phạm Thị Như Thuý)

 

Giữa các nhà thơ tượng trưng và các nhà thơ siêu thực tương đồng với nhau ở điểm chính là thơ không tả cảnh, tả tình, thơ phải khám phá nội tâm, diễn đạt những tác động vô hình vào tâm trạng. Thơ siêu thực đi sâu phản ảnh tiếng nói của thâm tâm (vô thức, tiềm thức và ý thức). Vì thế, việc Bích Khê đi nhanh từ tượng trưng sang siêu thực không những không gặp trở ngại gì mà rất thuận đường!

 

Nhà phê bình văn học Thụy Khuê đã nhận xét: Thơ Bích Khê là sự giao lưu giữa thơ cổ và thơ hiện đại, trong một kiến trúc nghệ thuật âm nhạc và hội họa. Đặc biệt trong lối tạo hình, ông đã sử dụng một phương pháp mới, lúc ấy chưa thịnh hành ở Việt Nam: phương pháp cắt dán (collage). Hình ảnh trong thơ Bích Khê là sự cát dán lắp ghép, hình ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử là tưởng tượng, vì vậy khi nhìn bề ngoài có vẻ giống nhau nhưng thật ra rất khác: thơ Bích Khê “mới” hơn Hàn Mặc Tử, vì Bích Khê tiếp nhận thêm được những kiến thức siêu thực, mà Hàn Mặc Tử chưa kịp tiếp thu, đã mất.

 

Phong cách siêu thực trong thơ Bích Khê xảy ra ở cả mức độ chữ, lẫn câu: Bích Khê không chỉ để hai hình ảnh khác nhau cạnh nhau, mà còn để hai câu thơ hoàn toàn khác nhau cạnh nhau, như: Vàng sao nằm im trên hoa gầy / Tương tư người xưa thôi qua đây. Câu trên là một câu mô tả sự khăng khít xác thịt: Vàng sao nằm im trên hoa gầy. Câu dưới: Tương tư người xưa thôi qua đây, mô tả sự tan vỡ, nói đúng ra là, vừa đang yêu: tương tư vừa tan vỡ: người xưa thôi qua đây. Bích Khê đã đảo lộn trật tự thời gian sống, để tạo một nghịch cảnh, nghịch lý mới: thường thì người ta tương tư, rồi khăng khít và sau cùng mới lìa nhau, đằng này, người ta khăng khít trước, rồi mới tương tư, rồi xa nhau.

 

Cũng theo Thụy Khê, Tỳ bà là một trong những bài thơ đầu tiên của Việt Nam có cấu trúc gián đoạn: Bích Khê dán những chữ không liên lạc gì với nhau cạnh nhau, dán những câu không liên lạc với nhau lại gần nhau, để tạo ra những hình ảnh hoàn toàn siêu thực: tay - đêm, giăng - mền, trăng - đan, mây - nhung, thuyền - hồn...

 

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mền

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung phơi màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Dây đàn yêu đương run trong mơ

Hồn về trên môi kêu: em ơi

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu.

 

                            (Tỳ bà)

 

Mỗi câu thơ của Bích Khê là một sự đứt đoạn: Bích Khê là nhà thơ tiên phong, đã đi trước thời đại, thể hiện sự đứt đoạn trong không gian và trong tâm hồn. Sự đứt đoạn của đời sống là một trong những khám phá của nghệ thuật hiện đại trong toàn bộ thơ, văn, nhạc, họa, từ đầu thế kỷ XX. Bởi mỗi ý nghĩ của chúng ta là một đứt đoạn, mỗi hình ảnh chúng ta nhìn thấy trong đời sống là một đứt đoạn.

