Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tiểu Thuyết

Khởi đăng tt.Thạch Đế (1&2)- LẠI VĂN LONG

Nhà văn Lại Văn Long

 

>> Dư luận về Thạch Đế

 

 

Lời tác giả

 

 

Tôi đặt bút viết Thạch Đế ngay sau khi hoàn tất chỉ trong một đêm truyện ngắn Kẻ sát nhân lương thiện (giải Nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Văn Nghệ- Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990-1991). Chương đầu được viết trong những đêm hiu quạnh, lạnh buốt ở khu cơ quan Tỉnh uỷ Lâm Đồng trên đồi thông số 1, Nguyễn Du - Đà Lạt. Trong thời gian mới về Thành phố Hồ Chí Minh và chưa tìm được việc làm, mỗi ngày tôi lại đến bưu điện thành phố (chỗ dành cho khách ngồi viết thư) hoặc thư viện Tổng hợp và thư viện Khoa học Xã hội và Nhân văn trên đường Lý Tự Trọng để viết tiếp chương II.

Tôi công tác tại Báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh từ đầu năm 1992 (sau khi nhận giải thưởng của báo Văn Nghệ) và tạm gác lại công việc viết văn để tập trung kiếm sống, lo cho gia đình bằng nghề báo. Dù đã hơn hai mươi lần nhận giải thưởng báo chí, với nhiều lần được giải A, giải nhất và rất đam mê nghề báo, nhưng tôi chưa bao giờ dứt bỏ kế hoạch viết những chương tiếp theo của Thạch Đế. Tôi ngưng viết văn suốt một thời gian dài và chịu áp lực không nhỏ từ những thôi thúc của chính mình và sự nhắc nhở của độc giả, bạn văn. Dịp giáp Tết Kỷ Sửu - 2009, chỉ trong một tháng công việc cuối năm thư giãn, tôi đã làm việc liên tục với cường độ viết trên dưới mười lăm giờ mỗi ngày và đã hoàn thành năm chương còn lại vào chiều mồng 4 Tết Kỷ Sửu (tức 29-1-2009) với niềm hạnh phúc khó tả! Tôi đã viết rất nhanh, từ mười đến hai mươi trang một ngày. Những suy nghĩ, kiến thức, cảm xúc tích lũy, dồn nén gần hai mươi năm tuôn ra ào ạt, nhiều khi viết đến tê dại cả tay; nhiều khi lo lắng không đủ thời gian, sức khỏe cho việc sáng tác. Tôi viết như đang sống trong một giấc mơ. Để giữ gìn mạch cảm xúc, tôi cứ viết mà không kịp đọc lại những gì đã thành chữ, cứ tuôn ra câu chữ bằng niềm tin vào chính những gì đã viết! Suốt sáu tháng tiếp theo, tôi đọc đi đọc lại bản thảo nhiều lần, lần nào cũng phải chỉnh sửa...

