Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Vô sắc trong thơ Trần Hữu Lục

15.4.2011-22:52

Nhà thơ Trần Hữu Lục do hoạ sĩ Bửu Chỉ vẽ

 

Vô sắc trong thơ Trần Hữu Lục

 

PHAN THỊ THU HẰNG

 

 

NVTPHCM- “Thơ Trần Hữu Lục không hừng hực yêu đương, không táo bạo phá cách nên thế hệ trẻ có vẻ chưa ‘mặn’ lắm. Chỉ khi sắp hoặc đã ở bên kia dốc đời, có hẳn một cõi riêng cất giữ hương quỳnh nở đêm, chút nhang khói giao thừa, hoa đào chợt thức, ly rượu đồng hương tê lòng… người ta mới ‘thấm’…”

 

Sáng tác thơ, nói dễ thì rất dễ. Nói khó thì kinh người. Dễ, nếu làm vì hứng, bất chấp chức năng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ… to tát, bất chấp thi luật, ngôn từ. Làm không cần in, không sợ kiểm duyệt, không sợ bán ế, không sợ phê bình… Làm xong đọc sảng khoái trước thềm trăng, trong xó bếp, giữa bàn nhậu, bên gối giai nhân, rồi ngủ vùi, dậy quên sạch. Thế là dễ! Còn ngược lại là khó, là khổ, là điên đầu…

Là một nhà thơ, nhưng Trần Hữu Lục không sa đà vào những biểu hiện quá khích của cặp khái niệm dễ- khó nọ. Yêu thơ từ lâu, mà “công khai chung sống” với nàng thơ, thì chỉ chừng hai mươi năm lại đây, khởi đi từ một chữ tình với Huế và sông Hương. Trong quãng thời gian từ 1989 tới 2011, hơn hai trăm bài thơ được ông sáng tác, tập hợp trong bốn tập thơ Lời của Hoa Hồng, Thu Phương Xa, Vạn Xuân, Ngày đầu tiên, có thơ in chung trong hơn 20 tuyển tập thơ, tập thơ và còn nhiều bài thơ khác chưa được in thành sách. Đọc bài thơ này thấy dốc hoa đào Đà Lạt, bài thơ kia nghe lá vàng châu Âu xao xác, bài khác có tiếng phong linh đùa gió, bài khác nữa là trời Sài Gòn ướt mưa, bài kia là những con chữ chao chát tìm nhau và còn cả hạt bụi quê hương , một ngày xuân đã có vạn xuân… Tuy cảnh khác nhau nhưng tựu trung đều lấy Huế làm hệ quy chiếu cho mọi vui buồn.

Thơ Trần Hữu Lục không hừng hực yêu đương, không táo bạo phá cách nên thế hệ trẻ có vẻ chưa ‘mặn’ lắm. Chỉ khi sắp hoặc đã ở bên kia dốc đời, có hẳn một cõi riêng cất giữ hương quỳnh nở đêm, chút nhang khói giao thừa, hoa đào chợt thức, ly rượu đồng hương tê lòng… người ta mới ‘thấm’ thơ Trần Hữu Lục- thứ thơ không bốc như bia rượu, không mất ngủ như cà phê mà trong mát như nước mưa, uống mãi được.

Kẻ viết bài lấy ngẫu nhiên vài bài thơ Trần Hữu Lục (dấu tên THL để bảo đảm tính khách quan) cho các bạn sinh viên trường Đại học KH&NV đọc. Bài ‘Ví dầu’ viết năm 2000, trích trong tập Thu Phương Xa, kết bằng tiếng hò ‘Em hóa thân trong câu hò Huế. Ví dầu…sông Hương chảy vào Sài Gòn’. Bài ‘Tình quê’ viết năm 2001, kết bằng hình ảnh con gà đất, [1][1]Giá như có con gà đất. Thổi hơi dài đỡ nhớ quê’. Bài ‘Vạn xuân’ viết năm 2005, kết bằng danh từ riêng ‘Vạn Xuân’ và ý nghĩa phái sinh của nó ‘Đâu phải ngày mai chỉ là phía trước. Một ngày xuân đã có vạn xuân’… các bạn suy nghĩ, phát hiện nhiều vỉa ý ngầm sâu sắc, sau đó tuyên bố trịnh trọng ‘thơ hay!’

