Tin mới Xem thêm

  • Tiếng Việt... rắc rối?

    Tiếng Việt nhiều khi rắc rối, mà rắc rối trước tiên đó là chính tả. Một tác phẩm văn thơ thường hay bị soi mói cái rắc rối đó trước tiên, rồi từ suy luận, người ta nhanh chóng chuyển thành suy diễn để nhận xét cả một tác phẩm

  • Cú sốc BOT

    Con đường về quê của tôi bao năm phải đi qua một trạm thu phí BOT “đặt nhầm chỗ”. Đó là Trạm Tào Xuyên, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa

  • Lê Thanh Vy tâm còn khổ thì tài đâu có chỗ

    Có những tình yêu chưa kịp bắt đầu/ Đã kết thúc/ Vì chúng ta đang sống trong một thế giới rất nhiều lý thuyết

  • Nguyễn Quang Sáng xương Nam thịt Bắc

    Sinh thời, nhà văn Nguyễn Quang Sáng thường tự ví mình như vậy. Bởi vì ông là một người con tuy sinh ra và lớn lên ở

  • Chống tham nhũng: Bước tiến mới

    Việc ông Đinh La Thăng bị khởi tố, bắt tạm giam được dư luận hết sức quan tâm. Đây là nhân vật đầu tiên từng là Uỷ viên Bộ Chính trị bị khởi tố

  • Để trở thành một nhà văn

    Stephen King sinh ngày 21.9.1947 ở thành phố Portland, thuộc bang Maine của Hoa Kỳ. King tốt nghiệp Trường đại học Maine và sau đó làm giáo viên rồi trở thành nhà văn. Carrie - cuốn tiểu thuyết đầu tiên của King được phát hành vào ngày 5 tháng 4 năm 1974, với số lượng bản in đầu tiên là 30.000 bản.

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tiểu Thuyết

Diệp Hồng Phương & Lá chắn thép - kỳ 2

31.8.2015-10:10

 Nhà văn Diệp Hồng Phương

>> Lá chắn thép - kỳ 1

 

LÁ CHẮN THÉP

 

TRUYỆN KÝ CỦA DIỆP HỒNG PHƯƠNG

 

Căn cứ cách mạng trên núi Bà

 

NVTPHCM- Mấy năm qua, do địch đánh phá ác liệt, Ban An ninh tỉnh từ Bời Lời dời về Định Thành, Rừng Nhum, qua Bố Bà Tây đóng ở một số địa bàn biên giới nước bạn. Vùng biên giới đầy bom đạn, dân không sản xuất được nên việc tiếp tế hay bộ phận hậu cần không mua đủ gạo ăn, khô cá cũng ít. Cán bộ, chiến sĩ ăn uống kham khổ, 2 lon gạo nấu cho 6 người mỗi bữa, độn thêm cà nâu, đọt dây lưới. Lãnh đạo Ban An ninh có lúc ăn cơm với muối tiêu, bột ngọt và một ít rau luộc. Nhưng dù khó khăn, cán bộ chiến sĩ an ninh luôn nêu cao tinh thần tự lực, vượt qua khó khăn, gian khổ.

 

Biết trước Bến Cầu sẽ là chiến trường không chỉ của bom pháo, của biệt kích địch mà sắp tới sẽ có các cuộc càn quét lớn của lính Mỹ, Ban An ninh cử cán bộ khảo sát các vùng rừng dọc biên giới thuộc huyện Châu Thành tìm nơi lập căn cứ dự bị.

 

Cán bộ an ninh và cấp ủy Châu Thành đề xuất lấy rừng Gò Cầy, thuộc xã Biên giới làm nơi lập căn cứ An ninh tỉnh. Từ rừng Nhum đi dọc theo biên giới gặp Bàu Năng, Bàu Dài là vùng giải phóng nối tiếp nhau, liền mí với xã Biên giới của huyện Châu Thành là khu rừng gò hoang sơ kín đáo có nhiều cây cầy gọi là rừng Gò Cầy .

 

Ông Tô Lâm đích thân khảo sát rừng Gò Cầy thấy có phần thuận lợi, an toàn nhưng sắp tới sẽ đi chỉ đạo chiến trường Dương Minh Châu, ông cũng muốn tìm thêm một điểm nữa để lập căn cứ dự bị thứ hai cho Tỉnh ủy và An ninh tỉnh.

