Tin mới Xem thêm

  • Về cuộc họp Ban Chấp hành Hội giữa năm 2018

    Ngày 5.7.2018, Ban Chấp hành Hội đã tiến hành phiên họp thường kỳ với sự có mặt của 7 thành viên: Trần Văn Tuấn, Phạm Sỹ Sáu, Phan Hoàng, Bích Ngân, Trầm Hương, Lê Thị Kim, Phan Trung Thành

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố để đi chỗ khác chơi vì

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

  • Nguyễn Quang Sáng cánh chim sếu đầu đỏ

    Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Văn Nguyên Lương với những vần thơ đẫm nước mắt

18.01.2018-22:30

Nhà thơ trẻ Văn Nguyên Lương (ngoài cùng bên phải)

Hội viên mới Hội Nhà văn TP.HCM 2017

 

Văn Nguyên Lương

với những vần thơ đẫm nước mắt tình người

 

PHÙNG HIỆU

 

NVTPHCM- Văn Nguyên Lương tên thật Nguyễn Văn Lương, sinh năm 1986 ở Quảng Ngãi, tốt nghiệp khoa toán Trường Đại học Sư phạm. Hiện dạy học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đại biểu tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IV.

 

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông. Tuổi thơ của anh khá nhiều biến động, cuộc sống đói nghèo đã mang ba mẹ anh vào Nam tìm cuộc  mưu sinh. Rồi các anh, chị cũng lần lượt xa quê để tìm đến những miền đất hứa của riêng mình. Quê nghèo, còn lại mình anh với những mùa nắng gió cút côi, với sự trống vắng trong căn trong căn nhà đơn sơ, quạnh quẽ. Mùi bùn đất quê hương, mùi rạ rơm, khói bếp quyện vào tâm hồn thơ trẻ, loang dần ra từng thớ thịt để thở ra những điệu buồn miên man…

 

Chính vì thế, nên anh cảm nhận được sự sâu sắc, sự gian lao và bao nỗi lo toan của người nông dân chân lấm tay bùn mà có tấm lòng chân chất nơi quê mình qua những tháng năm  bão bùng, nắng gió. Những bài thơ anh viết thấm đẫm nước mắt, đau thương, dằn vặt, và nó như ngọn sóng vỗ mạnh vào bờ xúc cảm của mỗi độc giả. Dường như họ được gặp lại chính mình trong chuỗi hình ảnh gian khổ năm nào:

 

“Gió gảy đàn trong mây mù bão tố

Mẹ vào bếp dột mưa

Mắt đẫm sương ấm bùng ngọn lửa

Cha nhẻm đen cõng từng lọn củi

Bữa vỡ lòng tôi được nửa củ khoai

 

Tôi lớn khôn từ mồ hôi muối mặn của cha

Đi dọc biển đời từ nước mắt âm thầm của mẹ

Nước mắt mồ hôi sinh thành

Cộng lại dáng hình tôi…

 

Dòng sông Thoa như đời mẹ vẫn lặng lẽ tảo tần

Ngọn núi Đồi bóng cha che chắn con đường chông gai

Tôi vươn vai bước…”

 

                                     (Nơi tôi sinh ra)

 

“Dòng sông Thoa” hay “ngọn núi Đồi” trong thơ anh chỉ là hình ảnh quen thuộc của làng quê nông thôn Việt Nam gắn với bao hoài niệm đẹp, nó được ví von như sự khổ nhọc của “công cha nghĩa mẹ cao dày”. Ta còn nhận ra sự thèm khát biết bao hơi ấm mẹ hiền, chiều chiều anh vẫn thường ra đầu ngõ đợi mẹ đi làm về trong vô thức. Để rồi cất lên những nấc nghẹn khi nhận ra mẹ đã như thân cò lặn lội vì miếng ăn giấc ngủ của bầy con thơ như trong đoạn hoài niệm của anh trong bài “Hoa khế”:

 

“Giữa miền tha hương

Cánh tim tím xoay vòng thương nhớ

Hoa khế nhà ai,

Vỡ òa kỷ niệm…

Một mình…

Sót ngọn gió xuân

Cánh cửa thần kì chợt mở

Bắt gặp tiếng cười giòn

Rạo rực cõi thần tiên

 

Một sáng mai,

Thơm lừng hương cỏ dại

Đàn trâu thủng thẳng tiệc mừng

Xa xa đất ải ruộng cày

Ngọn gió quê mát rượi

Tiếng gọi nhau í ới

Chị em dặm lúa trên đồng

Có ai về,

Buộc giùm tôi nỗi nhớ?

