Tin mới Xem thêm

  • Trần Thanh Cảnh - Canh bún cá đồng

    Hồi bé tôi chỉ mong chóng đến tết. Tết không phải đi học, được ăn ngon và nhất là được đi chơi chợ. Được mẹ cho đi chợ Hồ, phiên cuối cùng

  • Từ bỏ những thói tật lỗi thời

    Chỉ có sự nghiêm minh trong pháp luật, sự giác ngộ, tự trọng trong chấp hành các quy ước văn hóa, chỉ có kiên trì giáo dục, thuyết phục và đấu tranh đến nơi đến chốn, chỉ có yêu thương, khuyên bảo giúp đỡ tận tình như mưa dầm thấm lâu những thói tật lỗi thời, xấu xa mới dần được hạn chế

  • Về đi em, Sài Gòn lúc nào cũng vui!

    Lúc đó vào giữa trưa, cô đang ngồi trong một quán bên sông với cái đầu hoàn toàn rỗng. Tin nhắn lại đổ nhạc. Hối thúc, nôn nóng. Cô liếc

  • Rất ít giáo sư đang nghiên cứu, vì sao?

    Trong hơn 40 năm qua, Việt Nam có 1.600 giáo sư, 10.000 phó giáo sư được phong tặng và công nhận. Trong số này, đáng chú ý chỉ có khoảng 200-300 giáo sư và khoảng 1/4 phó giáo sư đang hoạt động nghiên cứu.

  • Hoài Hương & Cây hoa sữa giữa Sài Gòn

    Góc Pasteur - Điện Biên Phủ, Sài Gòn, có một cây hoa hoàn toàn khác biệt với các loại cây ở đây. Mỗi khi vào tháng mười, hoa thơm nồng cả con

  • Ù tai, khó thở khi đi qua hầm sông Sài Gòn

    Nhiều người đi xe máy than phiền rằng cảm giác này tăng lên khi càng đi vào giữa đường hầm, một số người hoa mắt, thậm chí lạc tay lái

Chân dung Xem thêm

  • Lâm Thị Mỹ Dạ trái tim sinh nở

    Rồi có lần ngồi tán gẫu chuyện phiếm văn thơ, tôi “dọa”, phụ nữ mần thơ như Dạ là hay bị “lộ” thiên địa lắm. Dạ bảo, lộ chi mô, thiệt răng mình mần rứa

  • Rất Trần Vàng Sao...

    Nhà thơ Trần Vàng Sao vừa ra đi tại quê nhà Vỹ Dạ (Huế) ở tuổi 78, sau một cuộc đời kỳ lạ để lại nhiều nỗi xa xót, tiếc thương. Trần Vàng Sao

  • Võ Văn Trực ngọn Trường Xuân trên bãi mặn

    Ai cũng nói nhà thơ Võ Văn Trực hiền hậu, chân chất, tốt bụng. Chắc chắn là vậy! Nhưng lại có người nói đó là một con người trầm lặng

  • Bùi Anh Tấn 20 năm và 20 tiểu thuyết

    20 năm viết, với chừng 20 cuốn tiểu thuyết về các đề tài chiến tranh, tôn giáo, lịch sử, sáng tác 100 tập phim truyền hình đã phát sóng

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Vành tang núi của Trịnh Công Lộc

18.02.2017-23:30

 Nhà thơ Trịnh Công Lộc

 

Vành tang núi của Trịnh Công Lộc

 

ĐẶNG HUY GIANG

 

NVTPHCM- Đến “Vành tang núi”, chất một mất một còn của cuộc “đối đầu chiến địa” được Trịnh Công Lộc khai thác triệt để. Có cảm giác: Đạn không chỉ bắn vào núi ở Vị Xuyên, bắn vào lãnh thổ Việt Nam, mà còn bắn vào lòng ông…

 

VÀNH TANG NÚI

 

Chưa thấy ở đâu

Đạn bắn vào đến nỗi

Đá chín thành vôi

Thanh Thuỷ “Lò vôi thế kỷ”

