Tin mới Xem thêm

  • Võ Văn Pho chờ mai nắng ấm

    Tính sao đây/ Phải sao đây?/ Giữa bao ngang trái/ Chất đầy trái ngang./ May còn/ Tình mẹ cưu mang

  • Nguyễn Thị Phương Nam gửi vào khoảng lặng

    Có những ngày im lặng/ Nghe nhịp thời gian trôi/ Đếm từng đợt mưa rơi/ Tính từng ngày nắng ấm/ Nhìn từng cơn gió thoảng

  • Dẹp cho hiệu quả

    Cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan có câu nói rất nổi tiếng: "Let's it die" (hãy để cho nó chết) chính là để nói về thái độ cần thiết khi “thanh lọc”

  • Cảm hứng từ lý tưởng và tính nhân văn

    Với tính nhân văn cao, chất lãng mạn trữ tình và hiện thực sâu sắc, văn học Nga - Xô Viết đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên tính cách, lối sống của con người và văn học Việt trong một thời kỳ dài sau Cách mạng Tháng Mười. Có thể nói, nước Nga và văn học Nga - Xô Viết luôn là niềm tự hào của các thế hệ cầm bút ở Việt Nam.

  • Kim Hài - Giòng sông Tỉnh Thức - kỳ 3

    Cái tư thế kỳ lạ của Quân khi qua đời khiến dân Tối Thượng xôn xao. Thái độ thờ ơ, lầm lủi của mọi người dường

  • Nguyễn Vũ Tiềm tương tư gói lại mang về

    Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm năm nay đã 77 tuổi. Hơn nửa thế kỷ miệt mài với thi ca, ông có một vị trí đáng kể trong lòng công chúng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Trần Hoài Anh-Về truyện ngắn miền Nam 1954-1975

19.4.2011-09:39

Nhà phê bình văn học Trần Hoài Anh

 

Truyện ngắn trong quan niệm

của lý luận phê bình văn học

ở đô thị miền Nam 1954 - 1975

 

    TRẦN HOÀI ANH

                                                                            

        NVTPHCM- Cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn là thể loại khá năng động và không bao giờ bị “đông cứng”. Đây cũng là một thể loại phổ biến trong đời sống văn học trên cả hai bình diện sáng tác và tiếp nhận. Vì vậy việc xây dựng quan niệm về truyện ngắn  là vấn đề lý thuyết có ý nghĩa trong lý luận phê bình. Tìm hiểu quan niệm thể loại của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam, chúng tôi thấy, quan niệm về truyện ngắn là một trong những vấn đềthu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. 

 

 1. Về dung lượng và sự tồn tại của truyện ngắn

Nói đến truyện ngắn, người ta thường nghĩ đến dung lượng. Đây cũng là một căn cứ để khu biệt truyện ngắn với các thể văn xuôi khác như truyện dài, tiểu thuyết... Vì thế trong hệ thống lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam vấn đề dung lượng truyện ngắn được bàn đến khá nhiều.

Hầu hết các ý kiến đều cho rằng, truyện ngắn là loại truyện cô đọng cả trong nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện. Theo Bình Nguyên Lộc, “Thể truyện ngắn khá cô đọng, tuy không cô đọng như thơ, chứ vẫn không quá loãng như tiểu thuyết”. (1) Quả thật, nói đến truyện ngắn là nói đến sự cô đọng. Tính chất này không chỉ thể hiện trong độ dài của tác phẩm, mà còn thể hiện ở dung lượng hiện thực được phản ánh. Những chi tiết, sự kiện trong đời sống được nhà văn phản ánh bao giờ cũng được chọn lọc tinh vi. Nói như Doãn Quốc Sỹ “Trong truyện ngắn không có sự kiện, chi tiết tràn bờ, dư thừa. Tất cả như những nhát búa đập chính xác lên đầu chiếc cọc, để cọc đóng sâu và chắc xuống đất. Đôi khi truyện ngắn có thể khá dài đấy - chừng bốn năm chục trang - nhưng đó phải là những câu chuyện kể một hơi, tâm trạng cô đọng, cốt truyện cô đọng.”(2)