Tôi chọn Thạch Sanh là nhân vật xuyên suốt của câu chuyện vì từ bé đã rất mê nhân vật này qua chuyện cổ tích chỉ hai trang chữ. Khi trưởng thành và bắt đầu viết văn, tôi lại thấy nhân vật này mang đủ yếu tố của người Việt mẫu mực: tài ba, can trường; và cũng mang nặng những phần nhược có thể thấy ở bất kỳ con người nào: xuất thân từ lao động nghèo, chân thật, cả tin, thiếu tư duy kinh tế và đôi khi quá chủ quan, say sưa với những chiến công. Trên hết tôi yêu quý chàng Thạch Sanh vừa mạnh mẽ trong đấu tranh với cái xấu, cái ác, bản tính nhân hậu, nhiều cảm xúc như một nghệ sĩ. Tôi thấy nhân vật cổ tích này quá hoàn hảo để trở thành một nhân vật đặc sắc của văn chương. Nhưng không hiểu sao người xưa chỉ giữ anh ta trong một khuôn khổ nhỏ hẹp như vậy? Tôi ước đưa Thạch Sanh thoát ra khỏi khuôn khổ gò bó đó, để chàng hòa mình và đi xa hơn với lịch sử dân tộc. Trong hành trình đó, có thêm nhân vật nữ là Chân Lý - xuất thân từ hoàng tộc, là mặt đối lập đồng thời là sự gắn bó không thể tách rời với chàng tiều phu nghèo khổ. Thạch Sanh cứng rắn thì Chân Lý mềm mại; Thạch Sanh chuộng hành động thực tiễn thì Chân Lý thích khái quát hiện thực thành lý luận. Thạch Sanh (sau này là Thạch Đế) là chỗ dựa vật chất của Chân Lý yếu đuối, song chàng sẽ lúng túng, rối bời, mất phương hướng nếu không có thế giới quan và phương pháp luận của Chân Lý. Cả hai tồn tại cùng những biến động lớn lao gần trọn một trăm năm lịch sử của dân tộc mình. Khi họ chưa nhìn ra sự cần thiết của nhau và tách rời nhau, lập tức cả hai cùng phải trả giá. Thạch Đế dù dũng mãnh vô địch, nhưng phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác. Chân Lý uyên bác, tinh thông quy luật vận động của giới tự nhiên, xã hội, lịch sử và tư duy, song nếu không có sức mạnh vật chất để hòa hợp, thì trí tuệ tuyệt vời đó cũng vô nghĩa, đến mức phải trở lại đời sống hoang dã. Họ chỉ đem lại những giá trị to lớn cho chính mình và cho dân tộc khi biết kết hợp với nhau và khoan dung, độ lượng, nhân ái trong cách nhìn nhận và giải quyết những tồn tại lịch sử và quá khứ chiến tranh. Cuối cùng nhờ biết cách chung sống với Chân Lý và vượt lên những đố kỵ, ghen tuông, Thạch Đế đã trưởng thành vượt bậc; trở thành Chủ tịch Đại hội đồng Hoàng Đế và nhìn thấu được tương lai. Với Lý Thông, tôi không muốn chỉ là nhân vật phản diện với nghề bán rượu và lòng tham dẫn đến độc ác, lừa lọc. Tôi đã xây dựng Lý Thông thành đại diện của phương thức sản xuất hàng hóa. Với tư cách một người nghèo khổ, bị áp bức bóc lột, Thạch Sanh từng căm thù phương thức sản xuất này và dùng bạo lực siêu quần (nếu hiểu là cách mạng xã hội cũng không sai) để lật đổ và nhốt vào gốc cây Đa. Nhưng rồi trước quy luật phát triển, Thạch Đế đã phục hồi và giao quyền kinh doanh cho Lý Thông. Từ đó, mở ra cơ hội hội nhập, phát triển cho cả vương quốc. Khi được Thạch Đế đối xử như vậy, Lý Thông cũng tự điều chỉnh mình, nhân ái hơn và trách nhiệm hơn với đất nước.

Tôi viết lời tựa này không nhằm mục đích “tiếp thị”, mà chỉ mong bạn đọc chia sẻ, đồng cảm, không suy diễn, gán ghép quá mức những nhân vật và các sự kiện được mô tả trong truyện. Đây là tác phẩm được sáng tác hư cấu chứ không phải tài liệu viết về lịch sử. Xin trân trọng cảm ơn và chúc mọi sự tốt lành cho tất cả chúng ta!

 

Hè 2009

LVL

 

 

Thạch đế

 

 

Tiểu thuyết của Lại Văn Long

 

  

CHƯƠNG I

 

 

Thạch Sanh vô gia cư và không tư liệu sản xuất, sứ mạng thiêng liêng mà trong giấc mơ Thượng đế thường sai thiên sứ mặc khải cho chàng tương lai về một thế giới không thiên tai, không bạo lực, không áp bức bất công nên chẳng còn lý do để pháp luật hay chính trị tồn tại. Con người lúc ấy nằm gãi bụng êm ru tận hưởng. Thức ăn áo mặc đã có Thượng đế cung cấp. Thượng đế giàu vô hạn, sẽ thỏa mãn nhu cầu cho từng cá nhân…

Chàng nằm dưới gốc đa, gặm lá đa qua ngày, căm ghét bọn nhà giàu nhưng thường xuyên mơ đến lúc được làm con ngài Thượng đế tỉ phú! Chàng ngưỡng mộ Thượng đế và tưởng tượng ra đó là một vị vua quyền năng vô hạn, vóc dáng bệ vệ, râu dài tới ngực và khuôn mặt nhân từ. Ngài đã gián tiếp dạy cho chàng sứ mạng thiêng liêng cứu giúp những người nghèo khổ, lật đổ bọn nhà giàu. Ngài dĩ nhiên phải hoàn hảo, tuyệt đẹp! Không riêng Thạch Sanh, cả loài người mơ mộng xưa nay vẫn vậy. Họ nghĩ ra và liên tục đánh bóng Thượng đế khi những ông vua ở trần thế không làm họ hài lòng! Mơ ước về một đấng cai trị toàn năng, hoàn mỹ đó đã dẫn nhân loại đến nghệ thuật, các học thuyết chính trị, cách mạng xã hội, chiến tranh và cả những trò lừa đảo nhân danh dân chủ nhân quyền!