 

Tiềm năng tượng trưng của vật liệu  

 

Sự tiếp nhận, học hỏi ở chủ nghĩa tượng trưng rồi tiếp theo là chủ nghĩa siêu thực của Bích Khê đã là yếu tố quan trọng hàng đầu để thơ Bích Khê có những đột phá hoàn toàn mới trong khát vọng “Duy tân” thơ của mình và đã trở thành “một đỉnh núi lạ” của thời kỳ Thơ Mới 1930 - 1945, và điều quan trọng hơn: Bích Khê là nhà thơ đi trước thời đại (Lẽ ra câu nói “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” không phải giành cho Xuân Diệu mà chính là Bích Khê). Đó chính là điều mà nhà phê bình Hoài Thanh còn nhiều băn khoăn khi phê bình thơ Bích Khê và ông đã phải thừa nhận rằng đọc thơ Bích Khê một lần coi như chưa đọc. Tuy nhiên, Hoài Thanh cũng đã trích được một đoạn trong bài Tranh lõa thể để gọi đó là “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”. Và Hoài Thanh chỉ trích dẫn 10 câu  đầu của bài Tranh lõa thể.

 

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ,

Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi nầy?

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?

Ðến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;

Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.

Ðêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.

Vài chút trăng say đọng ở làn môi…

 

Với bài thơ thuộc vào loại tuyệt tác như Tranh lõa thể thì việc chỉ trích ra chục câu đầu như Hoài Thanh thì cũng chưa thể nói được gì nhiều, vì thế cần dẫn lại nguyên văn cả bài như sau:

 

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ

Ô tiên nương nàng lại ngự nơi này?

Nàng ở mô? xiêm áo để đâu đây?

Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

Mắt ngời châu tung ánh sáng nghê thường

Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc

Vài chút trăng say đọng ở làn môi

Hai vú nàng! Hai vú nàng! chao ôi

Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng

Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động

Tôi run run hãm lại cánh hồn si …

Ồ hai tay rơi chén ngọc lưu ly

Ố hai chân nở màu sen ẻo lả

Cho tôi nàng! cho tôi nàng! tất cả…

Tôi miên man uống lại mộng quỳnh dao

Cho đê mê, chới với hồn lên cao

Một tinh cầu sẽ tan ra biển lệ…

Tiên nương hỡi? Nàng sống trên thế hệ

Bóng thời gian phải quỵ dưới chân nàng

Xuân muôn đời di dưỡng giữa vùng tang

Gương phép tắc suốt soi ngàn mộng ảnh!

Cớ làm sao nâng niu bầu giá lạnh

Ấp tranh người, lơ đãng ngắm thi nhân?

Hay nàng nhớ nhung các phương đều lặn

Hay nàng ước mơ tình trong trắng ngọc?

Ôi! nàng ôi! làm sao nàng chẳng khóc

Người thi nhân, vẻ đẹp của khiêu dâm

Trăng thanh tịnh còn lòng trong thơ cảm

Nhạc vô minh hằng sôi trên nét chữ ?

Ôi! nàng ôi! thốt lên, lời ngọc nữ

Lời trân châu rang cả phím lòng tôi

Ngọc Kiều! Ngọc Kiều! Đến cặp song đôi

Cho tôi đọ vẽ hương trời sắc nước

Vẽ huyền diệu ứ men say lướt mướt

Vẽ yêu tinh dồn giận thấu vô gan

Ta thiếp đi - trong một phút mê loan

Xuống muôn đợt rồi bay lên tột bực…

 

