Tin mới Xem thêm

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

  • Nguyễn Quang Sáng cánh chim sếu đầu đỏ

    Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị

  • Truyện ngắn Hoàng Hiền: Mẹ con

    U nghỉ đi, con về thu xếp. Dứt lời, Hiên đi ra sân nổ máy lao vút ra cổng, mấy con chó con chạy theo sủa ăng ẳng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tác phẩm chọn lọc

Tạ Ngọc Điệp & Giấc mơ quê

16.10.2015-06:00

 Nhà văn trẻ Tạ Ngọc Điệp và chồng mới thành hôn ở Gia Lai

 

Giấc mơ quê

 

TRUYỆN NGẮN CỦA TẠ NGỌC ĐIỆP

                                                     

NVTPHCM- Tiếng còi xe từ người sau lưng khi đèn đỏ vừa bật lên, tiếng của người đàn bà đàng sau lưng hỏi chồng tối nay ăn gì, tiếng đứa trẻ giật mình trên lưng mẹ khi dừng đèn đỏ. Tôi tạt vào quán ven đường, gánh hàng rong của bà mẹ già len lỏi giữa dòng người, lẩn khuất dưới chiếc ô tô màu trắng, đã bao lâu tôi không về quê, đã mấy đêm tôi lại nằm mơ, một giấc mơ về quê nơi tôi đã sống gần hai mươi năm cho đến khi phố về lấn mất cả bầu không gian, thậm chí muốn mơ cũng khó gặp. Gọi li nước tôi kéo áo che bớt khoảng máy lạnh, tiếng nhạc dần đều, tôi khép mi.

 

Tôi mơ về thời tuổi thơ, chúng tôi chạy lăng xăng, mồ hôi nhễ nhại màu nắng in thành vệt áo trên chiếc cổ có khoen đen thui rồi nằm dài ra đống rơm mới được tuốt ra từ đám lúa chín trữu hạt còn thơm mùi lúa mới. Tôi mơ về cánh đồng xa típ tắp có cánh cò trắng điểm xuyết chập chờn, đàn trâu nhà ông Sự kêu lên mấy tiếng “Nghé ọ, Nghé ọ”, đàn trâu nhà ông Sự nhiều con nhất xóm. Nhà ông ở cuối xóm, gần bờ ruộng. Ông Sự làm nghề hoạn lợn và hoạn cả chó. Ông nói con gì giống đực mà hay đi loăng quăng, ảnh hưởng tới người khác là ông hoạn và nặn cho bằng hết, mấy người hàng xóm nhờ ông rồi trả công ông bằng bữa rượu gạo, họ đè mấy con đực ấy ra, đoạn dùng tay bóp vào phía dưới chân nó, lấy cái dao lam rạch một nhát rất ngọt thế là lấy ra cái hòn trăng trắng, bôi nhọ cạo từ cái soong nấu bếp nào đó trộn với dầu hỏa rồi may bằng chỉ lại. Sau khi được hoạn là tụi nó nhanh lớn, tụi heo sẽ hết nhảy cái lung tung, tụi chó mất dái sẽ hết đi tán tỉnh, chi chuyên tâm vào mỗi việc giữ nhà, bọn chó đực từ ngày thiến đi trở nên hiền lành, béo quay chỉ gầm gừ khi thấy mặt ông Sự và nó ghét ông Sự ra mặt, thấy ở đâu là lườm ở đó. Vợ ông Sự là bà Huệ, nhà bà có bốn đứa con, ngày mùng 5.5 âm lịch hàng năm bà lại tập hợp chúng tôi lại, đứng một hàng dài trước giếng, bà bẻ gai cây cam, đâm qua dái tai mỗi đứa con gái, để lớn lên chúng tôi có lỗ mà đeo vàng cưới, đau lắm nhưng vì sự đẹp, có lẽ máu làm đẹp nó đã có sẵn chảy thấm trong huyết quản của người đàn bà, đau ghê lắm nhưng phải chịu, hay chăng tính chịu đựng đã rèn cho con gái từ nhỏ, phải khép nép, phải đau đớn mới tôi luyện thành người đàn bà hết lòng vì con vì cái. Cái Trang chịu hết nổi đau, xỏ mỗi một bên là rứt đi, vùng chạy, giờ đi đâu nó chỉ đeo được 1 bên hoa tai, người ta nói đó là độc, là lạ, là sành điệu, là đẹp nhưng có ai biết rằng nó toàn bị mẹ nó nói là quái gở, sao người ta đeo hai mà mình có một. Rồi nó không lấy chồng mà có con. Nó giỏi lắm, nó nói mấy thứ tiếng nước ngoài, đi du học rồi về nước khi gần bốn mươi, đẻ được đứa con cũng ngót nghét bạc tỷ mà sau gần hai mươi năm về quê dư luận chẳng buông tha. Nó tha hương, muốn neo đậu ở chốn an lành sau bao năm sống ở nước ngoài, nước trong nhưng rồi phải thuê một bà ở quê ra phố, giá bảy triệu vừa osin vừa chăm con cho đến khi thằng cu đủ ba tuổi. Gái một con mòn con mắt, mỗi lần nhìn nó về quê dắt theo đứa con đẹp như tranh vẽ, người ta bảo là con thụ tinh nhân tạo, nhưng người ở quê bảo đó là con của mấy thằng cha bác sỹ. Đứa con cũng giỏi, mặc áo quần nhìn như Tây và nói tiếng Việt cũng lơ lớ, con trâu thì bảo đó là con bò, bò màu đen, nhìn thấy ông ngoại thì thốt lên “ô, bác nông dân kìa”, nó cũng chỉ về quê hai ngày rồi đi, nó thích quê lắm nhưng quê đã từng chối bỏ mẹ nó nên mẹ nó chỉ về qua quýt, cái gì ở quê cũng khác, chỉ được mỗi mát và yên bình, nó đã quen với tiện nghi với điện, với sạch sẽ, đụng một tý là xả vòi nước chảy ầm ĩ, đi vệ sinh cũng cực hình. Quê bao nhiêu năm rồi vẫn thế, chỉ thấy cán bộ là giàu còn dân có vẻ khá lên nhưng thực ra không giàu lên mà có vẻ nghèo đi so với mặt bằng chung. ở quê nhìn con đường bê tông là thấy hoành tráng nhưng ít ai biết rằng với tốc độ phát triển của hai mươi năm nhiều người họ không dùng đường bộ nữa vì sợ vướng đèn đỏ, mà đèn đỏ cứ như nút thắt cổ chai, chả mở, chả gỡ được.