Lý Thông gánh rượu đi ngang - nhà doanh nghiệp với cuốn sách dạy nấu rượu luôn kè kè bên quang gánh. Đây chưa phải là “báu thư”. Lý còn một cuốn nữa do Thần tài tặng với lời dặn: “Tương lai là tương lai của phương thức làm ra của cải nhiều nhất. Hoàng đế của ngày mai làm hùng cường đất nước và mở rộng biên cương bằng của cải thay vì những đạo binh!”. Báu thư của thần tài dạy “kinh bang tế thế”. Học xong lý thuyết làm giàu, Thông hăng hái nhận định: “Kinh tế học là tôn giáo của tương lai. Tôn giáo tuyệt vời với khả năng chuyển chi tiêu của nhiều người thành thu nhập của một người…”

Thông khởi nghiệp bằng nghề bán rượu. Cái chất kích thích say sưa này bao giờ cũng được hắn rao bán bằng ngôn ngữ đi trước thời đại.

- Rượu đây! Rượu đây! Giấc mơ cho những thiệt thòi đây! Giá thành hạ, chất lượng cao, uống năm thưởng một, uống mười thưởng ba…

Đang nằm ngáp vặt, Sanh bật dậy gọi một bát to. Chưa đã, lại thêm bát nữa… Lý Thông hí hửng đòi tiền, Sanh giơ cây búa – công cụ sản xuất thô sơ đồng thời là vũ khí vật chất đầu tiên của đấu tranh giai tầng. Lúc này Sanh chỉ mơ ước chứ chưa có lý thuyết hoàn hảo về đấu tranh giai tầng!

- Nói thiệt tớ chỉ còn cái này.

Thông muốn chửi, muốn nói cho Sanh hiểu rằng: “Ta cũng như ngươi, nhưng ta không mơ dùng búa để lật đổ nhà giàu. Ta muốn chiến thắng bằng trí tuệ và nỗ lực cạnh tranh. Thượng đế của ta là thương hiệu và lợi nhuận!”. Nhưng Thông nhìn Sanh cởi trần trùng trục, thừa thãi sức lực và cơ thể vạm vỡ đang được ma men xoa lên đỏ au vừa ngáp ngủ vừa lăm lăm cái búa bửa củi to tướng, ớn quá nên thôi. Sanh nghiêm giọng:

- Ta đang đợi thời. Thượng đế mặc khải cho ta ngôi báu để xây hạnh phúc, công bằng cho xứ này. Ông chớ khó khăn với ta một vài chén rượu mà lúc đại cuộc thành công phải ân hận!

Thông chả tin điều mà tên khố rách tự nhận. Song con đường lưu thông rượu của hắn hằng ngày đi ngang gốc đa, dại gì gây sự để rồi mất cả thị trường. Nghĩ vậy Thông ngọt ngào nói:

- Ta coi nhau như anh em, mỗi ngày đi ngang tôi cho chú vài chén!

Sanh tung hứng Lý Thông nhẹ nhàng như với túi bông:

- Ôi! Bác tốt bụng quá, chúng ta đều là nạn nhân của ông vua trì kéo lịch sử. Tôi ở đây mấy năm rồi, giác ngộ được cho biết bao người về điều ấy. Liên minh với tôi nhé, mai mốt làm vua, tôi sẽ miễn thuế rượu cho bác!

Thông rùng mình trước lời đề nghị ấy, song nụ cười thương gia vẫn cứ xuề xòa.

Trong làng có con chằn tinh mỗi tháng bắt dân phải nộp cho nó một người. Hôm ấy đến phiên Thông. Thông cho Sanh uống “rượu chùa” đến say mèm rồi nhờ hai trai làng khiêng vứt trước cửa miếu chằn. Tới giờ chằn đến ăn thịt, Sanh tỉnh dậy. Thấy cái mặt nung núc đỏ lừ đang bệu bạo mồm dưới đôi mắt ti hí của chằn, ghét quá, Sanh hỏi:

- Mày định làm gì?

- Ăn thịt nhà ngươi!

- Mày cũng mặt người sao lại ăn thịt người?

Chằn cười lớn giải thích:

- Trước đây ta cũng là người. Nơi ta sinh đất khô cằn sỏi đá, cả đời nhọc nhằn đói vẫn hoàn đói. Khi làm quan thu thuế ta ăn trả thù quá khứ. Của ngon vật lạ nếm mãi cũng chán, ta thử ăn thịt người. Lúc ta hiểu thịt người ngon là lúc chất người của ta biến mất. Ta hóa quỷ sứ! Đừng ngạc nhiên, nhiều quan lại xứ này xuất thân từ nghèo đói lần lượt sẽ hóa yêu quái cả thôi.

- Thế sao ta quấn khố rách, ngày ngày gặm lá đa thay cơm, thèm một chút rượu không có tiền uống, lại không ý định trở quỷ tính?

- Tại ngươi chưa nhúng môi vào vinh hoa. Ngươi sẽ bớt ngu hơn khi đặt chân vào thế giới quyền lực. Thôi bấy nhiêu đủ rồi, giờ nhắm mắt lại ta hóa kiếp cho!