Đưa tặng ba tập Thu Phương Xa, Vạn Xuân và Ngày đầu tiên của nhà thơ Trần Hữu Lục cho cụ Tam, thành viên câu lạc bộ thơ quận X. Cụ đeo kính, đọc cả tuần, rồi nhận xét:‘ Người xưa bảo thơ lấy tình làm gốc rễ. Ngôn ngữ làm thân. Thể loại làm cành lá. Ngọn là ý nghĩa…. Thơ ông này gốc tốt, thân tốt. Hiềm nỗi cành lá có chút ngang chướng. Nhiều bài, như bài ‘Neo lại dáng hình’ viết năm 2006 có ba đọan ‘Lúc buồn tôi trốn vào một cõi riêng…Lúc an vui tôi lạc vào một cõi riêng…Lúc trôi nổi tôi tìm về cõi riêng...’. Ba động từ ‘trốn vào’, ‘lạc vào’, ‘tìm về’ nối nhau, phản ánh ba cách sống ứng với ba đoạn đời, tưởng ai cũng viết được, nhưng cầm bút, loay hoay nửa ngày không ra thơ, mới biết khó. Những bài như thế đọc thích, nhưng thỉnh thoảng bằng trắc cứ đổi vị trí đột ngột khiến không khí thơ mất vẻ êm đềm. Chả hiểu tại làm sao!’

 Ngồi nghe phê bình, kẻ viết bài tưởng ra cách giải thích của nhà thơ. Rằng việc thay đổi nhịp điệu êm ả của thơ là có ý riêng chứ không phải tùy tiện, cẩu thả. Trong quá khứ, Nguyễn Trãi từng ‘ăn bớt’ một chữ trong thể thơ thất ngôn Đường luật để tạo ra thể lục ngôn gân guốc, khoẻ mạnh. Nguyễn Khuyến từng xáo trộn bằng trắc để cực tả thái độ sống không theo thói thường của mình. Đơn cử hai câu thơ:‘Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc. Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh’. Đúng ra chữ ‘cái’vần trắc trong ‘cái râu bạc’phải là một chữ khác vần bằng, chẳng hạn chữ ‘chòm’. Chữ ‘con’vần bằng trong ‘con mắt xanh’ phải là chữ  khác vần trắc, chẳng hạn chữ ‘cặp’, thì ‘câu thơ sẽ thành ‘Tuổi cao, tóc bạc, chòm râu bạc. Nhà ngặt, đèn xanh, cặp mắt xanh’ thuận mắt thuận tai….

Bốn tập thơ Trần Hữu Lục và trong nhiều bài thơ khác của ông, không ít trường hợp đổi bằng làm trắc như Nguyễn Khuyến. Bài Tím Huế viết năm 2000 có đoạn ‘Phù hoa đôi lần che khuất/ Hững hờ xem chút ngọt ngào/ Thoáng giấc mơ có giữ được/ Hay chìm tận đáy sông sâu’. Chữ ‘có’vần trắc trong câu thơ thứ ba lẽ ra đổi sang vần bằng, nhịp thơ sẽ đằm hơn. Bài Nguyệt cầm viết năm 2002 có bốn đoạn thì đoạn nào ở cuối câu 3-4 thay vì bằng trắc xen nhau, cũng để hai vần bằng liên tiếp. Như đoạn một:‘Tháng năm tìm về bến cũ/ Chút nắng còn lưa giữa giòng/ Nguyệt cầm giờ chìm đáy sông/ Thanh âm vấn vương…thêm tội. Tại sao cụ Nguyễn Khuyến và Trần Hữu Lục xáo trộn bằng trắc? Nhất quyết không phải vì thi sĩ “Tam Nguyên Yên Đỗ” Nguyễn Khuyến   và nhà thơ tài hoa xứ Huế Trần Hữu Lục (Hội Nhà văn Việt Nam) đều không biết luật thơ.

Năm ngoái, ở Đà Lạt, nhân trò truyện với một người bạn làm công tác truyền thông. Chị khoe từng phổ thơ của nhà thơ Trần Hữu Lục. Kẻ viết bài hỏi cắc cớ ‘Thấy thơ ông Lục có mầu gì ?’. Chị hỏi lại ‘Thế thơ ông Lục có mầu gì?’. Kẻ viết bài đọc một hơi:’Tháng năm bạc màu lưu lạc’,’Biển phương này xanh màu mắt’, ‘đóa hải đường gửi sắc hồng lên má’, ‘ngẩn ngơ lòng tím Huế’,’ sóng xô chiều biêng biếc’, ‘hoa cải vàng rưng rức bến vắng’ (lại vần trắc nghịch), ‘hồ xuân chợt xanh mầu cổ tích’, ’ cho ai mầu trắng giữ trong lòng’… Đọc xong nêu nhận xét màu tím xuất hiện nhiều nhất- tím áo, tím sương, tím phượng,tím sầu đông, tím trời, tím nhớ… thành một tím Huế vừa riêng tư vừa hết sức điển hình. Lấy màu gì làm thành tím? Màu đỏ cộng xanh dương! Tất cả xanh, đỏ, trắng, vàng, hồng, lục, tím… trong thơ cộng hết lại, ra mầu gì? Mầu trắng! Tận cùng của trắng là gì ? Là không mầu! Tận cùng của không màu? Là …Hỏi dồn một hơi, thấy kẻ viết bài bí, chị bạn mới nói thủng thẳng ‘Bốn tập thơ đầy ắp sắc màu, nhưng rốt lại là vô sắc. Nội dung nói thương, nói nhớ chan hòa, nhưng ngẫm kỹ, thương nhớ mà không mưu cầu, không đau đớn,dù có mong chờ. Làm thơ vậy, thực ra là không làm gì hết’. Từ miệng một phụ nữ thốt lên những nhận xét vừa cô đọng lại sâu sắc, khiến kẻ viết bài không khỏi bất ngờ. Thơ Trần Hữu Lục quả có vậy! Nhưng nhận xét cho ra cái chất ‘vô vi nhi vô bất vi’, cứ tưởng phải là những bậc thức giả nam nhi kia…