 

Giấc mơ cứ thế lại nối tiếp hiện về. Ngày mẹ tôi gả chị gái, mẹ lận lưng được chỉ vàng, dặn chị gái dắt kim băng xâu vào trong lưng quần lụa, cả gia tài mẹ chỉ có nhiêu đó, liệu mà giữ phòng thân, ở đời biết đâu mà lần, chả nên tin ai. Chị gái cưới chồng ngày bão, nước ngập vào gần nửa cột nhà, lễ là buồng cau mới được xin bà Hường bên xóm còn mới chảy nhựa quấn mấy lá trầu xanh, trầu vàng, một chai rượu gạo, mấy bao thuốc lá Đà Lạt, nhà trai bưng lễ qua đựng trong cái mâm ăn cơm, phủ khăn đỏ. Anh rể mới đi bộ đội về được mỗi bộ quân phục cũ bạc thếch, ba phải mượn con trâu hàng xóm để ba người bì bõm trên xe trâu tiến vào nhà gái. Chị gái tôi e lệ đứng trên giường rồi trèo lên ghế đẩu thắp hương cho ban thờ tổ tiên. Nước rút, bão trong lòng nổi lên, anh rể ốm nặng nhập viện, được chỉ vàng lận lưng nhìn thấy chồng đau ốm không nỡ đành bán để chữa chạy, hết thuốc, chồng mất, chị gái ở vậy làm tròn nghĩa vụ với mẹ chồng, trời không phụ người có công, phố mở tận ra mãi bốn mươi mấy cây, nhà anh rể trúng quy hoạch người ta đền cho chị bạc tỷ, gia sản chỉ còn mỗi chị cai quản. Chị lại theo chồng bước nữa, lận lưng vài chục cây vàng và nuôi ba đứa con, có nếp có tẻ, đứa út nhà chị cũng bằng tuổi tôi. Ngày chị gả con gái đầu lòng  tôi cũng nổi bão, gì út như mẹ, tôi đã từng chứng kiến chị tôi lấy chồng, mẹ tôi khóc như mưa như gió, rồi mẹ tôi mất, chị một tay lo liệu cho tôi đến giờ tóc điểm xuyết nhiều muối hơn tiêu chị lại về quê lo phần hương hỏa. Cụ tôi còn sống vẫn hay nói, bố tôi bất hiếu, chả sinh được con trai, một đàn vịt giời, rồi mùa mưa bão nước lụt mất mồ mả tổ tiên, chị trở thành người đầu tiên ở làng mua đá hoa về ốp lát mộ họ hàng chu đáo, chị bảo, có thể đến đời chị hết người nối dõi của họ Tào nhánh đàng Tây nhưng mồ mả thì nhất định sẽ còn, chị thay bố chị làm việc đó. Mà cả cái làng Xao này có được mồ mả ai hoành tráng như thế. Ở đời họ vẫn quan niệm sống sao thác vậy, chết rồi còn biết gì nữa là sung, là sướng, là mát mặt. Đất xanh phủ lên rồi cỏ dại cũng mọc, người bón lại cho cây để hoa trái nở rộ, kết quả, để mầm xanh, để thế hệ khác lại sinh sôi, để trường tồn, ấy vậy mà ở quê, chỗ đất của người chết giờ nhiều hơn người sống, mồ mả nhìn như một khu đô thị mới, hết cảnh hoang vắng tàn tạ, dòng họ nào nhiều con nhiều cháu mồ mả lại càng hoành tráng. Chết là hết. Hết thật chứ còn gì nữa mà luyến tiếc. Phút nhắm mắt xuôi tay còn gì đâu mà luyến, mà tiếc, ăn chả ăn được, khói nhang làm người ta cay xè mắt nước mắt chảy ra…

