Tin mới Xem thêm

  • Khái lược văn học Nga “thế kỉ bạc”

    Trong tất cả các nền văn học nước ngoài có ảnh hưởng tới văn học Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới văn học Nga

  • Đỗ Thượng Thế phía đàn chim gọi bầy

    Vẫn hồn cốt quê hương đất Quảng, vẫn tinh thần văn hoá xứ Quảng, nhưng thơ Đỗ Thượng Thế mang lại một giọng điệu mới, gần gũi mà khác lạ, đắm say mà tinh lọc trong một dòng chảy xúc cảm ngôn ngữ hiện đại giàu cá tính. Ngoài tài năng thi ca, Đỗ Thượng Thế còn cho thấy sự lao động

  • Bùi Nguyễn Trường Kiên hỗ trợ đồng đội bằng...

    Nhân cuộc ra mắt tập thơ Cỏ ơi…!, nhà thơ Bùi Nguyễn Trường Kiên đã tổ chức gây Quỹ Tương trợ đồng đội và Quỹ Học bổng

  • Tiếng Việt... rắc rối?

    Tiếng Việt nhiều khi rắc rối, mà rắc rối trước tiên đó là chính tả. Một tác phẩm văn thơ thường hay bị soi mói cái rắc rối đó trước tiên, rồi từ suy luận, người ta nhanh chóng chuyển thành suy diễn để nhận xét cả một tác phẩm

  • Cú sốc BOT

    Con đường về quê của tôi bao năm phải đi qua một trạm thu phí BOT “đặt nhầm chỗ”. Đó là Trạm Tào Xuyên, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa

  • Lê Thanh Vy tâm còn khổ thì tài đâu có chỗ

    Có những tình yêu chưa kịp bắt đầu/ Đã kết thúc/ Vì chúng ta đang sống trong một thế giới rất nhiều lý thuyết

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Triết lý Tarot và Truyện Kiều - Kỳ 2

19.10.2016-23:58

 Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu

 

>> Triết lý Tarot và Truyện Kiều - Kỳ 1

 

Triết lý Tarot và Truyện Kiều:
từ ngây thơ đến thế giới

Kỳ 2

 

NHẬT CHIÊU

 

NVTPHCM- Ở phương Tây, bài Tarot là một hệ thống hình ảnh mang tính tượng trưng, ban đầu là một trò chơi, sau đó được người ta sử dụng như một công cụ bói toán để khám phá, suy tư về cuộc đời, thế giới tâm hồn của con người. Hiện nay Tarot vẫn đang rất phổ biến trên thế giới, nhưng ở Việt Nam còn chưa nhiều người biết đến, nhất là biết đến Tarot với tư cách là một cẩm nang chứa đựng triết lý về con người và cuộc đời của phương Tây, chứ không phải đơn thuần chỉ là một trò chơi hay công cụ bói toán. Lần này nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã kết hợp giới thiệu triết lý Tarot trong sự đối chiếu với Truyện Kiều. Đây vừa là một cách tiếp cận Tarot độc đáo, đồng thời cũng vừa là một khám phá đặc biệt trong cách nghiền ngẫm Truyện Kiều.

 

Lá 11: Công chính (Justice)

 

Cả thanh gươm giơ cao và cán cân nằm trong thế quân bình kia đều về chuyện thực thi công lý. Và công lý là cái cần thực thi, không cần nói.

 

Từ rằng: Ân oán hai bên

Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh

Nàng rằng: Muôn cậy uy linh

Hãy xin báo đáp ân tình cho phu

Báo ân rồi sẽ trả thù

Từ rằng: Việc ấy để cho mặc nàng (c.2324)

 

Tất nhiên, công lý không chỉ là chuyện ân oán hay luật pháp. Đó còn là tìm kiếm cái quân bình (balance) trong tâm hồn, trong cách tiếp cận những xôn xao và náo loạn nơi cõi người ta. Đó là trung dung.

 

Lá 12: Treo ngược (Hanged man)

 

Đó là một người đang treo ngược. Nhưng quanh đầu rạng ngời hào quang, hai cánh tay chắp sau lưng và một chân thì co lại ung dung. Tư thế lạ lùng này cho thấy một hành giả đang hành xử ngược đời, đang nhìn sự vật bằng con mắt khác biệt, độc sáng.

 

Thực ra, trong mắt người đời, anh bị lật ngược. Những kẻ nổi loạn, phản kháng thường bị nhìn như thế và sẽ bị xử tử theo cách mà người ta nhìn thấy.

 

 Như đối với nhân vật Từ Hải:

 

Đòng thu như xối cơn sầu

Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên

Lạ thay oan khí tương triền

Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra (c.2536)

Cuối cùng, cũng chỉ có họ (Kiều và Từ Hải) là vấn vít oan khí với nhau.