Cô đọng là một đặc điểm của thể loại truyện ngắn. Dung lượng câu chữ, dung lượng hiện thực trong truyện ngắn có độ nén rất lớn. Truyện ngắn có khả năng thể hiện những chủ đề sâu rộng của đời sống qua một phạm vi hiện thực có giới hạn nên mang tính khái quát cao, xét về phương diện nào đó “Truyện ngắn gần giống như thơ Đường ở nội dung”(3). Nghĩa là, truyện ngắn bao giờ cũng chứa trong nó sự bùng nổ về cảm xúc và tư tưởng. Đây cũng là quan niệm của Viên Linh khi cho rằng truyện ngắn là “một thể loại văn cô đọng gần như thơ”(4). Bởi “truyện ngắn thường là một chi tiết đủ nghĩa của một đề tài phù hợp”(5). Truyện ngắn không chấp nhận lối viết khô khan, nghèo nàn cảm xúc và tư tưởng. Lê Huy Oanh cho rằng: “Truyện ngắn là một thể loại rất khó viết vì nó phải cô đọng mà không khô khan. Những tác động cần biến diễn nhanh chóng, nhưng truyện vẫn quyến rũ và giữ trọn vẹn những ý tưởng và đề tài cần phát biểu”(6). Tuy là một thể loại “rất khó viết vì phải cô đọng như thế nhưng truyện ngắn tự nó không là một thể văn gò bó”(7), nên cũng mở ra cho nhà văn nhiều con đường khám phá và sáng tạo.

Bàn về tư cách truyện ngắn trong bức tranh thể loại văn học, Triều Đẩu cho rằng: “Truyện ngắn có thể thực hiện được nhiều điều hay, hơn cả một cuốn tiểu thuyết dài hay một bản kịch. Truyện ngắn có thể soi mói một biến cố cặn kẽ, tuy chỉ là trong chốc lát, và nó có thể diễn tả trường hợp đó một cách sâu sắc, nhận xét một cách tinh vi hơn tất cả các hình thức văn nghệ khác, ngoại trừ có lẽ chỉ thi ca mà thôi.”(8). Khẳng định điều này, có lẽ Triều Đẩu xem truyện ngắn như một thể loại tồn tại độc lập trong hệ thống thể loại văn học. Đây cũng là quan niệm của Nguyễn Xuân Hoàng, khi nói về phương thức tồn tại của truyện ngắn, “Truyện ngắn phải là một truyện ngắn. Truyện ngắn không phải là một đoạn nào đó trong một truyện dài. Truyện ngắn có không khí riêng, hơi thở riêng, khí hậu riêng và đời sống riêng của nhân vật và của chính nó.”(9). Bởi lẽ, theo Dương Nghiễm Mậu “một truyện ngắn không bao giờ là một trích đoạn của một truyện dài thành công”(10), và Nguyễn Thị Hoàng cũng cho rằng “truyện ngắn là một thứ truyện không phải bị rút ngắn từ một truyện dài đáng lẽ dài, và ngược lại cũng không thể, muốn trở thành một truyện dài, cứ viết kéo dài hay triển khai thêm”(11). Không chỉ có Triều Đẩu, Nguyễn xuân Hoàng, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng, mà Nguyễn Thụy Long từ thực tiễn sáng tác cũng khẳng định sự tồn tại độc lập của truyện ngắn. “Tôi cũng không đồng ý một số người cho rằng truyện ngắn là một số đoạn của truyện dài cắt ra hoặc nói một cách khác là truyện dài do nhiều truyện ngắn góp nhặt lại.”(12). Rõ ràng truyện ngắn không thể là một phần của truyện dài, nó là một thể loại có phương thức tồn tại độc lập, theo Nguyễn Đức Sơn “nếu truyện dài là một cái gì hoàn tất thì truyện ngắn cũng phải là một cái gì hoàn tất dù nó có mở rộng nhiều chân trời xa xôi”(13). Và để làm rõ hơn quan niệm của mình, tác giả khẳng định “Truyện ngắn là truyện ngắn. Nó có một thể thức riêng biệt của nó dù kỹ thuật nó vẫn tiến triển. Bàn về truyện ngắn chỉ có thể bàn đến cái thể thức đặc biệt đó thôi”(14).

