Tin mới Xem thêm

  • Hoàng Hiền - Làng ăn khói

    Tôi về quê vào mùa gặt, xa quê mười mấy năm bây giờ trở lại, mọi thứ đã khác xa những mùa gặt ngày xưa.

  • Phan Thị Thanh Nhàn & Chuyện đàn bà

    Cô Vân và thằng con trai hai tuổi ở trên tầng năm khu tập thể lắp ghép, cả hai bên cầu thang có tới bốn mươi căn hộ. Vân đi làm suốt cả ngày, không biết ai với ai, nhưng khi lên xuống cầu thang, gặp ai cô cũng chào. Với riêng bà Tư còm trông xe máy mà cô phải gửi xe

  • Lê Đại Thanh người thơ, kịch sĩ Tử vì đạo

    Lê Đại Thanh sinh năm 1907 tại Hải Phòng. Năm 1927 - 1932, ông học Trường Bưởi, Hà Nội, ngồi cùng bàn với Nguyễn Gia Trí

  • Nguyễn Như Bá lỡ chuyến bay bóng em vời vợi

    Con đường dài cơn mưa đến lạ/ không dịp này vỡ vụn khát khô/ lỡ chuyến bay bóng em vời vợi/ biệt mù nghe ám ảnh

  • Khi có một người đi khỏi thế gian

    Có thể là buổi sáng khi chúng ta đang uống cà phê, có thể là một buổi chiều khi chúng ta đang trở về ngôi nhà của mình, và có thể một buổi

  • Nguyễn Minh Ngọc & Những con sóng

    Ôi biển ở đây sao giống cái ao làng đến vậy! Câu cảm thán bật ra gần như ngay tức thì khi hai người vừa đặt chân lên bãi cát loang lổ ánh trăng mờ ảo xuyên qua những kẽ lá dừa. Không gian vừa hư vừa thực. Cả hai đều biết mình không còn trẻ nữa. Tuổi đôi mươi đắm say giờ đã lùi xa phía sau lưng họ.

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Trần Thuật Ngữ: Không gian vô biên thời gian vô hạn

13.5.2018-21:30

Nhà thơ Trần Thuật Ngữ

 

Trần Thuật Ngữ:

Không gian vô biên - thời gian vô hạn

 

MAI BÁ ẤN

 

NVTPHCM- Dù xuất hiện sớm và trở thành một trong những cây bút trẻ tiêu biểu trên thi đàn miền Nam trước 1975, nhưng với Trần Thuật Ngữ - người con của đất Long Phụng, Mộ Đức, Quảng Ngãi; tôi xin cam đoan rằng, anh không hề dính dáng đến trường phái nghiên cứu Thi pháp học, nhất là những khái niệm về “Không gian nghệ thuật”, “Thời gian nghệ thuật” khá phức tạp và rắc rối này. Suốt đời làm một thầy giáo dạy văn Trung học cơ sở, nghề nghiệp cũng không đòi hỏi ở anh những vấn đề lý thuyết cao siêu. Còn với người làm thơ, Trần Thuật Ngữ cũng chỉ đơn giản cầm bút viết lên những gì mà cõi lòng mình thúc giục. Vậy mà rồi… đọc thơ Trần Thuật Ngữ, ta cứ bị ám ảnh bởi sự rợn ngợp của không gian bao la và cảm giác lành lạnh trước dòng chảy thời gian vô chung vô thỉ.

 

1. Có lẽ chính vì thế chăng mà tên của cả hai tập thơ anh đều bị chi phối bởi cảm thức về không gian như không thể nào vượt thoát. Hết “Viết dưới trời” lại đến “Viết trong trời” (Viết dưới trời xuân thu - 2010 Viết trong trời nắng hạ - 2017). Cảm thức không gian dường như bàng bạc khắp những bài thơ anh viết:

 

Có phải bao đêm hồn đất khách

Còn đau câu chuyện dưới trời xa

 

(Tây Nguyên hành).

               

Hết nỗi đau ly hương “dưới trời xa” nơi đất khách, anh lại ngửa mặt “trông trời”. Mặt trông trời, nhưng không mở to mắt nhìn trời mà lại tự khép mắt ru người. Đó chính là cách đối diện với không gian bao la trong thế giới nội tâm của một hồn thơ theo kiểu của những thiền sư “Thập niên diện bích”:

 

Qua đây ngửa mặt trông trời

Khép đôi mắt nhỏ ru người trăm năm

 

(Đưa bạn qua Mõ Cày Mộ Đức).