Chằn chồm tới, há mồm thối hoắc, Sanh bực bội phang búa vào cổ chằn… máu tuôn, chằn gào rú ghê rợn. Sanh nhìn nỗi đau của nó buồn bã:

- Chả bao giờ ta muốn giết nó vì chăng nó cũng là người. Cuộc đời không hiểu tâm lý sâu xa của nó, không có những ngăn chặn cần thiết, để nó hóa yêu tinh. Khổ cho nó mà khổ cho cả làng nước!

Sanh xách đầu chằn về ném vào sự ngơ ngác, kinh hãi của mẹ con Lý Thông, rồi lẳng lặng ra sau hè nằm nốc rượu quên đời. Rượu ngà ngà, Sanh ngửa mặt lên trời than:

- Không phải ta vừa giết quỷ dữ mà tay ta vừa nhúng máu!

Lý Thông khôn ranh báo cho cả làng đến xem đầu chằn, mỗi người hắn thu một ống thóc, thóc đổ tràn cả ra vườn. Mẹ Thông hài lòng bảo:

- Đủ gạo nấu rượu đến ba năm, tha hồ giàu!

Thông trầm ngâm tính toán:

- Có thể được cả chức quyền…

Nửa đêm, người từ khắp nơi vẫn lũ lượt kéo đến xem đầu chằn, lúa dồn đống cao như núi, mẹ con họ Lý mệt lả vẫn hăng hái làm việc. Bỗng có tiếng thét rợn người rồi giọng ai oán của một bà già cất lên kể lể:

 - Con ơi là con… suốt đời ở với mẹ đói rách thiếu cơm vẫn sống, làm quan ba bữa đã hóa quỉ yêu… Chúng giết con tôi rồi… hu..hu!

Sanh giật mình tỉnh dậy, thấy thấp thoáng dưới ánh đuốc một bà cụ giống hệt mẹ mình đang ôm đầu lâu chằn lúc này bỗng hóa thành một khuôn mặt chất phác với bờ môi dày gió sương nứt nẻ của anh nông dân cần cù, hiền lành…

Sanh nghe dạ xót xa, nghĩ đến mẹ mình đang cô độc sống nghề mò cua, bắt ốc nơi quê nhà. Suốt mấy năm nay, kể từ lúc chàng nhận mặc khải Thượng đế ra hoạt động dưới gốc đa ngã ba, ngã bảy, chẳng mấy khi nghĩ đến mẹ. Cắn môi mà nước mắt cứ trào, Sanh bôn tẩu trở về tìm mẹ…

Làm xong dịch vụ thu lúa, Thông gói đầu chằn lên kinh đô tìm vua. Vua thấy chúng sinh bớt khổ vì quan lại thoái hóa biến chất thì mừng lắm, hỏi Thông muốn thưởng gì? Thông xin được độc quyền rượu, vua mắng:

- Ngươi muốn dìm cả dân tộc vào vò rượu ư?

- Đâu có, hạ thần thấy lâu nay dân mình khổ quá nên muốn cấp cho họ khoái lạc, hạ thần sẽ cho in hình bệ hạ lên vò rượu để thiên hạ có lâng lâng hạnh phúc thì cũng nhớ đến bệ hạ.

 - Ờ! Ờ! Thế cũng được. Thôi tiến hành nhanh lên kẻo ta cao tuổi rồi, không khéo chả kịp nghe dân tri ơn!

*

* * *

 

Vua có công chúa kỳ lạ. Mới sinh ra mình mẩy trong xanh và phát sáng màu ngọc bích. Triều đình hoang mang, hài nhi mở mồm tuyên bố:

- Ta là bản nguyên của vũ trụ, chớ giải thích ta xằng bậy mà phải trả giá. Cứ gọi ta là Chân Lý.

Cũng may Chân Lý sinh ra trong quyền lực tột đỉnh nên mọi tuyên bố đều dễ chấp nhận. Từ vua đến dân y lời. Chân Lý lớn nhanh, đẹp rực rỡ, lại thấu hiểu sự đời sâu sắc. Mọi phán đoán của nàng về tự nhiên, xã hội và tư duy đều chính xác. Tin theo nàng, dân trí trong vương quốc đạt đến đỉnh cao. Nàng mở mang đầu óc cho từ dân đen đến hội đồng lãnh đạo quốc gia. Đất nước thái bình, an lạc. Vua sung sướng tuyên bố:

- Chân Lý là của chung!