 

Lá 13: Chết (Death)

 

Ai chết đó? Tất nhiên là đời sống vượt lên bằng những cái chết cá thể. Nhưng ý nghĩa của lá bài này là có một cái gì đó (công việc, mối tình, một giai đoạn, một xung đột…) đang kết thúc. Sau đó là một cơ hội mới đang mở ra.

 

Từ Hải chết. một giai đoạn mới trong đời Kiều đang mở ra. Nàng tự trầm nhưng phục sinh.

 

 - Trông vời con nước mênh mông

Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang (c.2636)

 

- Giác Duyên nhìn thật mặt nàng

Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai (c.2710)

 

- Nạn xưa trút sạch làu làu (c.2737)

Cái xưa cũ đã chết. Con người phục sinh.

 

Lá 14: Dung hợp (Temperance)

 

Một thiên thần cầm hai chén nước (hoặc chén lửa và nước) mà rót vào nhau để pha thành một hợp chất mới theo cách mà một nhà hóa kim thuật thần diệu có thể làm hoặc như một họa sĩ thiên tài đang pha màu.

 

Dung hợp những yếu tố khác biệt, thậm chí đối nghịch chính là Nghệ thuật sống, chính vì thế lá bài này được gọi là Art trong bộ Tarot của Crowley.

 

Trong khi lá 11 Công chính thể hiện tính chất quân bình trung dung thì ở đây ta có tinh thần dung hợp, hòa điệu (integration, harmony).

 

Một tinh thần như vậy ứng với nhân vật Tam Hợp đạo cô, người mà Kiều chưa từng gặp bao giờ nhưng lại chịu ảnh hưởng sâu đậm qua lời kể của Giác Duyên.

 

 Tư tưởng của Tam Hợp đạo cô, mà có thể là của chính Nguyễn Du, dung hợp cả Nho, Phật, Đạo và từ đó chuyển hóa những Phúc và Họa, những Tình và Tu, những Tài và Mệnh… vào một chữ TÂM (lòng người):

 

Sư rằng: Phúc họa đạo trời

Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra

Có trời mà cũng tại ta (c.2657)

 

Có những hoàn cảnh mà ta bị ném vào (trời) nhưng quan trọng vẫn là cách mà ta ứng xử, tương tác để sáng tạo nên màu sắc của chính ta.

 

Lá 15: Ma quỷ (Devil)

 

Ma quỷ thường “mọc” trong lòng ta. Thế nên lá bài này còn được gọi là Cám dỗ (Temptation). Nhưng đam mê không hẳn là xấu. Chỉ là không nên để cho tâm mình bị ràng buộc hệ lụy khiến cho tinh thần dung hợp ở lá trước không thể hiện thành.

 

Lại mang lấy một chữ tình

Khư khư mình buộc lấy mình vào trong

Vậy nên những chốn thong dong

Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng

Ma đưa lối, quỷ đưa đường

Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi (c.2665)

 

 Đam mê nếu có thể kết hợp với linh hứng thì đời sống có thể chuyển hóa:

 

Chàng rằng: Phổ ấy tay nào

Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?

Tẻ vui bởi tại lòng này (c.3209)

 

Ma quỷ thảm sầu đã phải bay đi.

 

Lá 16: Lầu tháp (Tower)

 

Tia chớp đánh tan lầu tháp. Không còn tháp ngà để ẩn trú, con người bị đánh bật đi và rơi như lá trong giông tố.

 

Đây là lá bài của đổ vỡ (breakup).

 

Kiều đã rơi từ các “lầu tháp” sau đây:

 

- Lầu trang: Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang (c.630)

- Lầu Ngưng Bích: Cũng liều nhắm mắt đưa chân/ Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu/ Cùng nhau lẻn bước xuống lầu (c.1117)

 

 - Lầu thư: Bước vào chốn cũ lầu thư/ Tro than một đống, nắng mưa bốn tường (c.1672)

- Quan Âm các: Phận bèo bao quản nước sa/ Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh (c.2020)

 

- Chiêu Ẩn am: Nghĩ mình túng đất sẩy chân (c.2115)

- Thành trì: Tin lời thành hạ yêu minh (c.2503)

 

- Cửa bồng: Kiều từ gieo xuống duềnh ngân/ Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi (c.2704)

 

Bảy lần rơi như vậy có thể nói là rơi tận đáy sâu của đau thương, vậy mà Kiều vẫn vươn dậy như một con người có tâm.

 

Lá 17: Sao (Star)

 

Chính ánh sao của niềm hy vọng đã dẫn con người bước tới, những người như Kiều. Một kiều nữ khỏa thân (không màng vật chất) đang đổ hai vò nước xuống đất và xuống hồ, tượng trưng cho Cho và Nhận, mang ý nghĩa tâm linh sâu thẳm.

