Tin mới Xem thêm

  • Chuyện thật như đùa

    Cách nay gần nửa thế kỷ, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Aziz Nesin đã làm rung chuyển văn đàn Việt Nam với tuyển tập truyện trào phúng “Những người thích đùa” với lối viết hóm hỉnh nhưng đau thấu tận xương về đời người, về thời đại, về nhân tình thế thái.

  • Lương Minh Cừ & tiếng vó ngựa gõ vào...

    Mường Lào, em múa lăm-vông/ Ngàn năm vũ điệu vẫn không nhạt nhòa/ Nên anh tìm mãi không ra/ Nàng tiên nữ - giữa ngàn hoa

  • Cấp phép cho Quốc ca

    “Tâm tư của tôi cái gì luật không cấm thì phải cho xã hội, người dân làm” - nguyên bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường từng nói tại

  • Nguyễn Ngọc Ký trời xe mấy sợi chỉ hồng mà...

    Bị liệt hai tay từ nhỏ, Nguyễn Ngọc Ký đã dùng chân để viết chữ, để vượt lên số phận nghiệt ngã và trở thành một tấm gương

  • Biến đổi không gian làng: Người già và nỗi...

    Không gian chung của làng hầu như không còn nữa. Chúng đã biến thành không gian thương mại, không gian cư trú, không gian cá nhân. Ngay cả đình làng cũng “cổng đóng, then cài”, chỉ mở năm đôi ba lần khi ngày hội. Chùa thì ngày càng đầy ắp những lễ vật, những lời than khấn xin tài lộc, cầu tình duyên, mua danh phận.

  • Ước là người đến sau, sau thật sau

    Tác giả Nguyên Trân đã cho trình làng hai tập thơ: Cỏ không tên vào cuối 2015 và Thinh hương vào năm 2016 khá dày dặn gồm 80 bài

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Vành tang núi của Trịnh Công Lộc

18.02.2017-23:30

 Nhà thơ Trịnh Công Lộc

 

Vành tang núi của Trịnh Công Lộc

 

ĐẶNG HUY GIANG

 

NVTPHCM- Đến “Vành tang núi”, chất một mất một còn của cuộc “đối đầu chiến địa” được Trịnh Công Lộc khai thác triệt để. Có cảm giác: Đạn không chỉ bắn vào núi ở Vị Xuyên, bắn vào lãnh thổ Việt Nam, mà còn bắn vào lòng ông…

 

VÀNH TANG NÚI

 

Chưa thấy ở đâu

Đạn bắn vào đến nỗi

Đá chín thành vôi

Thanh Thuỷ “Lò vôi thế kỷ”

 

Chưa ở đâu

Khoanh núi kia nhỏ hẹp thế này

Một dãy núi bản xa

           chênh vênh hai bờ ranh giới

Đá núi lô nhô, đèo đọt

Lối mòn gầy gộc lắt leo

Sương sớm tan mau

Nắng chiều vội tắt

Giấc ngủ dài hơn trăm quăng dao

Dài hơn điểm cao 1509

Dài hơn Thanh Tân, Thanh Thuỷ …

 

Chẳng ai nghĩ đến ngày súng nổ

Đạn réo qua đầu, còn ngỡ

Khi pháo đạn gầm lên dội lửa

24 tiếng / mỗi ngày ,

                  mỗi giây không nghỉ

30 ngày / mỗi tháng không ngơi

Mới rõ hết sự tình

Núi - không thể hất đi!

 

Không ai nghĩ

                 mười năm

                 thành đối đầu chiến địa

Đá vụn sống lưng.

                     Thấy đá, không thấy cỏ

                     Thấy máu,không thấy người

 

Thanh thuỷ “Lò vôi thế kỷ”

Vôi - vành tang núi

Trắng lên trời!

 

Tháng 7.2016

TRỊNH CÔNG LỘC

 

 

Lời bình của Đặng Huy Giang:         

    

Có một lần Festival thơ Quốc tế diễn ra ở Quảng Ninh, tôi và một số nhà thơ nữa có dịp đến “đại bản doanh” của Trịnh Công Lộc. Thời điểm ấy, ông đang tại chức, là Trưởng ban Quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh. Ông hào hứng bật băng cho chúng tôi nghe ca khúc “Mộ gió” (nhạc: Vũ Thiết, lời: Trịnh Công Lộc) vừa mới “ra lò” không lâu. Chúng tôi thực sự xúc động. Riêng tôi nghe xong mà lặng người đi. Riêng hai câu: Chạm vào gió như chạm vào da thịt/ Chạm vào buốt nhói Hoàng Sa đã gần như đóng đinh vào trí não của tôi.

      

Rồi cũng chẳng lâu la gì. Cuối năm 2011, bài thơ “Mộ gió” của Trịnh Công Lộc ăn giải kép: Giải nhì về thơ và giải nhì về ca khúc (cùng với nhạc sĩ Vũ Thiết) trong cuộc thi thơ và nhạc toàn quốc mang tên “Đây biển Việt Nam” do Hội Nhà văn, Hội Nhạc sĩ Việt nam cùng báo Vietnamnet tổ chức. Riêng giải nhì về ca khúc không có giải nhất và cái tên “Mộ gió” được đổi thành “Khúc tráng ca biển” cho an toàn, bớt bi lụy.