Có hai vợ chồng con đại bàng, làm vua và hoàng hậu ở xứ ác điểu. Suốt mấy nghìn năm nay ngày nào vợ chồng cũng chí chóe cãi nhau: con người có linh hồn hay không?. Sở dĩ như vậy vì đại bàng đực tin rằng con người là cấu trúc vật chất siêu đẳng nhất, trong đó có đủ các mặt đối lập của thế giới bao la, phức tạp này. Vì thế được ăn thịt người, tài phép tu luyện sẽ tăng lên. Đại bàng cái rất duy tâm, sợ con người có linh hồn, ăn thịt người sẽ bị trào máu chết, uổng công tu luyện. Chúng cần một trọng tài đủ uy tín để kết luận con người có linh hồn hay không. Thế là sau nhiều lần theo dõi, nhân lúc loài người rời xa công chúa Chân Lý, đại bàng cái từ trời cao lao xuống bắt cóc Chân Lý mang đi. Đại bàng đực bay sau hộ tống. Thế gian hốt hoảng chấp chới chạy theo bóng Chân Lý nhỏ dần, nhỏ dần, rồi mất hẳn trong chín tầng mây…

*

* * *

 

Thạch Sanh về quê thấy mẹ mù lòa, cô đơn, khổ sở quá, òa khóc. Một phút xúc động đến bồng bột, Sanh phát nguyện:

- Ta thề sẽ mang mẹ trên vai suốt đời!

Từ đó trên bước đường hải hồ, Sanh đeo nặng truyền thống, luân lý và kinh nghiệm trong hình tượng mẹ già.

Mẹ con ra đi. Sanh cõng mẹ về đến gốc đa thì bà cụ đói lả. Nhác trông lên trời thấy bóng đôi chim, Sanh mừng rỡ bảo mẹ:

- Ôi! Hai con chim lớn quá, con bắn rồi làm thịt khô cho mẹ ăn dần.

Bà cụ chưa kịp ý kiến thì vút mũi tên lao đi. Lại vútẦm… một thân chim to lớn rơi xuống làm rung rinh mặt đất. Còn con kia bị thương loạng choạng rơi xuống thấp để Sanh kịp nhìn thấy một người bị cắp dưới chân nó. Rồi lại gắng gượng bay lên, bay lên… máu lã chã rơi theo đường bay.

Đức vua mất con khóc lóc thê thảm. Sau đó dù biết Thông có máu con buôn, tham lam vô độ, vua vẫn bấm bụng năn nỉ Thông đi tìm, hứa được sẽ gả công chúa và phong tể tướng. Thông mặc cả thêm hai điều: Một là miễn thuế hoàn toàn, vĩnh viễn các lò rượu của hắn. Hai là kể từ đây tiệc tùng, nghi lễ trong triều phải dùng rượu nội địa thay rượu nước ngoài. Vua đồng ý nhưng riêng rượu vua dùng vẫn giữ rượu ngoại. Thông cùng mẹ kéo mười vạn quân đi, đến ngang gốc đa gặp Thạch Sanh đang hùng hục xả thịt đại bàng to như trâu đực. Xương vụn, thịt thừa vung vãi. Máu chim và các thứ xà bần bốc mùi khăm khẳm dưới nắng. Trên các cành đa, thịt chim từng dây dài lòng thòng đu đưa theo gió. Bà cụ mẹ Sanh mù lòa, hom hem ngồi trên đệm lông chim bên cạnh đống lửa lớn, phù phù thổi một miếng gan chim nướng còn nóng hổi. Cụ ăn chầm chậm, say mê tận hưởng miếng ngon cả đời mới nếm.

 Lý Thông đã hiểu… Hắn bảo Sanh dừng tay đồ tể vào bàn việc cứu công chúa. Sanh nghe xong bảo:

 - Mẹ tôi ăn thịt chim khen ngon, tôi định lần theo dấu máu bắt nốt con bị thương về thịt luôn đấy! Sẵn bác đến đây ta cùng đi luôn thể. Xong cuộc phần bác công chúa, phần tôi con chim - Nghỉ một lát Sanh tiếp - Có lẽ phải đi cắt cỏ lợp một mái nhà trên chạc cây làm kho chứa thịt khô. Mùa đông mưa gió cứ nướng thịt khô chén là sướng… À hôm nào bác bán chịu thêm vài vò rượu, khi nào làm vua, tôi tính luôn thể!

 Thông bắt bẻ:

 - Từ lúc khố rách đến khi vinh hoa, người ta khó giữ lời lắm!

 Sanh bí lý gãi đầu cười hề hề:

 - Thế thôi để tôi tìm Chân Lý (công chúa) rồi thế chấp trước cho bác vậy!

 Lý Thông nghe mà mừng rơn, đúng hơn là cả hai cùng nhìn thấy lợi ích trong liên minh đầu tiên để giải cứu Chân Lý!