 

Nhờ ánh sao này mà con người mới có thể tìm thấy nhau qua bao nhiêu loạn lạc. Vì có trời cũng như có đất:

 

Một lời đã trót thâm giao

Dưới dày có đất, trên cao có trời

Dẫu rằng vật đổi sao dời

Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh (c.3088)

 

Lá 18: Trăng (Moon)

 

Đây là lá bài của ảo vọng (illusion), khác với lá trước. Vầng trăng mọc giữa hai tòa tháp, chẳng biết tháp nào tốt xấu thực hư. Dưới trăng, chó thì sủa, tôm thì ngoi lên bờ như dấu hiệu của hoang mang lầm lạc.

Há không thấy vầng trăng tròn và sáng kia?

 

Nó sẽ khuyết và tối tăm, phải không?

 

Bấy chầy gió táp mưa sa

Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn (c.3100).

 

Lá 19: Mặt trời (Sun)

 

Với ánh sáng rạng ngời soi chiếu cỏ hoa và bé thơ cưỡi ngựa bạch, lá Mặt trời được xem là lá bài tốt nhất của Tarot (the best card in tarot).

 

- Chuyện trò chưa cạn tóc tơ

Gà đà gáy sáng, trời vừa rạng đông (c.9216)

- Ba sinh đã phỉ mười nguyền

Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy (c.3226)

 

 Cuối cùng, Kiều cũng chinh phục được hạnh phúc. Bởi vì nàng luôn nghĩ đến hạnh phúc của người khác trong bao dung.

 

Lá 20: Nghiệp duyên (Judgment, Karma)

 

Hình ảnh của phán xử khi thiên thần thổi hồi kèn vang dội từ trên mây cao và người chết đội mồ lên chầu. Nhưng ý nghĩa của nó thì sâu xa hơn.

 

Đây là lá bài của sinh tử, Karma và luân hồi. Nói tắt, đây là lá bài của Nghiệp duyên (Karma card).

Hãy nhận lấy những gì đời sống mang đến và thường xuyên tạo ra những cơ hội tốt lành (nhận nghiệp và tạo duyên) bằng thái độ lịch lãm bao dung và như Kiều nói, “gạn đục khơi trong”. Hoặc như Tam Hợp đạo cô:

 

Sư rằng: Song chẳng hề chi

Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều (c.2680)

 

 Đó là Tam Hợp nhắc đến nàng Kiều. Cần nhắc lại, Kiều tưởng như đã chết sẽ sống lại và tương phùng với những điều thân yêu. Trong chính lời Kiều:

 

Nàng rằng: Chút phận hoa rơi

Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay

Tính rằng mặt nước chân mây

Lòng nào còn tưởng có rày nữa không?

Được rày tái thế tương phùng

Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay (c.3040)

 

Sau mười lăm năm, Kiều lại bình an nhưng là một niềm bình an không ảo tưởng mà đầy hiểu biết:

 

Những từ sen ngó đào tơ

Mười lăm năm, mới bây giờ là đây

Tình duyên ấy, hợp tan này

Bi hoan mấy nỗi, đêm chầy trăng cao (c.3140).

 

Lá 21: Thế giới (World)

 

 Một người nữ mình trần, đội vòng nguyệt quế, nhảy múa với hai cây gậy nhỏ trong không gian kết hoa và bốn biểu tượng: quyền lực tâm linh (thiên thần), cái nhìn toàn cảnh (đại bàng), trí tuệ (sư tử) và sức mạnh (bò tót).

 

Đó là thế giới như khải hoàn môn mà ta bước vào để nhảy múa, chúc mừng thành tựu của chính ta khi tâm ta là Thế giới.

 

Trong vài cỗ bài xưa, hình ảnh trong lá Thế giới là con người lưỡng tính (hermaphrodite) thể hiện cả nam tính và nữ tính trong nguyên hợp của vũ điệu âm dương.

 

Ở đây ta mở rộng chân trời, giải lãnh thổ, có cái nhìn toàn cảnh và cảm thức vũ trụ. Lá cuối cùng này của Đại cẩm nang còn mang tên là Vũ trụ (Universe).

 

Để thể hiện cái nhìn đó ở Truyện Kiều, ta thử kết hợp những câu thơ nằm xa nhau vào một cuộc chơi mới của tư tưởng Nguyễn Du về thế giới, về cõi người ta:

 

Trăm năm tính cuộc vuông tròn

Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông

Thoa này bắt được hư không

Khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần

Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Nỉ non đêm ngắn tình dài

Mua vui cũng được một vài trống canh.

 

Chính Tâm đã sáng tạo ra Thế giới. Để làm gì? Để làm gì vũ điệu mê hồn này? Để vui, thế thôi.

 

 

>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC... 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.