Trong tiến trình vận động và phát triển của thể loại văn học, nhất là trong thời kỳ hiện đại và hậu hiện đại, ranh giới giữa các thể loại ngày càng bị nhòa đi do sự giao thoa giữa chúng. Song không vì thế, yếu tính của từng thể loại bị mất đi, ngược lại tính độc lập và sự dị biệt của từng thể loại ngày càng được minh định hơn. Đây cũng là quan niệm của Nguyễn Quốc Trụ: “Tiểu thuyết hay truyện dài và truyện ngắn không phải là những thể văn đồng dạng; trái lại chúng hoàn toàn khác biệt với nhau. Ngay trong một dòng văn chương chúng cũng không sinh sôi nẩy nở, đồng thời, đồng điệu hoặc đồng cường độ”(15). Và nói như Dương Nghiễm Mậu “Một truyện dài hay không thể tách ra khỏi nó một đoạn nào mà là truyện ngắn được”(16).

 Như vậy, trong quan niệm của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam truyện ngắn là một thể loại văn xuôi rất cô đọng, có phương thức tồn tại riêng, độc lập, không  phụ thuộc vào bất cứ thể loại nào.

. Trong văn xuôi, có lẽ truyện ngắn là  thể loại viết rất khó thành công bởi “khuôn khổ chật hẹp, khó xoay trở, lại dễ lộ những vết nhỏ nhặt, thành ra người viết phải mất nhiều công phu ý tứ ”(17). Nhưng là thể loại tốt nhất để nhà văn rèn luyện năng lực sáng tạo văn chương và định hình phong cách của mình. Nói như Tô Hoài: “Nhà văn mình thường yếu không tạo được phong cách riêng. Truyện ngắn là nơi ta có thể thử tìm phong cách cho mình”(18). Vì thế, truyện ngắn không những là một thể loại tồn tại độc lập mà còn ẩn tàng trong đó nhiều cái độc đáo, từ không khí, nhân vật, ngôn ngữ, phải là cái gì đó độc sáng, không lặp lại. Và theo Mai Thảo đó là “một thể văn phải thể hiện trong nó rất nhiều cái riêng Tây. Càng có nhiều được những cái riêng Tây chừng nào, truyện ngắn càng hay chừng nấy.”(19). Và tất cả những cái "riêng tây" này đều được thể hiện qua bút pháp của nhà văn. Vì vậy, cách viết truyện ngắn cũng là một vấn đề được các nhà lý luận phê bình đề cập đến.

 

2. Về cách viết truyện ngắn

Với tư cách một thể loại độc lập, truyện ngắn có phương thức tồn tại riêng, với những yêu cầu riêng về kỹ thuật viết. Vì thế cách viết truyện ngắn cũng là một vấn đề mang tính quan niệm.

Thật vậy, sự khác nhau giữa truyện ngắn và các thể loại văn xuôi khác không chỉ ở dung lượng hiện thực được phản ánh hay độ dài ngắn của tác phẩm mà còn thể hiện ngay ở cách viết. Nếu ở truyện dài, nhà văn khai thác thoải mái các chi tiết, sự kiện, câu chữ thì ở truyện ngắn phải biết chọn lọc từng chi tiết, từng sự kiện, từng câu văn để làm sao có thể phản ánh được những điều mông mênh, xa mờ giữa cõi đời hỗn mang của kiếp nhân sinh, trong một vũ trụ văn chương tế vi nhất: “Viết truyện ngắn là dùng thứ kích thước nhỏ để đựng một vấn đề có khi… rất lớn”(20). Vì lẽ đó trong quan niệm của Thanh Nam “Truyện ngắn là một thể văn xuôi vừa khó viết mà vừa khó thành công, không thể là một thứ truyện dài rút gọn hoặc một thứ lấy ra từ những đoạn rời của một truyện dài”(21).