 

Từ Châu Thành đi Dương Minh Châu, đường phía trên an toàn hơn, vượt sông Vàm Cỏ Đông, qua Hảo Đước, lên Trà Vong ở phía Bắc, rồi ngược xuống Tân Hưng, Suối Đá. Đi đường dưới qua sông Vàm Cỏ Đông tàu tuần địch ngược xuôi, tới được huyện Tòa Thánh là đuối sức. Đường đi tiếp mìn trái của địch gài khắp nơi, có lúc lính Mỹ phục kích bắn chết cán bộ đi công tác.

 

Giao liên trạm Giao bưu ở Châu Thành nói mấy tháng trước, ông Ba Nâu Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách Kinh tài về Châu Thành công tác, trên đường qua  huyện Tòa Thánh bị mìn nổ chết. Ta không lấy xác được. Biệt kích địch cắt đầu treo trên cây.

 

Ông Tô Lâm quyết định đi Dương Minh Châu theo đường trên qua Hảo Đước, Trà Vong, về căn cứ Huyện ủy Dương Minh Châu ở núi Bà. Đoàn công tác có thêm 2 thành viên là ông Hai Bạch (Nguyễn Văn Tài), ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Huyện ủy Châu Thành và chị Mười Ẩn (Trần Thị Ẩn) Tỉnh ủy viên.

 

Từ Châu Thành đi Dương Minh Châu mất hơn mười ngày, lúc tránh né lính Mỹ luồng rừng, cạnh lối mòn giao liên; lúc bám căn cứ lõm cách điểm Mỹ đóng quân vài trăm thước. Qua khỏi vùng nguy hiểm, đoàn chuyển lên núi Bà, qua triền núi phía Đông, đến suối Già Nai, suối Cạn đi ngược lên là tới căn cứ Huyện ủy Dương Minh Châu.

 

Giao liên nhắc mọi người hết sức cảnh giác vì trên đỉnh núi, dưới chân, giáp vòng núi Bà đều có lính Mỹ, có biệt kích. Ngay chân núi là một tiểu đoàn của Lữ đoàn 196.

 

Bí thư huyện Dương Minh Châu là ông Sáu Thành (Tô Thành, tên thật là Tô Văn Ri), quê xã An Tịnh huyện Trảng Bàng, nguyên Phó Ban Dân vận tỉnh, đang chỉ đạo đợt ba Tổng tiến công tại Bến Cầu, thì được Tỉnh ủy phân công về núi Bà trước trận càn xe tăng tràn ngập biên giới. Ông Sáu Thành về núi Bà, đến suối Già Nai lập cứ. Các ông Thường vụ Huyện ủy cũng không còn chỗ nào để chọn lựa.

 

Căn cứ Huyện ủy Dương Minh Châu ở chung với Xã ủy Suối Đá tại Suối Già Nai, nằm giữa Suối Môn và Suối Cạn trên sườn phía Đông núi Bà Đen. Khu vực chông chênh nầy có tảng đá lớn với đường nứt tự nhiên bên ngoài, dẫn vào hang hốc, luồn trong núi. Xã ủy Suối Đá đóng ở hang Suối Già Nai. Huyện ủy Châu Thành đóng mé trên cứ xã ủy vài trăm thước.

 

- Về đây chỗ nào cũng có địch. Huyện ủy mới về, ở tạm với cấp ủy xã Suối Đá – Ông Sáu Thành nói chậm rãi – Cái hang rộng lắm, tôi hỏi mượn Bí thư xã Chín Mé (Lê Văn Mé) dành một chỗ đóng căn cứ huyện, có hứa “Giải phóng xong, huyện trả lại”.

 

Chín Mé cười nói nào phải mình huyện “mượn ở nhờ”, hồi Tết Mậu Thân cả tiểu đoàn 29 Đặc công Miền về đây, hơn trăm anh em cũng ở với Xã ủy trong hang đó, rồi xuống núi hợp với võ trang địa phương đánh tan đồn số 2 xã Suối Đá. 

 

Bí thư Huyện ủy Sáu Thành nói lúc trước dân ở đây nhiều lắm. Bây giờ biệt kích nhiều hơn dân. Cho nên phải giữ bí mật mọi sinh hoạt, “Đi không dấu, nấu không khói”. Lâu lâu, Huyện cử cán bộ cùng với cấp ủy xã Suối Đá tổ chức đợt công tác xuống vùng địch, vào ấp chiến lược Suối Đá (xã Phước Hội) làm công tác tuyên truyền, trước mắt là vận động nhân dân đấu tranh chống bắn pháo, gom dân…

 

Biệt kích Mỹ và lính Việt Nam Cộng Hòa nhiều lần hợp sức tấn công các căn cứ cách mạng trên núi Bà. Biệt kích Mỹ đổ quân bằng trực thăng giữa triền núi, lính Sư đoàn 25 từ dưới đánh lên, Liên đội Biệt cách Dù 81 (81st Airborne Commando Battalion, 81st ACB) - gọi tắt là Biệt cách dù) từ đỉnh núi đánh xuống. Pháo binh, máy bay các loại bắn phá núi Bà liên tục, có lúc thả chất độc làm cay mắt buộc quân Giải phóng phải rời hang núi.