 

Giấc mơ về ngày trưa trốn ngủ hiện về. Tôi giật mình thấy mình ngả lưng trên đám cỏ xanh ngắt, bầu trời trong veo không gợn chút mây. Có những giây tôi thầm ước ngồi một mình trong quán cà phê có ô cửa kính mà dưới đường kia đừng có xe chạy, những tòa nhà kia cứ đóng cửa im im như ngày Tết Nguyên đán, phố để hàng cây khỏi bịt tai, những hàng cây xanh ở phố khác cây ở quê. Đường Tăng Bạt Hổ chỗ tôi hay uống cà phê có hàng cây mướt mát, góc cà phê có treo đèn lồng, nhạc êm dịu hàng cây tỏa bóng mát rượi nhưng cây không vui, tán lá vẫn xanh, vẫn nói chuyện với gió đấy nhưng lẫn đó là chuyện cơm áo gạo tiền, là chuyện giành nhau từng giọt oxy ít ỏi để thải Co2 độc hại ra khỏi người mình, là chuyện của ngân hàng bên kia đường của đại gia X sắp phá sản, mới thấy xe cộ và người đẹp nườm nượp sát cánh vào ra khi lão làm tài trợ kim cương cho cuộc thi tuyển mỹ nữ ở phố này, bao kẻ vest váy dập dìu, váy quét trọn cả góc đường và đám lá vàng chưa được công nhân đường phố dọn khi các người đẹp đi đôi giày hai mươi phân giễu ra. Các cô gái bây giờ ra phố thị vài hôm là thành cò cả, cổ dài ngoẵng, chân còn lại cặp xương như cẳng gà chỉ toàn gân với da, còn mông với ngực thì đồ sộ như mấy bà bán thịt lợn, của đâu ra mà cứ bày phơi phới ra dưới nắng vàng như thế, chỉ tội các ông dự phải tháo bớt nút thắt cà vạt, hèn gì người ta gọi các cô gái đẹp là hot girl, hot là tính từ trong tiếng Anh, có nghĩa là nóng, ừ, chuẩn là nóng bức. Lão phá sản, bán nhà, treo cổ tự vẫn, chủ nợ đến bê đến cái gạt tàn chả tha, chẳng có cô chân ngắn chân dài nào chịu tang, khu phố đứng ra làm tang lễ. Tiền rõ là bạc. Bạc thếch. Một cô gái gánh cặp quang đi ngang qua bờ đê bên kia, cặp chân tròn lẳn, rắn chắc lấm tấm bùn nhưng mợ tôi bảo, con gái quê giờ hiếm lắm, nhà nào cũng đua sinh con giai, con gái rẻ rúng, ít được đi học nên toàn vào các khu công nghiệp làm công nhân, toàn gái, rồi ở giá ở già với nhau vì tăng ca liên tục, đến khi ngửa mặt lên về nhà thì trời đã khuya quá, ăn tạm rồi xe đón về làng, ngủ nghê, sáng mai lại tăng ca. Người quê giờ cũng có tiền, tiền có được do chắt bóp, họ mua vàng khoen, từng chỉ, xâu từng xâu bỏ trong hốc nhà, rồi dành đó, cho con cho cháu, chả còn biết hưởng thụ, có lẽ vì vậy nên ở quê ra phố cứ ngờ nghệch, tùy tiện và bừa bộn, cả đời có đi ra khỏi làng đâu mà biết ở ngoài kia dân chúng tiến bộ như thế nào, cứ nghĩ có tiền là mua tiên cũng được, ừ, có lẽ tiền mua được mấy cô gái xinh đẹp gần bằng tiên (chả ai thấy bao giờ nên cũng chả biết tiên có đẹp không), nhưng mà những cô gái tâm hồn trinh bạch, trong trắng lại ngày càng hiếm. Tôi lạc trên triền đê, tụi trẻ con ở phố nhà giàu cuối tuần được ba mẹ lái ô tô chở về đây, chúng thả diều, bắt châu chấu, câu cá. Mấy mươi năm làm kinh tế, theo đuổi sự