Trên đồi thông Đà Lạt tháng chạp, gió hanh hao, hoa quì rực vàng, an nhiên, chị bạn tiếp tục mạch suy nghĩ về thơ Trần Hữu Lục. Chị nói ‘Cuộc sống ùa vào người làm thơ, chiếm lĩnh trái tim, thúc ép bàn tay. Từ trái tim, cảm xúc chảy xuống bàn tay, thành chữ. Nếu trái tim đau đớn mãnh liệt, con chữ sẽ ứa nước mắt, giông bão, bóng đêm, cô đơn. Như trường hợp nhà thơ Chim Trắng viết ‘Cỏ khóc dưới chân tôi’ [2][2]. Tập thơ 45 bài, là một vệt hồi ức chiến tranh dữ dội, toát lên nỗi cô đơn bỏng rát của kẻ ‘Phóng đời bằng một cây lao. Đứng không đúng thế, ta nhào xuống ta’. Chữ nghĩa của Chim Trắng lộ rõ nét ngang tàng gân guốc của người kháng chiến Nam bộ, vừa thoải mái chịu chơi vừa chua chát, bỗ bã ‘Danh lợi, phù du, đếch tính. Đôi khi nước mắt một mình. Tôi cúi xuống hôn tôi’ (Chiếc bóng). Thế giới thơ Chim Trắng thiếu thanh thản yên bình, thừa dằn vặt nội tâm ‘Tôi khỏa thân tôi một kẻ dại khờ. Tiếng nổ một thời chưa xa. Rượu trong ly sủi bọt khóc- ly tràn. Tôi độc ẩm’ (Khóc ly tràn). Cái đẹp, nếu có, từ  thơ  Chim Trắng, là cái đẹp song đôi với bi kịch… Điều này không thấy ở thơ Trần Hữu Lục.

Trần Hữu Lục, sống cùng thời với Chim Trắng, hô hấp cùng không khí thời đại với Chim Trắng, nhưng mặt trận chiến đấu của Trần Hữu Lục là nội thành. Nghề nghiệp của Trần Hữu Lục là nhà văn yêu nước, trước khi là nhà giáo, nhà báo. Quê hương Trần Hữu Lục là Huế, nơi ‘sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu’( thơ Thu Bồn), nhịp mùa đi,con người sống…đều sâu lắng, sắc sảo và tinh tế. Có lẽ vì vậy mà tính cách thơ của Trần Hữu Lục ‘lắng đọng’ so với ‘dằn vặt’ của Chim Trắng. Những ưu tư, đau khổ, mơ ước từ thời cuộc, từ kiếp người, Trần Hữu Lục không bắt  thơ mình ‘cõng’ hết mà chuyển phần lớn sang lưng văn xuôi (mảng văn xuôi trong tập truyện ngắn”Cách một dòng sông” của Trần Hữu Lục trước 1975, hiện thực mà bi kịch,dữ dội đầy tính chiến đấu , khá hay, sẽ nói trong dịp khác). Nàng thơ của ông vì thế không phải mang vác nặng nề.

Qua màng lọc của tuổi tác, của nghề nghiệp, của tính cách Huế, trái tim, ngòi bút và giọng thơ, Trần Hữu Lục thiết lập hẳn một không gian thơ, một khí hậu thơ riêng, rất êm đềm, thanh khiết. Không tìm đâu ra một từ ngữ thô tục, một ý tưởng sống sượng, một giọng điệu đao to búa lớn trong thơ ông. Đi vào thế giới thơ Trần Hữu Lục, những người thiếu quê hương có thể thèm khát, tủi thân. Đặc biệt những người xa xứ, qua thơ ông như được nghe lại tiếng hoa bắp lay, tiếng nguyệt cầm, câu hò mẹ ru, tiếng gà le te gọi người đi chợ tết thời “sông đã Hương, núi đã Ngự” thiêng liêng..