  Quả thật do tính chất cô đọng, hàm súc, ở truyện ngắn việc sử dụng ngôn ngữ là một yêu cầu đặc biệt về kỹ thuật viết. Đó cũng là thử thách vô cùng khắc nghiệt đối với nhà văn. Bởi ngôn ngữ truyện ngắn không chỉ đơn thuần là yếu tố kỹ thuật mà còn là vấn đề mang tính quan niệm vì theo Huỳnh Phan Anh “Chỉ có truyện ngắn mới nói lên đầy đủ và dứt khoát quan niệm của một tác giả về chữ nghĩa”(22). Không chỉ truyện ngắn, hầu như ở bất cứ thể loại văn học nào kỹ thuật viết mà biểu hiện rõ nhất là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ cũng là yêu cầu sống còn của nhà văn. Bởi theo Nhật Tiến “Tác phẩm là nơi đối thoại giữa nhà văn với người đọc mà trong đó sự truyền cảm là ngôn ngữ. Từ bỏ ngôn ngữ đó, mặc nhiên nhà văn đã từ bỏ thiên chức cao quí của mình”(23). Song ở truyện ngắn, yêu cầu ấy lại có ý nghĩa đặc biệt. Kỹ thuật viết trong truyện ngắn là một quá trình rèn luyện lâu dài, gian khổ, là quá trình khám phá, sáng tạo không ngừng như Duy Lam tâm sự: “Viết như là một sự chết đi sống lại nhiều lần”(24). Cho nên trong quan niệm của Cung Tích Biền mỗi truyện ngắn có một “định mệnh” và "Với một kỹ thuật cao, ở truyện ngắn ta nói được nhiều điều cần thiết hơn ở truyện dài; người đọc dễ tiếp nhận, dễ xúc động; y như ta đưa dần họ đến cái chóp núi chót vót, để bất ngờ thấy một thung lũng bàng bạc bên kia”(25).

        Hình như nhà văn nào cũng bắt đầu sự nghiệp bằng truyện ngắn. Bởi đây "là cánh cửa đầu tiên mở vào thế giới văn chương"(26) và từ truyện ngắn, họ kiến tạo vũ trụ văn chương cho riêng mình, cũng như khẳng định sự hiện hữu của mình trên văn đàn. Nhưng không phải ai cũng thành công. Vì theo Định Nguyên “ truyện ngắn là một góc cạnh sáng chói nhất trong toàn diện văn chương của người viết" (27). Thật vậy, để có một truyện ngắn hay hằn sâu trong tâm thức người đọc không phải là chuyện dễ dàng, nói như Cung Tích Biền viết truyện ngắn "được xem là hay, rất khó. Ngay cả những nhà chuyên về truyện ngắn, cũng chỉ có một thời kì viết được truyện hay mà thôi, còn chỉ là...”(28) Cho nên, đã có những nhà văn khởi đầu với truyện ngắn nhưng sau, cũng đành “lỡ bước sang ngang” vì không thể phát triển ngòi bút và năng lực văn chương của mình ở một thể loại đầy oan nghiệt như truyện ngắn. Người nghệ sĩ xiếc có thể biểu diễn xiếc trên dây nhưng nhà văn không thể làm xiếc trong thể loại truyện ngắn.

Sự khác biệt trong cách viết giữa truyện ngắn, truyện dài không chỉ có ở kỹ thuật viết, mà từ một điểm nhìn khác các nhà lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam cũng chỉ rõ sự không giống nhau giữa hai lối viết này. Viên Linh cho rằng: “Lối văn truyện dài là lối văn mà tác giả thường phải thoát ra ngoài nhìn vào. Lối văn truyện ngắn thường là lối văn tác giả ở trong”(29). Với lối nói ví von, Sơn Nam quan niệm “Truyện dài là cây to có gốc rễ, cành lá hoa trái. Tác giả cho thấy toàn bộ. Truyện ngắn là một cành hoa, một trái chín với đôi ba chiếc lá. Nếu nhập đề quá vụng về ở mười câu đầu thì truyện ngắn sẽ hư hỏng. Và khi gần kết thúc, tác giả của truyện ngắn chỉ có quyền thêm bớt đôi ba câu để chấm dứt cho kịp thời”(30).

Nếu Viên Linh và Sơn Nam xuất phát từ điểm nhìn của người viết để khu biệt sự khác nhau trong lối viết giữa truyện ngắn và truyện dài thì Nguyên Vũ, từ điểm nhìn của người đọc, cho rằng tính chất cô đọng và sự rung cảm của người đọc   cũng ảnh hưởng đến cách viết. Bởi viết truyện ngắn tuy "gò bó hơn với một số hình ảnh, một vài câu đối thoại sắc, gọn nào đó. Nhưng nói về rung cảm phải nói truyện ngắn dễ đi sâu vào người đọc hơn”(31). Đó cũng là quan niệm của Cung Tích Biền “Trong thế giới văn chương, những truyện ngắn là những phiến ngà lấp lánh, đa thể và biến dịch từ mỗi người đọc”(32).