               

Hết “ngửa mặt trông trời”, lại “bơ vơ bên trời” cho “mộng về vây bủa”, để cảm thấy cái “chân trời cũ” cũng tan loãng “trong ngày em bỏ tôi đi”:

 

Bơ vơ mộng bủa bên trời

Chút thương mến cũ đã rời đôi tay

 

(Viết trong ngày em đi).

 

Giữa không gian Tây Nguyên mênh mông, lộng gió, anh cũng không mở toang cửa lòng ra đón gió mà chỉ bồi hồi “lặng nhìn mây trắng” giữa trời cao để gửi lòng theo chút nắng cuối ngày của hoàng hôn dần khép:

 

Quê người ai lặng nhìn mây trắng

Và gửi lòng theo nắng cuối ngày

 

(Tây Nguyên hành).

                 

Ngày đã khép. Đêm trăng về. Anh lại cũng ngồi lặng im dưới không gian vô biên để nâng niu một mối tình thơ của một thời cắp sách:

 

Lặng im dưới bóng trăng tà

Tôi nằm bên phượng ôi da thịt hồng

 

(Phượng).

               

Hết “ngồi dưới trăng”, anh lại hóa thân thành cánh chim trời gục chết “dưới non” trong một “ngày hoang mang ngủ” cho hồn hòa trong “cỏ sương” và xác về với đất:

 

Chim bay về chết dưới non

Ngày hoang mang ngủ xanh hồn cỏ sương

 

(Khi về đất).

 

Theo quan niệm của người Việt, chết là “về” - xác “về với đất” để linh hồn bước sang một thế giới mới. Nắm được quy luật thường hằng đó nên dù có “về với đất”, Trần Thuật Ngữ vẫn không hề bi quan mà nhận thấy “bóng đổ trên cao”, “môi hôn mặt đất” để trả “tuổi mình” cho trần ai và giã từ những nỗi đau trần thế, bước vào một không gian minh minh man man của cõi vĩnh hằng:

 

Nằm đây bóng đổ trên cao

Môi hôn mặt đất mòn đau tuổi mình

 

(Khi về đất).

               

Bước vào “đêm đen” của cả một không gian (nghĩa địa) đen trong cõi u minh, lần cuối cùng, anh cũng xin nghiêng mình cúi chào tạ ơn  “mặt trời” chiều, “cúi chào anh em bằng hữu”:

 

Xin cúi thấp chào mặt trời xuống núi

Đêm bắt đầu đen trên nghiã địa đen

Xin cúi thấp chào anh em bằng hữu

Ngày bắt đầu đen trên trái tim đen

 

(Lời chào một ngày).

               

Con người đến và đi giữa cõi đời này như một lẽ vô thường, thân phận nhỏ nhoi như hạt bụi giữa không gian vô biên trong một chiều lẻ loi ngồi khóc:

 

Lẻ loi tôi khóc trong chiều

Ngực đau tiếng máu đêm khêu ngọn tàn

 

(Phượng).

 

Cả khi nằm ngủ anh vẫn nằm “dưới mưa sương” để nghe cánh “chim bay ngoài mộng” và tiếng ru “lạc” về từ một thời quá vãng:

 

Đêm nay nằm ngủ dưới mưa sương

Em ơi! Chim vẫn bay ngoài mộng

Và tiếng ru xưa lạc cuối vườn

 

(Gửi chiếc lá cây xanh).

               

Với Trần Thuật Ngữ, hình như không gian trần thế “dưới trời” luôn tan hòa trong không gian “địa phủ”. Người trần thế thì “bước lộn dưới mưa” để nghe những trận cuồng phong lạnh ngắt của “hàn âm địa phủ” “thổi cuồng” cả trưa hè trần gian rơi đầy xác phượng:

 

Phượng về bước lộn dưới mưa

Hàn âm địa phủ những trưa thổi cuồng

 

(Phượng).