 

Núi Bà địa hình hiểm trở, đá và rừng che chắn, hang núi luồn sâu trong đá hình thành thế phòng ngự vững chắc. Địch đánh phá nhiều lần chẳng thấm thía gì, đánh đã đời rồi cũng rút lui.

 

Tiểu đoàn 14 Tây Ninh, trung đội Trinh sát võ trang Ban An ninh tỉnh sau Tổng tiến công Tết Mậu Thân bị đánh bật ra biên giới, đầu năm 1969 trở lại chiến trường, về bám núi Bà. Lực lượng võ trang huyện Tòa Thánh cũng về đây. Các đơn vị lập cứ trong hang núi, ăn uống kham khổ với bắp đỏ cứng như đá luộc rất lâu mới nhai được, hoặc ăn chuối chín, chuối chưa chín thì luộc, có lúc ăn củ chuối, bắp chuối chấm muối. Sau nầy được dân cho đậu xanh nấu ăn, mua được gạo của dân.

 

Tháng 5 năm 1969, tiểu đoàn 14 Tây Ninh về giải nguy mặt trận Gò Dầu, trên đường đi tập kích chốt lính Mỹ, đánh diệt nhiều đồn bót địch. Trung đội Trinh sát võ trang rời núi Bà, về Châu Thành hợp với 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 9 chủ lực Miền đánh phòng ngự Ninh Thạnh, căn cứ Trảng Lớn, đánh phản kích 1 tiểu đoàn Thủy quân lục chiến tại cửa Hòa Viện Tòa Thánh Tây Ninh.

 

Ông Tô Lâm nhìn dưới chân núi thấy lát đát vài mái nhà của dân vô làm rẫy, làm ruộng ở tạm, biết địch bắn pháo, ném bom hoài dân không dám về. Vùng xa xa có dân, có ấp chiến lược thì cũng có nhiều lính, cảnh sát, gián điệp.

 

Ông Sáu Thành nói chậm rãi:

 

- An ninh huyện ở vùng tranh chấp địch- ta hoạt động rất tốt. Mười Tô trưởng huyện gan lỳ lắm. Dân An ninh phải vậy.

 

Ông Hai Bạch quan tâm đến chuyện phá ấp chiến lược, bung dân về nền đất cũ ở huyện Dương Minh Châu. Ông biết Sáu Thành trước đây được ông Hai Bình Bí thư Tỉnh ủy phân công làm Bí thư chi bộ “Phá ấp chiến lược Trảng Bàng”, góp công lớn trong đợt phá banh 5 ấp chiến lược ở Gia Lộc-Trảng Bàng, nên nói lên ý mình – cũng là ý của Thường vụ Tỉnh ủy- cần cử cán bộ vận động dân Suối Đá, kết hợp du kích xã, an ninh xã, huyện đội phá ấp chiến lược Suối Đá làm thí điểm đẩy phong trào lên.

 

Bí thư huyện Sáu Thành nghe ông Hai Bạch nói vậy thì mừng vì Thường vụ Tỉnh ủy có sự quan tâm, có ý kiến chỉ đạo cho phong trào ở Dương Minh Châu. Mấy tháng nay huyện ủy hoạt động có phần đơn độc, địch vây hãm chung quanh, lập cứ trên núi là ở xa dân, chỉ vận động quanh quẩn Suối Đá, Phước Tân. Các xã Chà Là, Bàu Năng, Truông Mít chưa lên mạnh vì ở gần vùng địch, cán bộ huyện chưa vươn tới. Nay mai Thường vụ Huyện ủy sẽ chia nhau xuống núi, bám các xã vùng địch nắm tình hình, vận động phong trào.

 

 

Gian nan Suối Đá

 

Đường giao liên núi Bà có 2 chuyến một ngày, sáng khoảng 8-9 giờ, quan sát kỷ thấy êm, giao liên đưa đi. Chiều phải sau 3 giờ. Giờ giấc đi đứng của giao liên né tránh quy luật bay của đám “cá nhái”, “cá rô” Mỹ.