Nếu nhìn lại bức tranh lõa thể bằng thơ nổi tiếng của thơ Việt Nam như “Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,/ Yếm đào trễ xuống dưới nương long / Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm, / Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông” (Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương) thì có thể nói Tranh lõa thể của Bích Khê đã vượt qua khá xa các bậc tiền bối về mọi phương diện. Với Tranh lõa thể của Bích Khê, thơ không còn là thơ mà là âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc theo một phong cách riêng, ngôn ngữ không còn là ngôn ngữ mà là thanh âm, màu sắc, đường nét, hương thơm. Và không chỉ với bài Tranh lõa thể, hầu như ở bài thơ nào của Bích Khê, ta cũng có thể cảm nhận được điều này: Màu sắc biến thành âm thanh, âm thanh biến thành nhịp điệu, nhịp điệu biến thành hương vị, rồi thành thơ, thành mơ: …Sắc trong màu, màu trong sắc: hân hoan…/ …Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc: lan man… (Đồ mi hoa). Và trong bản hòa sắc muôn màu đó, từng sắc màu với những biểu tượng rực rỡ vẫn hiện ra không trộn lẫn: “Mộng rất xanh, mộng rất xanh, rất xanh / Choáng thời gian vây nuôn đầu thục nữ. Hồn đê mê, trong khi lòng giận dữ, / và tạo ra một thứ sáng hào quang: / Những mặt tươi, nhan sắc đẹp như trăng / và lẻm sắc như thanh gươm vấy máu; / Những đôi mắt, kho tàng muôn châu báu, / có những hàng đũa ngọc gắp hương yêu (Sắc đẹp).

 

Đây chính là đỉnh cao của nghệ thuật siêu thần, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết Đông – Tây mà cụ thể là cái nhìn thâm hậu phương Đông trên cơ sở của thuyết tương hợp của chủ nghĩa tượng trưng Pháp. Điều làm nên đỉnh núi lạ giữa cánh đồng thi ca Việt Nam chính là ở chỗ Bích Khê kết hợp tinh hoa hai nền văn hóa và thi ca ấy.

 

Như trên đã nói, nhạc tính là đặc trưng nổi bật của thơ tượng trưng nói chung và thơ Bích Khê nói riêng, đến với thơ Bích Khê ta như đến với thế giới âm nhạc kỳ diệu:

 

Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,

Những cánh hồng đơm, - những cánh hồng đơm

Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây

Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,

Ô nàng tiên nương! - hớp nhạc đầy hương.

  

                                 (Nhạc)

  

Tuy nhiên, trong Lời tựa tập Tinh huyết, Hàn Mặc Tử lại viết, “âm thanh là một nửa tinh thần anh hoa của thế giới Huyền diệu. Còn một nửa khác là màu sắc phương phi của khí thiêng hun đúc, rạng rỡ cả một trời lưu ly, mã não, trân châu”. Vì thế có thể nói, bước vào thế giới thơ Bích Khê, người đọc không chỉ đê mê cùng tiếng nhạc diệu kỳ mà còn bàng hoàng trước những không gian với những sắc màu hân hoan, những hào quang sáng loáng đang khiêu vũ, với những luồng ánh sáng lung linh bay lượn giữa một trời thơ hằng cửu:

 

Cho tình ta xô dồn sang cực điểm;

Và hào quang khiêu vũ với hào quang

 

                  (Nàng bước tới)

 