Do tính chất cô đọng, truyện ngắn bao giờ cũng là sự dồn nén của cảm xúc và tư tưởng. Đây cũng là yếu tố tạo nên sự khác biệt trong cách viết truyện ngắn.  Nguyễn Thuỵ Long rất có lý khi cho rằng: “ Lối văn viết truyện ngắn ngắn gọn, lối văn viết truyện dài cũng thể tài đó nhưng phải đào sâu, đi nhiều vào chi tiết. Nhưng không phải vì vậy mà nói lối văn truyện dài hay hơn truyện ngắn. Mỗi loại có một lối hay riêng.”(33)

Cũng đề cập đến sự khác nhau về cách viết giữa truyện ngắn và truyện dài nhưng trong quan niệm của Thảo Trường yếu tố làm nên sự khác biệt đó là do hai hình thức, hai lối hành văn khác nhau: “Văn truyện dài có thể thả lòng để diễn tả khoảng khoát bất tận. Văn truyện ngắn cần phải chắc và chứa đựng nhiều. Một chủ đề nào đó được “cầy cuốc” lên trong giới hạn một vài chục trang giấy, nó phải được sử dụng chữ nghĩa thật bén nhọn.”(34). Còn theo Lê Xuyên, sở dĩ cách viết giữa truyện ngắn và truyện dài khác nhau là do đặc điểm của cốt truyện “một đằng thì cô đọng, một đằng thì khai thác đến tận cùng những tình tiết. Hơn nữa với một truyện ngắn ta chỉ có thể đề cập đến một cảm nghĩ, một ý niệm nào đó mà chẳng cần gì phải có một cốt truyện cho có đầu có đuôi hay có một nhân vật rõ rệt nào đó”(35).

Từ những ý kiến trên, ta thấy quan niệm của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam về cách viết truyện ngắn dường như không khác biệt nhau. Hầu hết các ý kiến đều cho rằng cách viết truyện ngắn và truyện dài hoàn toàn khác biệt nhau. Do đặc trưng của truyện ngắn là cô đọng hàm súc, nên lối viết truyện ngắn khó hơn truyện dài, đến nỗi Văn Quang phải tự nhận “Truyện ngắn đối với tôi bây giờ là một cực hình, gần như không viết nổi nữa”(36). Chính vì thế, việc nhận thức về sự khác nhau trong cách viết giữa truyện ngắn, truyện dài là những vấn đề lý luận mãi còn nguyên giá trị cả về mặt khoa học và thực tiễn, không những đối với người sáng tác mà cả đối với người tiếp nhận.

 