 

- Xuống núi được chưa Tư Sở ? – Giác trưa, ông Tô Lâm kêu Tư Sở và anh em vệ binh xuống núi, đến cứ Ban An ninh Dương Minh Châu.

 

Tư Sở chần chừ chưa muốn đi:

- Giờ nầy đi dễ đụng trực thăng Mỹ, chú Tư. Mà đụng là cầm chắc hy sinh!

 

Triền núi Bà phơi mình trong nắng chói chang, phía dưới là rừng, xa nữa là đồng ruộng, nhà dân lưa thưa. Trực thăng quần trên núi, địch phục kích rừng chồi, phía dưới còn biệt kích Mỹ. Không nắm quy luật giờ giấc tuần tra, phục kích của lính Mỹ để né tránh là chạm trán liền. Hỏa lực của Mỹ vừa mạnh, vừa dồi dào.

 

- Sau 3 giờ trực thăng nghỉ tuần tra. Mình đi an toàn nhứt cô chú ơi! – Giao liên huyện ủy nắm rõ tình hình, nói vậy.

 

Nhưng ông Hai Bạch, cô Mười Ẩn cũng nôn nóng muốn đi liền. Tuy có lập tổ Đảng cho chuyến đi từ Châu Thành qua Dương Minh Châu, mọi người là tổ viên, Tư Sở là tổ trưởng toàn quyền quyết định giờ đi, đi đường nào, cách thức ra sao; nhưng do vị nễ ông phó ban An ninh tỉnh, Tư Sở bàn với anh giao liên tìm cách nghi trang chà cây, lấy nhiều nhánh cây nhỏ cột lại, giao các ông một chùm, Tư Sở và giao liên một chùm.

 

- Thấy địch thì ngồi xuống, che chà nghen các chú! – Anh giao liên dặn.

 

Đường đi vòng theo triền núi, xuống lần. Giác nầy nắng nóng, hơi núi phả ra càng nóng hơn. Ông Tô Lâm da trắng, khuôn mặt bắt nắng đỏ gay. Ông Hai Bạch che chà cây đi giữa, nắng quá nheo mắt lại, sau là cô Mười Ẩn đi chậm hơn.

 

Đường xuống núi, dân trồng nhiều bắp đang trỗ cờ cao hơn đầu người. Mọi người lủi vô đám bắp đi rất an toàn, tránh được nắng. Tư Sở đi đầu với anh giao liên, căng mắt, tai lắng nghe động tĩnh. Nghiêm và Thành là hai bảo vệ đi sau quan sát hai bên triền núi.

               

Đúng giờ, có tiếng động cơ trực thăng từ xa chuyển lại gần. Một thằng “cá nhái” đầu đỏ, một thằng “cá lẹp” xuất hiện ngay trước mắt. Nó đảo quanh triền núi.

 

- Ngồi xuống. Che chà!- Tư Sở nói lẹ rồi ngồi xuống chụp chà che đầu.

 

Hai chiếc trực thăng Mỹ bay tới, đảo quanh núi hai lần, Tư Sở nhìn thấy rõ hai thằng Mỹ ngồi trên máy bay, súng lom lom. Mọi người ngồi im trong đám bắp, hai người một chà cây, im ru, hồi hộp.

 

Trực thăng Mỹ bay qua lại một hồi, bỏ đi.

 

- Hai “thằng” nầy hung dữ lắm. Mình chớ có dại mà bắn nó. Nó có súng M.79 bắn la-phan có dây, có chùm. Chịu không xiết đâu! – Anh giao liên nói lúc máy bay Mỹ đã bỏ đi xa.

 

- Đi nhanh các đồng chí ơi. “Bố tiên nhân” cái thằng “cá nhái”…- ông Tô Lâm thoáng lo nó sẽ trở lại, giục mọi người đi liền tức thì.

 

Tư Sở cười nói không phải lo:

- Một tiếng đồng hồ nữa nó trở lại, chú Tư!

 

- Vậy phải chạy xuống núi mới kịp… - Ông Tô Lâm bước nhanh chân.

- Sau nầy phải nghe lời tổ trưởng nghe anh Tư! – Ông Hai Bạch nói vói theo rồi cũng đi như chạy. Họ phải về đến cứ Ban An ninh huyện trong buổi chiều.