*

* * *

Thạch, Lý cùng đoàn quân rầm rộ theo dấu máu đến hang đại bàng. Đường hang quanh co rồi bất ngờ dẫn đến một cao nguyên mênh mông, sương mù dày đặc. Có tảng đá lớn khắc chữ. Lý Thông đọc to cho cả đoàn quân nghe: “ Biệt quốc đại bàng - cấm vào”. Cả đoàn đang mò mẫm trong sương mù thì giông tố bất ngờ nổi lên, rồi từ những tán cây đổ bộ xuống hàng vạn con diều hâu lông màu loang lổ. Chúng há mỏ, giơ vuốt hung tợn để đón khách lạ. Thông cho đội quân cung nỏ tác chiến. Những mũi tên xé gió lao đi kết liễu từng con ác điểu ngu xuẩn khoe ức vạm vỡ. Đoàn quân lại tiến sâu vào xứ sương mù. Đã thấy thấp thoáng những lâu đài ẩn hiện sau màu xanh mênh mông của rừng cây. Nhưng rồi giông tố lại nổi lên. Lần này toàn diều hâu lông xanh với số lượng gấp mấy lần trước. Chúng lầm lì dàn đội ngũ rồi bất ngờ há mỏ phun ra một trận mưa những viên đạn li ti, quân Lý Thông chết như rạ. Để chứng minh thêm sự lợi hại của mình, quân đội diều hâu lại há mỏ… lần này chúng phun ra những viên pháo lớn như nắm tay, rơi trúng mục tiêu là nổ đùng đoàng, bắn lửa khét lẹt. Đùng… một quả rơi cách Thạch Sanh mấy bước, bốn năm lính bật ngửa, té sấp, kêu ba, gọi má, xương thịt tung tóe, máu me lênh láng. Lý Thông mặt xám ngoét dắt tay mẹ đến chỗ Thạch Sanh rên rỉ:

- Bỏ mạng vì Chân Lý thôi Sanh ơi!

Mẹ Sanh đang bu trên vai con, quay lại mắng nhiếc Thông:

- Một mình mày chết vì tiền của, gái đẹp, địa vị chưa đủ sao còn lôi con tao vào?

- Thì chính con bà cũng tự nguyện chiến đấu vì rượu ngon, thịt nướng đấy!- Mẹ Lý Thông đứng cạnh, bênh con cãi lại

Sanh quay sang an ủi Thông:

- Bác tham còn tôi ngu. Nhưng dù sao chúng ta cũng có lý do để nỗ lực, chỉ tội đám lính đang chết chỏng vó kia. Dân ngu khu đen như chúng dính gì đến Chân Lý mà phải lấy mạng đóng thuế cho vua?

Thông cười tàn nhẫn:

- Giàu nghèo, sang hèn, ngu khôn đều phải đóng thuế làm người cả! Máu là thứ tài sản có giá nhất của bọn cùng đinh, không bắt chúng đóng thì còn thu được gì?

… Khi sĩ tốt chết ráo trọi cũng là lúc bóng đêm xõa tóc lên chiến trường. Lợi dụng bóng tối, Thạch - Lý người dắt tay, kẻ cõng mẹ lần mò tìm đường rút. Cứ đi mà không biết mình tiến sâu vào đất địch. Đến sáng ra thì thấy đang đứng trước một đại nha, cao rộng, uy nghi. Cả đoàn nhắm mắt liều vào. Qua được hai cánh cửa thép nặng trình trịch tự động đóng lại sau lưng, họ vào một tiền sảnh tối mờ mờ. Trước mặt họ là ba con diều hâu lông dài đen kịt, to lớn lạ thường. Đầu mỗi đứa đội mũ hình cân công lý, chân đứng trên những cuốn sách bìa da dày cộp. Nơi hai vai cánh mỗi diều hâu mọc ra hai tay, một tay cầm gươm, tay kia rủng rẻng sợi xích. Thông nói nhỏ vào tai Sanh:

- Tòa án?

Sanh

- Ừ! Bọn này chỉ quen lý sự, cho mỗi đứa một búa là xong!

Dứt lời Sanh xốc mẹ nhảy lên, phang búa tới tấp vào công lý xứ diều hâu, chúng lịch bịch ngã sấp. Bây giờ mọi người mới biết đám đầu đội cân, tay xách kiếm, chân đứng trên pháp luật (của xứ đại bàng) chỉ là những con rối. Sau lưng mỗi đứa có dây điều khiển nối ra sau hậu trường. Tò mò cả đoàn lần theo dây phát hiện chỉ huy đám hình nộm này là một bóng đen to lớn, không rõ hình thù, chỉ có hai mắt xanh lè linh động dễ thấy. Sanh xách búa bước đến, bóng đen bí ẩn thét lên:

- Ta là siêu quyền lực. Ai gọi đúng tên ta một lần sẽ bị cấm khẩu. Ai có ý định tấn công ta, sẽ bị hóa thành giòi bọ. Ta là siêu quyền lực!