3. Quan niệm về cốt truyện và nhân vật trong truyện ngắn

Nếu ở tiểu thuyết, yếu tố cốt truyện biến đổi theo quá trình biến đổi quan niệm về thể loại tiểu thuyết thì ở truyện ngắn cũng vậy, yếu tố cốt truyện không phải lúc nào cũng được thừa nhận mà tùy quan niệm, nó có thể có hoặc không. Doãn Quốc Sỹ khi bàn về truyện ngắn cho rằng: “yếu tố chính của truyện ngắn là khai thác phần cốt truyện, dùng hoàn cảnh truyện làm nền để quy mọi hành động nhân vật về một mối”(37). Như vậy trong quan niệm của Doãn Quốc Sỹ, cốt truyện là một yếu tố quan trọng mà người viết truyện ngắn phải chú tâm khai thác. Vì “truyện ngắn có thể khá dài đấy (bốn năm chục trang) nhưng đó phải là câu chuyện kể một hơi, tâm trạng cô đọng, cốt truyện cô đọng. Những tình tiết thiết yếu, ngắn gọn liên tiếp tới với tác dụng soi sáng và đẩy nhanh, đẩy mạnh truyện tới đoạn kết”(38). Cùng quan niệm với Doãn Quốc Sỹ, Tùng Long cũng cho rằng do tính chất cô đọng của truyện ngắn nên trong sáng tạo, nhà văn cần bám chắc cốt truyện để thể hiện ý tưởng của mình “Viết truyện ngắn với một cốt truyện chỉ được gói ghém trong mươi trang giấy, nhà văn phải cô đọng câu chuyện lại thật khéo, gọn gàng, dễ hiểu, không dư một lời, không thừa một ý để đạt được cái mục đích: Đại ý của cốt truyện”(39). Nếu quan niệm của Doãn Quốc Sỹ và Tùng Long, xuất phát từ điểm nhìn của lý luận văn học truyền thống, nên quan tâm nhiều đến yếu tố cốt truyện trong truyện ngắn, thì Bình Nguyên Lộc, từ điểm nhìn của lý luận văn học hiện đại, lại không quan tâm nhiều đến yếu tố cốt truyện, vì theo tác giả: “Tân truyện (truyện ngắn) hoàn toàn không có cốt truyện nào hết (nếu có là vì tình cờ thôi chứ tác giả không có muốn), chi tiết trong tân truyện cũng không được dồi dào lắm như trong truyện dài vì phạm vi hẹp của nó”(40). Đây cũng là quan niệm của Lê Xuyên: “Với một truyện ngắn, ta có thể chỉ đề cập đến một cảm nghĩ, một ý niệm nào đó mà chẳng cần gì phải có một cốt truyện cho có đầu có đuôi hay có một nhân vật rõ rệt nào đó.”(41). Rõ ràng trong quan niệm Bình Nguyên Lộc và Lê Xuyên, truyện ngắn không thể có cốt truyện, hoặc “nếu có” thì cũng không phải là điều người viết quan tâm. Điều cần quan tâm là những ý niệm, tư tưởng, ưu lo của tác giả về nhân sinh được thể hiện trong truyện như thế nào!?.

Như vậy, trong tư duy lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam, quan niệm về cốt truyện của truyện ngắn cũng chưa có sự thống nhất, mà còn đan xen giữa quan niệm lý luận văn học truyền thống và hiện đại. Đây cũng là lẽ bình thường trong sự vận động, phát triển của tư duy lý luận. Tùy theo điểm nhìn nghệ thuật mà các nhà lý luận hình thành quan niệm về thể loại văn học. Vì vậy sự khác biệt trong quan niệm cốt truyện ở truyện ngắn của lý luận phê bình văn học đô thị miền Nam, vẫn còn nguyên giá trị và phù hợp với sự vận động trong quan niệm về thể loại của  tư duy lý luận văn học hiện đại. Bởi quan niệm về thể loại không bao giờ mang tính điển phạm. Truyện ngắn ngày nay, nhất là truyện ngắn hiện đại và hậu hiện đại, hình như yếu tố cốt truyện là một điều rất khó tìm thấy. Song không vì thế, quan niệm cốt truyện trong truyện ngắn là một điều phi thực tế. Vì trong thực tiễn sáng tác, vẫn còn có truyện dù rất ngắn vẫn mang trong bản thân nó yếu tố truyện. Và có lẽ điều người đọc quan tâm ở tác phẩm văn học dù là truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, hay thơ, theo chúng tôi không chỉ có yếu tố cốt truyện mà còn là những quan niệm về nhân sinh của nhà văn được thể hiện trong tác phẩm.