 

Ở đây địch bắn pháo, tuần tra có giờ; khoảng nào có biệt kích, khoảng nào không giao liên biết hết. Đi đường phải nghe giao liên dẫn dắt. Đến địa bàn, phải gặp cấp ủy. Đó là hai yếu tố quan trọng lúc đi chỉ đạo chiến trường. Ông Tô Lâm ôn chuyện gặp trực thăng Mỹ, rút kinh nghiệm vậy.

 

Căn cứ huyện ủy trên núi gạo thì ít, bắp thì nhiều. Cán bộ, chiến sĩ ăn độn với chuối luộc, chấm muối. Ở núi mấy ngày, ông Tô Lâm cũng ăn vậy. Thấy đường đi gian nan quá, có lúc thèm xoài sống, cũng không dám nhờ anh em đi tìm. Có gì thì ân hận.

 

Cán bộ an ninh huyện ở dưới nầy lâu lâu đột vô ấp chiến lược mua gạo, hoặc mua của dân ngoài ruộng. Dân cắt lúa, đập xong, bỏ lại ruộng một ít cho mình. Bảo vệ, an ninh, hậu cần cũng mua lúa của dân. Có dân giúp, có gạo ăn, giữ được chiến trường suốt năm 1969.

 

Ác liệt, căng thẳng vậy, trụ được là tốt rồi. Đó là kết luận của ông Tô Lâm về Ban An ninh huyện Dương Minh Châu. Là cửa ngõ vào vùng căn cứ Trung ương Cục, trong chiến dịch Junction City, Dương Minh Châu bị chà xát bom pháo, biệt kích đánh phá nhiều lượt, “đội” hàng ngàn tấn bom B.52 và pháo các loại. Sau chiến dịch Junction City, Dương Minh Châu đón thêm trận càn “Hòn Đá vàng” với mấy lữ đoàn bộ binh Mỹ đánh phá nhiều ngày.

 

Về huyện Dương Minh Châu, ông Tô Lâm nhận thấy tình hình chung ở đây không lúc nào yên. Chỉ trong một ngày, ông đếm được trên mười lần pháo Mỹ bắn vô núi Bà. Ông cũng nhìn thấy mấy con “cá rô”, “cá lẹp” bay dọc, bay ngang quanh núi. Dưới nầy, hết càn lớn đến càn nhỏ. An ninh Dương Minh Châu bám trụ được, đường dây không đứt, chỉ đạo xuyên suốt, là rất tốt.

 

Ông Mười Tô, trưởng ban An ninh huyện Dương Minh Châu, nói thằng Mỹ đánh Trung ương Cục bằng máy bay, pháo hay trực thăng thì không cản được. Nếu lấy biệt kích, tình báo ra “chơi” thì Dương Minh Châu là lá chắn kiên cường, nó khó qua lọt.

 

- Càng ác liệt, anh em càng giữ kỷ luật nghiêm. Có vậy, địch không đánh được ta - Ông Tô Lâm chỉ đạo An ninh Dương Minh Châu thực hiện một số biện pháp đánh địch, bảo vệ nội bộ và nhắc Mười Tô về Chỉ thị 08 của Thường vụ Trung ương Cục về phòng gian bảo mật.

 

Ông Tô Lâm khen 2 câu thơ của giao liên an ninh mang tính kỷ luật cao, nói lên được cái ác liệt của vùng đất Dương Minh Châu: Không đi thì sợ Mười Tô. Mà đi thì sợ cá rô, chuồn chuồn.

 

Khi có lệnh “dẫn khách, đi thư” của Mười Tô, giao liên huyện lập tức đi liền không được chần chừ, nhưng sợ “cá rô”, “chuồn chuồn” quần đảo trên cao (Con đầm già L.19 còn gọi là máy bay chuồn chuồn).

 

Xong việc, ông Tô Lâm, ông Hai Bạch và cô Mười Ẩn về lại Châu Thành, rồi ra Gò Cầy. Đến Gò Cầy, quan sát một lần nữa, ông Tô Lâm suy nghĩ “Lúc nầy Gò Cầy an toàn hơn Dương Minh Châu. Sắp tới tình hình đổi khác, sẽ tính nữa…”.

 

Cuối năm 1969, Ban An ninh tỉnh từ Bố Bà Tây trên đất Campuchia dời về rừng Gò Cầy, xã Biên giới, huyện Châu Thành chỉ đạo chiến trường.

 

(Trích truyện ký Lá chắn thép của Diệp Hồng Phương)

 

 

 

>> XEM TIỂU THUYẾT - HỒI KÝ CỦA TÁC GIẢ KHÁC 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.