Sanh chột dạ thối lui, mẹ con Lý Thông lúc này đã lên kịp chàng, bỗng có tiếng thét lanh lảnh, giọng nữ:

- Ta là Chân Lý đây! Ta bị giam cầm trong ngục đá sau lưng bóng đen. Cứu ta với… không kịp cứu ta, bóng đen siêu quyền lực sẽ lớn thêm lên, xâm lược tất cả và hủy diệt tất cả. Ra tay đi khi còn kịp!

Nghe tiếng công chúa, Thông cuống lên vì sung sướng. Hắn bắn tên liên tục vào hai mắt bóng đen, nhưng vô ích. Sanh lại xách búa lao lên, nhưng mẹ sau lưng bỗng giãy một cái làm Sanh mất thế, trượt chân té nhào. Lưỡi búa cắt một đường vào chân làm máu tuôn xối xả. Thông vừa xé áo băng bó cho đồng minh vừa cằn nhằn:

- Đánh nhau với siêu quyền lực để giành Chân Lý mà đeo nặng quá khứ, luân lý thế này làm sao thắng được!

Tiếng công chúa lại vang lên:

- Bóng đen rất sợ ánh sáng, hãy đưa ánh sáng vào đây. Sắt thép, sức lực đối với nó vô nghĩa. Phá trần nhà ra cho mặt trời rọi vào!

Một lát sau, mặt trời minh bạch xuyên qua lỗ trần vừa được đục thủng, ồ ạt soi rọi vào thâm cung. Bóng đen kêu thét giãy giụa, nhỏ dần, nhỏ dần rồi tan ra thành một vũng sền sệt, hôi thối. Mặt trời soi khắp ngõ ngách, nơi nào cũng xương cốt, đầu lâu, oan hồn lảng vảng. Thâm cung đầy rẫy tội ác sáng quang dần lên. Sanh phá ngục đá, sau thời kỳ bị giam cầm, Chân Lý được giải phóng. Nàng uể oải bước ra, tặng cho những người tiên phong tranh đấu vì mình một nụ cười. Lý Thông bủn rủn chân tay trước cách chinh phục mê hồn của Chân Lý. Hắn chỉ cho Thạch Sanh một con đường:

- Ngươi đi theo hướng đó để câu nhử bọn diều lông xanh bắn đạn lửa. Còn ta mang Chân Lý theo đường này để tránh cho nàng tai họa!

Sanh giãy nảy:

- Bác giành bình lộ, đẩy tôi vào hiểm địa ư?

- Tất cả đều là nhiệm vụ. Ta bảo vệ Chân Lý khỏi sây sát còn cực khổ hơn!

Sanh thôi cãi, lẳng lặng cõng mẹ thi hành.

Lý Thông mang công chúa đến hẻm núi vắng vẻ, hắn quay sang bảo mẹ:

- Mẹ ngồi canh cửa, con vào hang có tí việc!

Mẹ hắn biết hắn muốn làm gì, nên quay mặt im lặng đồng lõa.

Thông cưỡng hiếp Chân Lý. Nàng đau đớn không nói nên lời chỉ nhìn hắn bằng con mắt uất hận. Thông giơ tay che mắt nàng lại:

- Ta trải qua bao khổ cực, có lúc suýt chết mới ôm được Chân Lý giây lát. Làm ngơ cho ta lạm dụng một tí, có hao mòn đâu mà sợ!

Chân Lý nghiến răng bảo:

- Ngươi làm nhục ta, cả nhân loại đau đớn. Ta còn đây, song câm điếc mất rồi!

Thông lạnh lùng mặc lại áo quần cho Chân Lý. Hắn nói:

- Chân Lý câm điếc, khỏi ai biết ta làm bậy. Còn thằng Thạch Sanh ta chôn sống nữa là xong!

Nói rồi hắn lăn đá lấp hang.

Sanh đang chống chọi vất vả với đám lính diều hâu thì nghe đá đổ ầm ầm, đường đi tối mịt. Biết bị Thông phản, Sanh chửi:

- Mẹ mày thằng bán rượu, thoát lên được, tao xẻ thịt mày phơi khô!

Sanh mò mẫm tìm đường lên, tình cờ bắt gặp con trai Thủy Tề đang bị đại bàng giam. Sanh hỏi nguyên nhân, Thủy Tề con trả lời:

 - Nghe đồn bố ta giàu có, chúng bắt ta đòi chuộc mạng bằng hai hòn đảo và mấy mỏ dầu!

 Sanh chặt xích cứu con ông vua biển. Hoàng tử bày Sanh phép độn thổ để trở về thủy cung.

 Nhận lại con trai, Thủy Tề mừng lắm, chiêu đãi mẹ con Sanh tưng bừng, Sanh say sưa uống rượu, vui ca với các tiên cá… Tiệc tàn, Thủy Tề gọi Sanh vào buồng riêng nói nhỏ:

 - Nhìn anh, ta biết anh chán đời!