Những chiều đợi mẹ phương xa…

Con dế than ngồi khóc

Chùm hoa khế ủ hương

Cánh nhỏ

rơi rơi

Chạm ánh mắt

buồn…”

 

Văn Nguyên Lương yêu văn chương, anh xem đấy như một công việc lao động sáng tạo bằng những nguồn cảm hứng vô tận. Đến với thơ anh như  gắn vào mình một trách nhiệm cao cả của đời người sáng tác trong đời sống hiện thực nhưng chứa đầy sự hoài bão, ước mơ, hy vọng. Từ đó, qua thơ, anh trải lòng bằng những dòng xúc cảm mênh mang trên mỗi bước đời chông chênh, khúc khuỷu:

 

“Một chiếc lá,

Rơi vào biển tâm tư

Khẽ khàng,

Dội lên con sóng…

 

Sự đời nhiều khi

Như bức tranh “vân cẩu”

Con trâu lầm lụi tháng ngày

Chiếc cọc như mẹ chồng khó tính

 

Ngọn gió xuân vẫn thổi

Vô tình hay cố ý

Mang tiếng khóc xác ve non

 

Ai hiểu?

Con ễnh ương khóc giữa mùa xuân!

Mà khoé mi hình hài cá sấu.

Hoa nở trái mùa cho gió đông vùi dập,

Ánh trăng vừa loé tối ba mươi…

 

Mặc đời,

Cố chấp

Như kẻ lữ hành

Ta bước giữa chợ đời

Chông chênh…”

 

                  (Chông chênh)

 

Với Văn Nguyên Lương, văn chương không phải là trò xiếc chữ. Anh chỉ mượn tạm con chữ để viết nên những bản ký âm xúc cảm. Mỗi bài thơ là một câu chuyện đời được anh cô đọng lại từ nước mắt cùng nỗi niềm thương cảm cho người và cả chính anh:

 

“Giữa phố phường tấp nập

Một dáng gầy mong manh

Em mời tôi vé số…

 

Ôi tuổi thơ dại khờ

Tay em không cặp sách,

Chân em không đến trường!

 

Giữa trường đời bụi bặm

Em bán tuổi ngọc ngà

Tôi nào khác chi em

Đi bán từng con chữ

Mua cho mình chút lẻ loi…

 

Góc khuất xa em ngồi

Đếm mềm từng con số

Số nào cho đời em

Và cả đời tôi nữa?

 

Tôi muốn mua thật nhiều

Nhưng chiều nay không thể

Giấu đi dòng lệ rơi

 

Khóc cho em hay khóc cho tôi,

Mà lệ hồn câm điếng?”

 

   (Khóc cho em hay khóc cho tôi)

 

Hay:

 

“Mưa hỡi mưa,

Xin dừng mưa ơi!

Xấp vé số trên tay cụ già nhàu ướt

Biết còn bán được chiều nay?

Bữa cơm nghèo rau hẩm…

 

Bất chợt vài hạt rơi

Như nước mắt

Khóc thương mái phố

Không che nổi cụ già

Không che nổi,

Những cảnh đời dột nát

Nên mưa nhân từ

Rơi

Cho cây lá

             lên xanh…”

 

                 (Mưa)

 

Hai tập thơ “Sóng chữ sông quê” và “Bước đêm đợi nắng lên” do NXB Hội Nhà Văn ấn hành trong quý III và quý IV năm 2017 như khái quát cuộc sống và ánh nhìn của Văn Nguyên Lương đến thời điểm hiện tại. Thơ anh chân thành,  nhưng ý tứ khá mới mẻ, ngôn ngữ nhẹ nhàng và uyển chuyển. Đọc 2 tập thơ anh, ta có thể nhận ra sự kế tục đào sâu ngôn ngữ qua những dung từ mà anh đã sử dụng trong tác phẩm đã tạo nên một một con đường riêng, kết hợp giữa cổ điển và hiện đại khiến độc giả có cảm giác gần gũi, thân quen nhưng không hề nhàm chán. Chúc anh sớm tìm thấy ánh nắng thi ca huyền diệu như mong ước của anh “Bước đêm đợi nắng lên”.

 

 

TIN LIÊN QUAN:

 

>> Tết này anh có về không? - Nguyễn Đình San

>> Tiểu thuyết vẫn đặt ra những câu hỏi lớn nhất cho nhân loại - Nguyễn Chí Hoan

>> Quyền của Thời Gian - Lê Thị Thanh Tâm

>> Nguyễn Cường - Chỉ mình tôi ngồi với tôi thôi - Nguyễn Minh Khiêm

>> Thơ sinh ra để nói về niềm hy vọng của con người - Văn Giá

>> Tự mình đẩy mình lên mênh mông - Đặng Huy Giang

>> Thơ của... nhà văn - Hồng Diệu

>> Ánh sáng và bóng tối trong Đêm trinh của Nguyễn Vỹ - Nhật Chiêu

>> Thơ ca, nghệ thuật và tính nhân văn tôn giáo - Hồ Sĩ Vịnh

>> Có loại thơ đa thanh như thế - Vương Trọng

>> Phê bình văn học “cũng lắm công phu”… - Hồng Diệu

>> Khai ngộ với thiên nhiên: Bashô và Octavio Paz - Nhật Chiêu

 

  

>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC...

 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.