Cùng với cốt truyện, nhân vật cũng là một yếu tố được đề cập đến trong quan niệm về truyện ngắn của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam. Song nếu nhân vật trong tiểu thuyết được các nhà lý luận phê bình dụng tâm nghiên cứu và soi chiếu dưới nhiều điểm nhìn khác nhau, thì nhân vật trong truyện ngắn là một vấn đề ít được bàn đến. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Doãn Quốc Sỹ cho rằng ở truyện ngắn “nhân vật một khi xuất hiện là phải có sắc thái đặc biệt ngay để đập vào sự chú ý của độc giả. Và mọi biến chuyển đều được thuật lại vắn tắt, dồn dập để tranh thủ thời gian”(42). Bởi vì trong truyện ngắn “Khi nhân vật xuất hiện cá tính đã thành tựu, độc giả chỉ còn chăm chăm đợi xem nhân vật đó hành động ra sao để đưa đến chung cuộc”(43). Như vậy, trong quan niệm của Doãn Quốc Sỹ, nhân vật truyện ngắn gần như đã định hình về tính cách. Người đọc chỉ còn xem hành động của nhân vật thể hiện như thế nào để bộc lộ tính cách, không cần phải tìm hiểu sự vận động và phát triển của tính cách đó như nhân vật của truyện dài và tiểu thuyết. Đây cũng là quan niệm của Nguyễn Nghiệp Nhượng: “Nhân vật hay sự vật trong truyện ngắn xuất hiện mà không cần một phụ tùng nào khác. Tôi gọi sự kiện này là sự kiện xuất hiện định mệnh”(44). Đã là định mệnh, người ta chỉ còn biết chấp nhận chứ không thể thay đổi gì cả. Nhưng trong  quan niệm của Thái Tuấn ở truyện ngắn: “nhân vật bị tước bỏ hết mọi chi tiết. Cả đến những hành động cũng vậy. Nặng về phần suy diễn tâm linh cho nên truyện có cái không khí của những giấc mơ”(45). Nghĩa là nhân vật đã được "trừu tượng hóa",  "tâm linh hóa" trong tâm thức của người đọc. Nó không còn cụ thể dù chỉ là trong hình dung của người đọc. Như vậy, quan niệm về nhân vật trong truyện ngắn của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam có điểm gặp gỡ nhau, đó là việc khẳng định sự hiện hữu của nhân vật trong truyện ngắn, một kiểu nhân vật đã định hình về tính cách. Nhưng lại có sự khác nhau ở điểm nhìn về phương thức tồn tại của nhân vật trong truyện ngắn. Quan niệm nầy có những điểm tương đồng với quan niệm của tư duy lý luận hiện nay mà Lại Nguyên Ân đã viết trong Tự điển văn học bộ mới, “Nhân vật truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách trọn vẹn, thường khi là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người”(46).

Với quan niệm truyện ngắn nói trên, lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam đã bước đầu kiến tạo, để thiết lập hệ thống quan niệm về thể loại văn học của mình, từ đó góp phần bổ sung, hoàn thiện vào quá trình vận động trong quan niệm về thể loại văn học của lý luận phê bình văn học dân tộc nói riêng và tư duy lý luận phê bình văn học nói chung trên tiến trình hội nhập với lý luận phê bình hiện đại của thế giới.

 

Chú thích

(1) Bình Nguyên Lộc, Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta, Nxb Sóng 1974, tr.11,

 (2) Doãn Quốc Sỹ, Những truyện ngắn hay của quê hương chúng ta, Nxb Sóng 1974,  tr. 51.

(3) Nguyễn Đông Ngạc,Nhữngtruyện ngắn hay của quê hương chúng ta, Nxb Sóng 1974,tr.263.

(4)Viên Linh, Những truyện ngắn hay của quê hương chúng ta,Nxb Sóng 1974, tr. 694.

(5) (7) (10)Dương Nghiễm Mậu, Những truyện ngắn haycủa quê hương chúng ta,Nxb Sóng, 1974, tr.134, tr.134,tr.135.

(6)Lê Huy Oanh,Văn nghệ số 21, tháng 2/1963, tr.63.

 (8)Triều Đâu, Quan niệm về truyện ngắn, Bách khoa số 65 (15/9/1959), tr.47-48.

(9)Nguyễn Xuân Hoàng, Những truyện ngắn haycủaquê hương chúng ta, Nxb Sóng-1974, tr. 458.

 (11) Nguyễn Thị Hoàng, Những truyện ngắn hay củaquê hương chúng ta, Nxb Sóng-1974, tr.367.

(12)Nguyễn Thụy Long, Những truyện ngắn hay củaquê hương chúng ta, Nxb Sóng-1974, tr.426.

(13) (14)  Nguyễn Đức Sơn, Văn nghệ số 21 tháng 2/1963,tr.66 , tr.66.

 (15) (26)  Nguyễn Quốc Trụ, Văn số 11 ngày 25/6/1974, tr.89, 91.