Rất dễ nhận ra đề tài duy nhất, nỗi ám ảnh đau đáu của thơ Trần Hữu Lục chính là Huế và người Huế. Có điều, đứng từ vị trí khiêm tốn của‘hạt bụi quê hương’, sau khi thẩm thấu tất cả sắc mầu vi diệu nhất của nó, Trần Hữu Lục có khuynh hướng chiết giảm độ nóng, độ nồng, độ sắc, tựa như quét một lớp khói sương giảm bớt ánh mắt soi mói, phán xét của trần gian. ‘Lặng lẽ mùi hương miền ký ức. Cùng mưa thu từng giọt giọt rơi’ (Huế thu), ‘Chỉ còn lại bầu trời cổ tích. Và gió và sương thật buồn. Dẫu trăm năm vẫn thế (Ngày tôi về)‘Tìm đâu trong màn ký ức. Phù hoa che mất nửa tôi’ (Cõi Riêng), có lẽ cũng vì vậy chăng?

Hình dung tác giả khi nghe lọt các nhận xét của chị bạn kẻ viết bài, chắc như thường lệ, lại cười nhẹ, giấu tia sóng ngầm trong đôi mắt, cất giọng “rất Huế “ nói về hạt bụi cõi vô thường, về vẻ đẹp lung linh trong tiềm thức… như một cách lãng tránh mọi phân phô có tính thị phi.

 Trong mấy mươi năm nay, quen thấy phong cách đỉnh đạc, dịu dàng, lần này mới là lần thứ nhất, nhìn thơ ông. Nhìn phía trước, phía sau, thấy phía nào cũng in dấu một chiếc thuyền hồn tự nguyện đánh đắm trong dòng Hương thơ mộng: ‘Hồn quê là sông nước. Chảy thầm thỉ trong anh…Và còn nguyên xuân cũ. Ký ức một thời yêu’ (Hồn quê). Muốn nói với nhà thơ một câu, thay cho lời kết mà thôi, thơ đã nói thay rồi’Gió đã bay về đồng lúa.Sao tôi còn lạc giữa rừng?Mới đó chẳng còn ai nhớ.Tôi là hạt bụi quê hương’ (Hạt bụi).Bốn câu thơ  như một san sẻ lặng thầm. Những gì định nói với ông, dưng không biến thành ‘khung cửa hẹp’.

 TP.HCM - 2.2011



[1] Con gà đất: là thứ đồ chơi cho trẻ em, được  nặn bằng đất, bán ở các chợ quê trước đây, vừa để chơi, vừa có thể thổi thành tiếng 

[2] Tập thơ Cỏ khóc dưới chân tôi. NXB Hội Nhà Văn- 2008

 

NGHIÊN CỨU- PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC:

>> Ngô Hương Giang nhìn thơ từ thông diễn học

>> Huỳnh Như Phương ngẫu hứng thơ Trần Xuân An

>> Trần Hữu Dũng- Trí thức Việt thời toàn cầu hoá

>> Viết chân dung văn học cần chân thực

>> Sự thật về Thư gửi Ngô Kha của Trịnh Công Sơn

>> Nguyễn Nguyên Bảy thất vọng về... Bằng Việt

>> Phạm Ngọc Hiền nhìn lại văn học Việt Nam 2010

>> Lê Xuân- Chất dân gian trong Quốc âm thi tập

>> Lê Ngọc Trác- Tùng Thiện Vương Miên Thẩm-2

>> Huỳnh Lứa- 1611 năm khai sinh tỉnh Phú Yên

>> Hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh

>> Tùng Thiện Vương Miên Thẩm-1

>> Quan niệm về thơ trong lý luận văn học đô thị miền Nam 1954-75

>> Những tín hiệu vui văn học 8X

>> Khổng Minh từ chính sử đến tiểu thuyết

>> Nguyễn Văn Hạnh khám phá văn chương

>> Trường thơ Loạn- những cái tôi đầy đối cực

>> Hoàng Tuỵ trăn trở về cỗ máy giáo dục già nua

>> Vũ Trọng Quang đọc tạp chí Văn cuối cùng...

>> Cánh hạc và tiếng chuông...

>> Giải mã Hộp đen báo bão của Phan Hoàng

>> Bệnh hủi và văn hoá

>> An Chi- Chuyện mèo đàng chó điếm

>> Một quan niệm về văn chương của Trương Tửu

>> Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử của Phạm Công Thiện

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.