      

Chi tiết thơ trên cho thấy: Trịnh Công Lộc là người luôn duy cảm, luôn nặng lòng (có lúc còn yếu lòng) trước cái tâm trong sáng và thơ ông luôn được viết ra từ gan ruột.

     

Trịnh Công Lộc nói kỹ càng hơn: “Mộ gió có cả một nghìn năm trước. Đấy là những ngôi mộ tượng trưng được hình thành sau những lễ chiêu hồn dành cho những người đi biển không về. Đến thời Gia Long (1802 đến 1836), mới có mộ gió ở Hoàng Sa, Trường Sa. Tôi đã tìm được những tư liệu và hình ảnh về mộ gió từ lịch sử. Cảm hứng từ lịch sử và những chuyển đi biển đảo, nhất là những lần ngủ trên  sóng cận kề biên giới Tổ quốc trên biển, đã tạo thi hứng và chất liệu để tôi hoàn thành “Mộ gió”. Thật tình, tôi chỉ là người có công xới xáo lại thôi”.

     

Nhưng có lẽ điều đáng nói vào thời điểm sau 2011, sau khi “Mộ gió” của Trịnh Công Lộc ra đời và được tôn vinh ngay lập tức, nhiều bài thơ, nhiều bản nhạc, áng văn đã được đưa hình tượng mộ gió vào, nhiều người cũng thường xuyên nói về mộ gió, nhất là từ điểm biển Đông có nhiều biến động đến bây giờ.

  

Như vậy, Trịnh Công Lộc và “Mộ gió” đã tạo ra hiệu ứng xã hội và tạo nên một “hội chứng mộ gió”.

  

Vẫn cái mạch cảm xúc ấy, Trịnh Công Lộc lại có phát hiện đầy suy ngẫm, mới mẻ và thiêng liêng qua “Đỉnh núi” từ trong tâm cảm:

 

Mỗi tấc đất

                đã bao nhiêu máu

Thắm lên từng vách núi, ngọn cây

Mỗi đỉnh núi

                  một bàn thờ Tổ quốc

Ngát linh hương nghi ngút trời mây!

     

Đến “Vành tang núi”, chất một mất một còn của cuộc “đối đầu chiến địa” được Trịnh Công Lộc khai thác triệt để. Có cảm giác: Đạn không chỉ bắn vào núi ở Vị Xuyên, bắn vào lãnh thổ Việt Nam, mà còn bắn vào lòng ông.

    

Bài thơ được triển khai hết sức tự nhiên và có chất tự sự ở khổ đầu: Chưa thấy ở đâu/ Đạn bắn vào đến nỗi/ Đá chín thành vôi/ Thanh Thủy “Lò vôi thế kỷ”. Và đạn bắn nhiều đến nỗi Đá núi lô nhô, đèo đọt/ Lối mòn gầy gộc, lắt leo/ Sương sớm tan mau/ Nắng chiều tắt vội…Ở khổ thơ thứ hai, chất thâu tóm, đúc rút bắt đầu xuất hiện ở hai câu ở dạng khẳng định – trải nghiệm: Mới rõ hết sự tình/ Núi không thể hắt đi.

   

Không có ai có thể đau đớn như Trịnh Công Lộc khi hình dung ra một sự hoang tàn, đổ nát và mất mát đến tận cùng ngỡ không thể đến tận cùng hơn. Rồi hậu quả tất yếu là Đá vụn sống lưng/ Thấy đá không thấy cỏ/ Thấy máu không thấy người.

   

Đến Thấy máu không thấy người, mạch thơ trở nên dồn nén để giải tỏa thành một tứ thơ độc đáo, khác lạ và hoàn chỉnh:

 

Thanh Thủy “Lò vôi thế kỷ”

Vôi – vành tang núi

Trắng lên trời!

     

Màu trắng của vôi đã trở thành “vành tang núi” hay: Đến núi cũng để tang, là một liên tưởng và cũng là một phát hiện. Nhưng “vành tang núi” còn được nối dài đến mức “trắng lên trời”, thì thử hỏi có sự mất mát, hy sinh nào còn có thể nhức nhối và lớn lao hơn?

   

Đọc “Mộ gió”, “Đỉnh núi”, đặc biệt là “Vành tang núi”, tôi càng thấm nhuần hơn câu nói của triết gia, nhà thông thái người Ấn Độ Krishnamurti (1815 – 1986): “Văn chương chính là cuộc sống, không phải ngôn từ”.

   

Sau chót, xin được nói thêm: “Mộ gió” và “Đỉnh núi” đã được một số nhạc sĩ có tiếng phổ nhạc thành những ca khúc và đã được xếp thứ hạng cao trong giải thường niên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Lâu nay, thơ được sử dụng làm ca từ thường đơn giản, có vần vè. Đó là trường hợp thứ nhất. Bên cạnh đó, vẫn có những bài thơ được sử dụng làm ca từ lại giản dị một cách sâu sắc và sâu sắc một cách giản dị. Đó là trường hợp thứ hai.

   

Thơ của Trịnh Công Lộc thuộc trường hợp thứ hai.

  

 


>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC... 
 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.