 

Chưa ở đâu

Khoanh núi kia nhỏ hẹp thế này

Một dãy núi bản xa

           chênh vênh hai bờ ranh giới

Đá núi lô nhô, đèo đọt

Lối mòn gầy gộc lắt leo

Sương sớm tan mau

Nắng chiều vội tắt

Giấc ngủ dài hơn trăm quăng dao

Dài hơn điểm cao 1509

Dài hơn Thanh Tân, Thanh Thuỷ …

 

Chẳng ai nghĩ đến ngày súng nổ

Đạn réo qua đầu, còn ngỡ

Khi pháo đạn gầm lên dội lửa

24 tiếng / mỗi ngày ,

                  mỗi giây không nghỉ

30 ngày / mỗi tháng không ngơi

Mới rõ hết sự tình

Núi - không thể hất đi!

 

Không ai nghĩ

                 mười năm

                 thành đối đầu chiến địa

Đá vụn sống lưng.

                     Thấy đá, không thấy cỏ

                     Thấy máu,không thấy người

 

Thanh thuỷ “Lò vôi thế kỷ”

Vôi - vành tang núi

Trắng lên trời!

 

Tháng 7.2016

TRỊNH CÔNG LỘC

 

 

Lời bình của Đặng Huy Giang:         

    

Có một lần Festival thơ Quốc tế diễn ra ở Quảng Ninh, tôi và một số nhà thơ nữa có dịp đến “đại bản doanh” của Trịnh Công Lộc. Thời điểm ấy, ông đang tại chức, là Trưởng ban Quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh. Ông hào hứng bật băng cho chúng tôi nghe ca khúc “Mộ gió” (nhạc: Vũ Thiết, lời: Trịnh Công Lộc) vừa mới “ra lò” không lâu. Chúng tôi thực sự xúc động. Riêng tôi nghe xong mà lặng người đi. Riêng hai câu: Chạm vào gió như chạm vào da thịt/ Chạm vào buốt nhói Hoàng Sa đã gần như đóng đinh vào trí não của tôi.

      

Rồi cũng chẳng lâu la gì. Cuối năm 2011, bài thơ “Mộ gió” của Trịnh Công Lộc ăn giải kép: Giải nhì về thơ và giải nhì về ca khúc (cùng với nhạc sĩ Vũ Thiết) trong cuộc thi thơ và nhạc toàn quốc mang tên “Đây biển Việt Nam” do Hội Nhà văn, Hội Nhạc sĩ Việt nam cùng báo Vietnamnet tổ chức. Riêng giải nhì về ca khúc không có giải nhất và cái tên “Mộ gió” được đổi thành “Khúc tráng ca biển” cho an toàn, bớt bi lụy.

      

Chi tiết thơ trên cho thấy: Trịnh Công Lộc là người luôn duy cảm, luôn nặng lòng (có lúc còn yếu lòng) trước cái tâm trong sáng và thơ ông luôn được viết ra từ gan ruột.

     

Trịnh Công Lộc nói kỹ càng hơn: “Mộ gió có cả một nghìn năm trước. Đấy là những ngôi mộ tượng trưng được hình thành sau những lễ chiêu hồn dành cho những người đi biển không về. Đến thời Gia Long (1802 đến 1836), mới có mộ gió ở Hoàng Sa, Trường Sa. Tôi đã tìm được những tư liệu và hình ảnh về mộ gió từ lịch sử. Cảm hứng từ lịch sử và những chuyển đi biển đảo, nhất là những lần ngủ trên  sóng cận kề biên giới Tổ quốc trên biển, đã tạo thi hứng và chất liệu để tôi hoàn thành “Mộ gió”. Thật tình, tôi chỉ là người có công xới xáo lại thôi”.