Điều cần chú ý ở Tranh lõa thể, nói khái quát là “vẻ đẹp thân xác” trong thơ Bích Khê có ý nghĩa đặc biệt bởi yếu tố thân thể con người, đặc biệt là thân thể giai nhân và thân thể chủ thể trữ tình là nét chủ đạo  trong thơ Bích Khê. Trong Thơ mới, Bích Khê là nhà thơ có ngôn ngữ thân thể táo bạo nhất, mới mẻ nhất. Tất cả các phần thân thể trong thơ Bích Khê đều trở thành ngôn ngữ của đam mê, khoái lạc, của mơ mộng, ước ao, của cái đẹp trong trắng và vĩnh viễn. Đó không phải là ngôn ngữ duy nhất vì còn có ngôn ngữ vũ trụ, ngôn ngữ thiên nhiên, song đó là phần ngôn ngữ đặc sắc nhất. Giáo sư Trần Đình Sử đã có sự phân tích khá xác đáng về “vẻ đẹp thân xác”, “ngôn ngữ thân thể” trong thơ Bích Khê: “Thơ Bích Khê là thơ về cái đẹp, người đẹp. Ta bắt gặp trong thơ ông những tiên nương, tiên nga, ngọc nữ, thuyền quyên, Hằng Nga, Ngu Cơ, Quý Phi, Xuân Hương, Ngọc Kiều, nhìn thấy những đào nguyên, ngọc tuyền, dao động, đào động, cung Quảng... Hoa trái trong thơ ông cũng mang nữ tính: Quả măng cụt, Đồ mi hoa (một thứ cây leo có hoa trắng như tuyết và có mùi thơm). Nhạc trong thơ Bích Khê thường là Nghê thường, Lạc mai hoa, Phụng cầu hoàng, những khúc nhạc tình đắm đuối. Không phải ngẫu nhiên mà Bích Khê viết: “Ngừng hơi thở… ta nép trong bóng lá, Để vần thơ theo nhịp điệu thuyền quyên” (Đồ mi hoa). Đó là những vần thơ theo nhịp điệu người đẹp với thiên tính nữ. Thơ ông là thơ về cõi mộng, cõi tiên đầy âm nhạc, thi ca, màu sắc, hương thơm và giao tiếp thân thể. Đẹp và mộng là những nét rất tiêu biểu cho thơ lãng mạn. Đó là những giấc mộng siêu thoát rất thanh, rất xanh, đầy thi vị. Có một thời chúng ta xem mọi mộng mơ, siêu thoát chỉ là thoát li thực tế mà không thấy đó là không gian tinh thần để giải phóng tâm hồn. Những giấc mộng cho phép nhà thơ phác họa nhiều chân dung người đẹp mang tính chất tượng trưng. Thơ Bích Khê có xu hướng lột trần mọi che đậy làm cho thân thể trong thơ xuất hiện với tính chất tự nhiên, phải chăng cũng có nghĩa là lột bỏ những ngôn từ lá nho che đậy? Lõa thể trong nghệ thuật thường tượng trưng cho sự thuần khiết, tự do, sự thiêng liêng, chân lí và cả sự yếu đuối với ít nhiều nhục dục. Loã thể đánh dấu sự rời xa của thơ ca từ vũ trụ bao la, xã hội rộng lớn để trở về với sự chiêm nghiệm thân thể người. Bích Khê đã đem lại một bữa tiệc của thân thể sống động,non tơ, kiều diễm:

 

Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?

Vú non non? Da dịu dịu, êm êm?

Đâu hang báu cho ta phải khóc?

Trên môi son ta liếc lưỡi gươm mềm!

 

                   (Mộng cầm ca)

 

Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!…

Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!

Mát làm sao! Mát rợn cả châu thân.

Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực.

Ôi! thớ thịt có đàn lên cung bực

Hồn tôi ôm gót ngọc lắng âm thanh…

 

                   (Bàn chân)

 

Trở lại vấn đề đang trình bày là sự tiếp nhận, học hỏi ở chủ nghĩa tượng trưng rồi tiếp theo là chủ nghĩa siêu thực của Bích Khê. Điều cần lưu ý về cái “sự học” ở Bích Khê là: Sách vở và kiến thức đông tây cổ kim tất nhiên là có, và rất nhiều, nhưng đến một lúc nào đó, cái khối tri thức khổng lồ đó, đã ẩn mình nhường chỗ cho một linh giác lạ thường, làm bừng nở ra những bông ánh sáng - đó là những đóa hoa thần dị - thơ Bích Khê. Hy vọng rằng với cái nhìn mới của thời đại mới, những ánh hào quang đang khiêu vũ với hào quang của thơ Bích Khê sẽ có ngày càng nhiều sự đồng cảm của các thi sĩ, các nhà phê bình văn học các thế hệ sau cũng như của cộng đồng xã hội. Nói cách khác, tiềm năng tượng trưng của các vật liệu kiến tạo nên thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê là vô tận!

 

>> Những vật liệu kiến tạo thơ Bích Khê - Kỳ 2

>> Những vật liệu kiến tạo thơ Bích Khê - Kỳ 1

 

 

>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC...   

 

 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.