               

Chính vì lẽ đó, thế giới thơ của Trần Thuật Ngữ là tiếng vọng của không gian hư vô với những “bóng động bên mồ” giữa “bãi hoang sầu dựng”:

               

Ngực đau vết máu êm đềm

Tôi ngồi gõ nhịp bên thềm hư vô

Trăng xao bóng động trên mồ

Bãi hoang sầu dựng bóng cờ thiên thu

 

(Quảng Ngãi sau ngày mưa bão).

               

Dường như cảm nhận được thân phận nhỏ nhoi của con người trước sự phẫn nộ của thiên nhiên trong ngày mưa bão, trước sự tàn phá của cuộc chiến đã qua, nên cho dù đang viết về quê hương cụ thể, Trần Thuật Ngữ vẫn đặt quê hương với tình yêu tha thiết của mình trong một không gian hư không mang tính biểu tượng:

 

Xa quê nhà xa dòng sông mẹ

Yêu một thời mà nợ suốt trăm năm

Tiếng ai hát những rừng xa vọng

Ta phương trời tóc trắng hư không

Xa quê nhà xa chiều Long Phụng

Xa nắng sông Trà xa gió cô thôn

Nơi thường trú suốt những mùa mưa bão

Nơi hoà bình mắt mẹ vẫn cô đơn

 

(Mùa xuân đến tự bao giờ).

               

Không thoát lên tiên, lên mây,… thơ Trần Thuật Ngữ vẫn loanh quanh ở không gian trần thế. Điều đó chứng tỏ anh không thoát ly khỏi, mà luôn say đắm với cuộc đời. Nhưng cuộc đời trong thơ anh, ta hiếm thấy những niềm vui. Hay nói đúng hơn, thì dù nói về niềm vui thanh bình, niềm tin về tương lai của đất nước, quê hương, anh cũng rất kiệm lời. Đó là thứ niềm vui âm thầm và sâu lắng, không quá phô trương, lên gân mà chỉ khiêm tốn với những vần thơ vừa đủ để làm “ấm lên” những ngày đông băng giá:

 

Mai cháu lớn chắc thanh bình trở lại

Những nấm mồ cỏ mọc đã lên xanh

Xóm làng xưa khói cơm chiều bay ấm

Anh em về quanh bếp lửa mùa đông

 

(Bài thơ viết ngày chiến tranh).

               

Mùa xuân trong thơ thường đẹp với bầu trời thanh tân, những sắc hoa rực rỡ cùng muôn sắc áo khoe màu, nhưng với Trần Thuật Ngữ, niềm vui mùa xuân cũng được anh miêu tả và khái quát một cách nhẹ nhàng - một ánh vui nho nhỏ, một cái đẹp khiêm nhường như ánh “mắt trẻ thơ”:

 

Trăng bốn mùa đẹp như mắt trẻ thơ

Mùa xuân đến tự bao giờ 

 

(Mùa xuân đến tự bao giờ)…

 

Sự xuất hiện dày đặc các cụm từ “dưới trời”, “trông trời”, “bên trời”, “dưới bóng trăng tà, “dưới non”, “bóng đổ trên cao”, “mặt trời xuống núi”, “dưới mưa sương”, “dưới mưa”, “trăng xao bóng động”… chính là độ lặp làm nên không-gian-nghệ-thuật của thơ Trần Thuật Ngữ. Đó là một cảm thức không gian trần thế, luôn luôn “ở dưới” không hề vượt lên “phía trên” của những bồng lai tiên cảnh xa vời như ta thường gặp trong thơ ca lãng mạn.

 

2. Đi liền với không gian luôn là cảm thức về thời gian. Đây là một cặp song trùng của bộ môn Thi pháp học. Giữa không gian trần thế “dưới trăng ngà”, Trần Thuật Ngữ đã thả thơ mình theo dòng thời gian trôi man man cho dù đó là một “đêm hôm qua” người đang “say khướt”:

 

Có đêm nào như đêm hôm qua

Hai ta say khướt dưới trăng tà

 

(Tây Nguyên hành).

 

Hết “đêm nào” lại đến “đêm tối nào” báo hiệu bình minh, “mùa xuân nào” mang theo những cơn mưa bạo liệt:

 

Có đêm tối nào không báo hiệu bình minh

Có mùa xuân nào trở về không mang theo dấu vết những cơn mưa tàn bạo

 

(Thư tình mùa xuân).