(16)Dương Nghiễm Mậu, Văn nghệ số 21 tháng 2/1963, tr.67.

(17) Võ Phiến, Văn nghệ số 21 tháng 2/1963, tr.67.

 (18) Vương Trí Nhàn(biên soạn),Sổ tay truyện ngắn, Nxb Hội Nhà Văn,1998, tr.8.

(19) Mai Thảo, Những truyện ngắn hay của quê hương chúng ta, Nxb Sóng-1974, tr. 207-208.

(20) Thảo Trường, Những truyện ngắn hay củaquê hương chúng ta,Nxb Sóng-1974, tr. 557.

(21)Thanh Nam,Những truyện ngắn hay củaquê hương chúng ta, Nxb Sóng-1974, tr.527.

(22) Huỳnh Phan Anh, Những truyện ngắn hay củaquê hương chúng ta, Nxb Sóng-1974, tr.175.

(23) Nhật Tiến, Câu chuyện Văn chương, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1969, tr.86

(24) Duy Lam, Những truyện ngắn hay củaquê hương chúng ta,Nxb Sóng-1974,  tr.89.

(25),(28),(32)Cung Tích Biền, Những truyện ngắn haycủaquê hương chúng ta, Nxb Sóng-1974, tr.32,32,32.

(27) Định Nguyên, Những truyện ngắnhaycủa quê hương chúng ta, Nxb Sóng-1974, tr.152.

(29) Viên Linh, Khởi hành số 26 ra ngày 23/10/1969.

(30) Sơn Nam- Khởi hành số 26 (23/10/69), tr.6.

(31) Nguyên Vũ, Khởi hành số 26 ra ngày 23/10/69, tr.7.

(33) Nguyễn Thụy Long, Khởi hành số 25 ngày 16/10/69, tr.6.

(34) Thảo Trường, Khởi hành số 24 (9/10/69), tr.5.

(35) (41) Lê Xuyên, Khởi hành số 24 (9/10/69), tr.5,5

 (36)Văn Quang,Khởi hành số 25 (16/10/69), tr.6.

 (39) Tùng Long, Khởi hành số 26/23/10/69, tr.7.

(40) Bình Nguyên Lộc, Khởi hành số 24/09/10/1969, tr.4.

(37),(38),(42),(43)  Doãn Quốc Sỹ, Văn học và tiểu thuyết, tr.182,186,186,183.

 (44) Nguyễn Nghiệp Nhượng, Những truyện ngắn haycủaquê hương chúng ta, Nxb Sóng-1974, tr.323.

(45) Thái Tuấn, Nhân vật trong truyện ngắn, Nxb Sáng tạo, 1965, tr.109.

(46) Lại Nguyên Ân, Tự điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới, H, 2004, tr.1847.

 

TÁC PHẨM CỦA TRẦN HOÀI ANH:

>> Tâm thức “trôi” trong thơ Văn Cao

>> Hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn

>> Quan niệm về thơ trong lý luận văn học miền Nam 1954-1975

 

NGHIÊN CỨU- PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC:

>> Tâm thức “trôi” trong thơ Văn Cao

>> Vô sắc trong thơ Trần Hữu Lục

>> Ngô Hương Giang nhìn thơ từ thông diễn học

>> Huỳnh Như Phương ngẫu hứng thơ Trần Xuân An

>> Trần Hữu Dũng- Trí thức Việt thời toàn cầu hoá

>> Viết chân dung văn học cần chân thực

>> Sự thật về Thư gửi Ngô Kha của Trịnh Công Sơn

>> Nguyễn Nguyên Bảy thất vọng về... Bằng Việt

>> Hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh

>> Quan niệm về thơ trong lý luận văn học đô thị miền Nam 1954-75

>> Những tín hiệu vui văn học 8X

>> Khổng Minh từ chính sử đến tiểu thuyết

>> Nguyễn Văn Hạnh khám phá văn chương

>> Trường thơ Loạn- những cái tôi đầy đối cực

>> Hoàng Tuỵ trăn trở về cỗ máy giáo dục già nua

>> Vũ Trọng Quang đọc tạp chí Văn cuối cùng...

>> Cánh hạc và tiếng chuông...

>> Giải mã Hộp đen báo bão của Phan Hoàng

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.