nghiệp vinh danh, bố mẹ của đám trẻ này mới nhận ra rằng giá trị cốt lõi nằm ở tính người. Tính nhân văn để sống cùng với thiên nhiên, phải chăng bao năm liền nền giáo dục của nước nhà bị cuốn vào việc “học để làm” mà quên mất nhiệm vụ quan trọng là “học để sống chung với người khác”. Một thời gian dài ở quê không có bóng xe đạp hay cánh diều no gió, giờ nó đã quay trở lại. Nhưng ngôi nhà đóng im ỉm cửa vì không có ai ở nay lại sáng đèn. Một ngày kia chán mỏi mệt cánh cửa tự động autodoor người ta lại về đây, chống mái hiên đan bằng tranh, khêu lại bấc đèn dầu, xách cái xe đạp ra sửa lại xăm lốp lắp thêm chiếc chuông, tra lại dây phanh và dắt con ra triền đê để chúng tung tăng trên ấy. Bao nhiêu năm triền đê vắng cánh diều no gió thiếu tiếng nô đùa và bước chân trẻ con (có lẽ vì chúng bận học) thì bây giờ làng đã rộn rịp dịp hè. Trẻ con lại một bữa đi học, một bữa ra đồng phụ giúp bố mẹ, ông bà, mà chả giúp được nhiều, chúng đang tự giúp chúng hòa mình vào thiên nhiên, chúng đang tự lập, tự trồng rau, bón phân, nhổ cỏ, để sau này một ngày nào đó không còn điện, không còn siêu thị, không còn thức ăn ăn sẵn chúng biết nhóm lửa nấu cơm bằng rơm, biết đâu là nấm độc, biết cách đu dây hay bơi để băng mình qua con suối dữ, chúng chẳng còn được gắn mác là gà công nghiệp béo phì mà là những chú gà kiến, biết bới giun, biết đuổi theo mái để đạp theo bản năng chứ không phải ngồi trước bàn phím tìm những trang hẹn hò qua mạng. Ảo chưa bao giờ là thật. Giấc mơ thoang thoảng mùi rơm mới, trên cánh đồng đằng xa giờ họ chăm bón theo quy trình của công nghệ sinh học, họ dùng tre, đốt lên để bổ sung than carbon cho đất, để tránh sâu bệnh, gạo này nghe đâu được làm theo quy trình sạch để xuất đi nước Nhật, nông dân ở quê không còn phải làm nhiều, có người có bằng thạc sỹ vẫn về quê trồng xà lách để ăn ngay tại ruộng, làm gì cũng cần có tri thức, và những người nông dân sản xuất giỏi lại đứng lớp, mang mô hình tưới nước nhỏ giọt lên lớp giảng bài cho sinh viên chứ không phải những thạc sỹ, tiến sỹ nông nghiệp của trường tôi trồng 1 đám cây lạc dại (loại cây rất dễ trồng) để phủ xanh trường mà tháng sau các loại cỏ dại khác xanh mướt mát, còn lạc đã trở thành cỏ, khó chịu nép mình dưới đám cỏ xanh kia.

 

Tôi chợp mắt, tiếng sáo diều vi vút trong trẻo hòa mình với tiếng ếch ộp oạp, tiếng dế mèn gọi bạn tình, tiếng xì xào của đám trẻ rình bắt châu chấu bỏ vào chai mang về khoe thành tích. Tôi lơ mơ, những tiếng còi xe inh ỏi, tiếng chuông điện thoại, tiếng tin báo emai thư đối tác, tiếng nhân viên nhắc đã hết giờ, thanh toán để họ đổi ca trực, tôi thức dậy, bên tai văng vẳng tiếng nghé ọ gọi bầy của đám nghé con nhà ông Sự…

 

 

>> XEM TRUYỆN NGẮN TÁC GIẢ KHÁC...  

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.