               

Cùng “những chiều mưa”, “những chiều mưa xanh” thấm đẫm hồn người:

 

Những chiều mưa

Bên sông

Những chiều mưa xanh áo mộng

Những chiều mưa xanh hồn anh

 

(Huyền thoại em và mùa xuân).

               

Dài hơn  nữa, là năm nảo “năm nào” của một thời gian đã thuộc về quá khứ tuổi thơ sánh vai nhau “bóng đổ bóng xuống vai cầu” cùng mùa xuân xưa có sắc hoa “nở đỏ”:

 

Có phải năm nào xưa bên nhau

Ta đi bóng đổ bóng vai cầu …

…Có phải năm nào xưa không em

Mùa xuân hoa nở đỏ bên thềm

 

(Gửi chiếc lá cây xanh).

               

Cảm thức thời gian ám ảnh mãi khiến thơ anh hết “đêm nào” lại đến “chiều nào” rồi đến “hôm nào”. Hết “hôm nào” lại đến “năm nào”, rồi cuối cùng là đến “bao năm”, kéo dài từ thuở “tóc xanh” cho đến lúc “bạc đầu” của đời một con người:

 

Bao năm sương gió sờn vai áo

Đâu biết ngày xanh tóc bạc đầu

 

(Tây Nguyên hành).

               

Đến nỗi ru người, ru em cũng là tiếng ru buồn của một kiếp người ngân trong “ngày tháng muộn phiền”:

 

Ru em ngày tháng muộn phiền

Thân tôi chừ đã trăm miền bán buôn

 

(Khi về đất).

               

Cứ như vậy, dòng thời gian trôi qua thơ Trần Thuật Ngữ với bao biến động của cuộc đời “bồi, lở, đợi, trông”, qua suốt bốn mùa “xuân, hạ, thu, đông”. Nhưng nhà thơ tiệt nhiên không “chạy quanh” theo những “biến động” cuộc đời mà chỉ ngồi nhìn “chiếc bóng” cô đơn của chính mình “chạy quanh” cuộc đời “biến động” để rồi im lặng nhìn thời gian trôi, để nghiệm ra quy luật một đời người, lẽ vô thường của một kiếp người.

 

Tương tự như không gian, thời-gian-nghệ-thuật trong thơ Trần Thuật Ngữ cũng được anh nhìn nhận ở phía chiều sâu của cảm thức. Anh không miêu tả bề mặt ồn ào, sôi nổi của thời gian mà luôn gắn cái trôi của dòng thời gian với sự cảm nhận của chính nội tâm sâu lắng riêng mình cho dù đó có thể là một “chiều xuân” ngồi “uống rượu trên đồi”. Rượu tết lẽ ra phải thường uống cùng người thân và bạn hữu, nhưng không, hình như trong tâm trạng anh chỉ có riêng anh tự mời mình và tự mời hoa cỏ mùa xuân:

 

Chiều xuân uống rượu trên đồi

Chén mừng hoa cỏ chén mời riêng ta

 

(Chiều xuân uống rượu trên đồi).

               

Chính cảm thức như vậy khiến thời gian trong thơ Trần Thuật Ngữ cứ “đi qua”, “trôi qua” “bay qua” mà ít khi dừng lại. Có chậm lắm thì cũng là “đi qua”, “về qua”:

 

Mưa chiều phố cũ đi qua

Người đâu lạ mặt gọi ta là mình

 

(Về Thu Xà viếng Bích Khê).

 

Nhanh hơn chút nữa là “mây qua”:

 

Chiều đồng nội ngóng mây qua

Lắng trong sương đục hồn ta gọi người

 

(Viết trong ngày em đi).

               

Nhanh hơn nữa là “bay qua”. Đầu tiên là “thả nắng bay qua” giữa kiếp người long đong, sầu muộn:

 

Nghiêng lòng thả nắng bay qua

Long đong phận nhỏ bao la giấc sầu

 

(Khi về đất).

               

Nhanh nhất là thời gian “như chim bay” để “thả bay tóc nhớ”:

 

Vườn hoang động giấc chim bay

Ngày thê thiết ngủ đêm dài tiếng than

Xuống rừng đứng ngó về non

Thả bay tóc nhớ xanh hồn cỏ cây

 

(Viết trong ngày em đi).