     

Nhưng có lẽ điều đáng nói vào thời điểm sau 2011, sau khi “Mộ gió” của Trịnh Công Lộc ra đời và được tôn vinh ngay lập tức, nhiều bài thơ, nhiều bản nhạc, áng văn đã được đưa hình tượng mộ gió vào, nhiều người cũng thường xuyên nói về mộ gió, nhất là từ điểm biển Đông có nhiều biến động đến bây giờ.

  

Như vậy, Trịnh Công Lộc và “Mộ gió” đã tạo ra hiệu ứng xã hội và tạo nên một “hội chứng mộ gió”.

  

Vẫn cái mạch cảm xúc ấy, Trịnh Công Lộc lại có phát hiện đầy suy ngẫm, mới mẻ và thiêng liêng qua “Đỉnh núi” từ trong tâm cảm:

 

Mỗi tấc đất

                đã bao nhiêu máu

Thắm lên từng vách núi, ngọn cây

Mỗi đỉnh núi

                  một bàn thờ Tổ quốc

Ngát linh hương nghi ngút trời mây!

     

Đến “Vành tang núi”, chất một mất một còn của cuộc “đối đầu chiến địa” được Trịnh Công Lộc khai thác triệt để. Có cảm giác: Đạn không chỉ bắn vào núi ở Vị Xuyên, bắn vào lãnh thổ Việt Nam, mà còn bắn vào lòng ông.

    

Bài thơ được triển khai hết sức tự nhiên và có chất tự sự ở khổ đầu: Chưa thấy ở đâu/ Đạn bắn vào đến nỗi/ Đá chín thành vôi/ Thanh Thủy “Lò vôi thế kỷ”. Và đạn bắn nhiều đến nỗi Đá núi lô nhô, đèo đọt/ Lối mòn gầy gộc, lắt leo/ Sương sớm tan mau/ Nắng chiều tắt vội…Ở khổ thơ thứ hai, chất thâu tóm, đúc rút bắt đầu xuất hiện ở hai câu ở dạng khẳng định – trải nghiệm: Mới rõ hết sự tình/ Núi không thể hắt đi.

   

Không có ai có thể đau đớn như Trịnh Công Lộc khi hình dung ra một sự hoang tàn, đổ nát và mất mát đến tận cùng ngỡ không thể đến tận cùng hơn. Rồi hậu quả tất yếu là Đá vụn sống lưng/ Thấy đá không thấy cỏ/ Thấy máu không thấy người.

   

Đến Thấy máu không thấy người, mạch thơ trở nên dồn nén để giải tỏa thành một tứ thơ độc đáo, khác lạ và hoàn chỉnh:

 

Thanh Thủy “Lò vôi thế kỷ”

Vôi – vành tang núi

Trắng lên trời!

     

Màu trắng của vôi đã trở thành “vành tang núi” hay: Đến núi cũng để tang, là một liên tưởng và cũng là một phát hiện. Nhưng “vành tang núi” còn được nối dài đến mức “trắng lên trời”, thì thử hỏi có sự mất mát, hy sinh nào còn có thể nhức nhối và lớn lao hơn?

   

Đọc “Mộ gió”, “Đỉnh núi”, đặc biệt là “Vành tang núi”, tôi càng thấm nhuần hơn câu nói của triết gia, nhà thông thái người Ấn Độ Krishnamurti (1815 – 1986): “Văn chương chính là cuộc sống, không phải ngôn từ”.

   

Sau chót, xin được nói thêm: “Mộ gió” và “Đỉnh núi” đã được một số nhạc sĩ có tiếng phổ nhạc thành những ca khúc và đã được xếp thứ hạng cao trong giải thường niên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Lâu nay, thơ được sử dụng làm ca từ thường đơn giản, có vần vè. Đó là trường hợp thứ nhất. Bên cạnh đó, vẫn có những bài thơ được sử dụng làm ca từ lại giản dị một cách sâu sắc và sâu sắc một cách giản dị. Đó là trường hợp thứ hai.

   

Thơ của Trịnh Công Lộc thuộc trường hợp thứ hai.

  

 


>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC... 
 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.