 

Hay:

 

Chim bay về núi đứng vỗ cánh mừng

Đầu đông cuối hạ khô cánh hư không

Và con nước rộng cuốn theo bụi hồng

 

(Thánh địa).

               

Đành rằng, trong không gian bao la và thời gian mênh mang của thơ Trần Thuật Ngữ có những “hồn cỏ cây xanh” của cuộc đời, có tiếng chim “vỗ cánh mừng” giữa hoàng hôn khi “bay về núi”. Nhưng những vang động ấy không đủ sức làm vui lại “tiếng than trong đêm dài” giữa một “hư không khô rã” cuốn bay trong “bụi hồng” trần thế.

 

3. Có thể nói rằng: thơ Trần Thuật Ngữ hướng nội hơn là hướng ngoại, âm thầm nhiều hơn rộn rã, buồn nhiều hơn vui, cô đơn nhiều hơn tụ hội. Đọc thơ anh, hiển hiện trong ta là một dáng ngồi cô độc để tự ngẫm về lẽ nhân sinh giữa không gian vô biên và thời gian vô hạn… Nhưng thôi, nói như nhà thơ Hoàng Vũ Thuật là “Không ai được quyền tước đi nỗi buồn của thơ”.

 

Cuộc đời còn lắm nỗi buồn, nhìn nhận được nỗi buồn để phản ánh qua thơ cũng là liều thuốc để con người thanh lọc lòng mình, hướng tới nhiều hơn những niềm vui trần thế. Chỉ có điều bâng khuâng này: Nếu Trần Thuật Ngữ tự thoát bớt cái “âm tính - hướng nội” vào lòng mình để làm phép quân bình với “dương tính - hướng ngoại” ra cuộc đời đang náo động thì ngòi bút anh sẽ khỏe khoắn hơn lên, thơ anh sẽ đa dạng hơn trong đề tài và phạm vi phản ánh. Tôi nói điều này để nhằm lý giải nguyên nhân vì sao Trần Thuật Ngữ sinh năm Bính Tuất (1946), bắt đầu làm thơ và nổi tiếng từ trước 1975, nhưng đến nay, khi đã bước sang tuổi “cổ lai hi”, anh vẫn chỉ vẻn vẹn trình làng hai tập thơ với khoảng trên dưới 60 bài thơ ngắn.

 

Tất nhiên, giá trị thi ca không nhất thiết phải là số lượng. Nhưng, cũng như công việc đãi vàng, khi lượng quặng nhiều thì sẽ giúp ta thanh lọc được nhiều vàng ròng hơn từ kho quặng ấy. Và có thể nói, đây chính là nững cụm-thơ-vàng mà tôi đã chắt lọc ra từ 60 bài thơ anh viết - Những cụm-thơ đầy tính khái quát và trở thành những biểu tượng ám ảnh trong lòng người đọc: “Trái hạnh phúc câm”, “Ngày hoang mang ngủ”, “Nghe lau lách mọc”, “ngồi gõ nhịp bên thềm hư vô”, “Bãi hoang sầu dựng”, “Chim bay ngoài mộng”, “tiếng ru…lạc cuối vườn”, “Lẻ loi mưa rụng”, “mưa xanh áo mộng”, “con ngựa chứng giữa đôi bờ”, “Đêm… đen trên nghiã địa đen”, “Uống trái sương mù”…

 

 

TIN LIÊN QUAN:

 

>> Văn học và văn học hiện thời qua một góc nhìn - Nguyễn Bình Phương

>> “Trì biệt” trong Bóng chữ của Lê Đạt - Lê Huy Bắc

>> Thi ca Việt Nam qua những miền kinh tuyến - Khuất Bình Nguyên

>> Con đường của nhà văn - Diêm Liên Khoa

>> Thân phận con người trong thơ Nguyễn Vỹ - Cao Thị Hồng

>> Dấu ấn dân gian trong truyện thiếu nhi Phan Thị Thanh Nhàn - Mộc Miên

>> Những thay đổi trong quan niệm giá trị về văn học đại chúng - Tịnh Thy

>> Nguyễn Bính và nhân vật trữ tình Em - Nguyễn Thị Minh Thái

>> Gặp gỡ cuối năm và những đối thoại… - Nguyễn Thị Quất

 

  

>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC... 

  

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.