 Sanh buồn rầu kể lể:

 - Tôi bị phản bội, bị cướp công, bị ám hại… may đời còn phép độn thổ, không đã bỏ mạng trong hang đại bàng!

 Thủy Tề đem ra một bầu rượu, một cây đàn nói lời thông cảm:

 - Anh hùng thất thế thành nghệ sĩ, ta tặng anh bầu rượu thần uống mãi không hết, tặng thêm cây đàn vui, buồn làm bầu bạn.

 Sanh cười chua chát:

- Đời lọc lừa, thủ đoạn, đê tiện, khó chơi lắm. Tôi về cây đa sống với mẹ già!

Trong thất vọng, Sanh sống với “chủ nghĩa cá nhân”, quên mất hoài bão và sứ mệnh lớn lao của mình!

 Thủy Tề bảo Sanh nhắm mắt, phẩy tay một cái đã đẩy Sanh lên lại trần gian. Sanh tỉnh lại dưới gốc đa, sực nhớ đến mẹ thì bà đã chết trên vai từ lúc nào. Sanh khóc thảm thiết, kể lể với đồng vắng, với trời xanh cái thuở mẹ con chui rúc trong ao bùn mò cua bắt ốc độ nhật. Ba ngày sau, Sanh đẽo đá lập mộ mẹ.

 Mất mẹ lòng Sanh tan nát, sẵn bầu rượu thần cứ uống tì tì. Mấy đêm liên tiếp trăng lên, lại có một lão già mặc áo quan, song dung mạo tiều tụy, mắt tràn lo âu đến xin sưởi ấm. Đêm nào Sanh cũng mời rượu. Hai người ngồi bên đống lửa vừa nướng thịt chim khô, vừa uống rượu, chẳng ai nói câu nào. Gần sáng ông già lại bỏ đi sau khi Sanh say be bét, lăn ra ngáy phò phò

Một đêm tỉnh giấc nửa chừng, thấy ông già trầm ngâm bên đống lửa tàn, Sanh ngồi dậy hỏi:

 - Ta thấy ông quen quen mà sao nhớ mãi không ra?

 Ông già ngước mắt thở dài:

 - Anh không nhớ được là phải, lúc trước mỗi lần gặp nhau trong mộng, ta áo mũ xênh xang, mang quyền uy Thượng đế đến mặc khải cho anh. Anh hồ hởi đón ta bằng hy vọng làm vua thế giới…

 Sanh bật dậy hấp tấp cướp lời:

 - Thế ngài là thiên sứ thường đem chỉ thị đến cho tôi đấy à?

 - Phải!

 - Sao ngài lại ra nông nỗi này? Ngài bị trời đày ư?

 - Không! Số là ở cung đình vừa xảy ra đảo chính. Thượng đế phương Tây đảo chính Thượng đế phương Đông. Ta làm đại sứ cho ông trời phương Đông nên khi thay đổi chính phủ, không ai nhớ tới gã đại sứ ở trần gian xa xôi nữa. Ta hết đường về, sống vạ vật nơi trần thế!

 - Thế còn sứ mệnh cao cả mà Thượng đế thường dạy tôi mơ ước thì sao?

 - Thượng đế còn phải chết vì thời cuộc huống hồ một ước mơ!

 Vũ trụ quay cuồng, cây đa quay cuồng. Sanh ôm đầu bứt rứt, chán chường cực độ. Một hồi Sanh ngước lên chỉ mặt cựu thiên sứ:

 - Thượng đế nhà ông dở tệ! Làm Thượng đế là thứ dễ nhất, cũng không xong. Phải chúng tôi còn đổ lỗi cho trời, chứ nhà trời các ông thì đổ lỗi cho ai?

 Ông già kinh hãi trước ngôn từ xấc xược của Sanh, song thông cảm còn trẻ, dại tính, ông ôn tồn giải thích:

 - Chẳng qua là thời cuộc. Thời cuộc cao hơn trời!

 - Thôi đủ rồi, ông càng nói ta càng đau đầu, ông cút đi cho rảnh. Lẽ ra ta còn đòi tiền ăn uống, sưởi ấm của ông suốt cả tháng nay, nhưng thấy ông xơ xác quá ta bố thí cho đấy! Ngày mai còn lảng vảng đến đây ta đập nát xương…!

 Cựu thiên sứ đứng dậy gầm gừ:

 - Thằng nhóc con bất nghĩa, thế sao trước đây mỗi lần ta đến, ngươi đội ta trên đầu đi rêu rao khắp thiên hạ?

 - Thầy trò ông đã làm ta hụt hẫng, ta nếm mật nằm gai nhiều năm cũng vì tin theo Thượng đế. Bây giờ sẽ thế nào khi không còn ước mơ? Đó là thiệt hại rất lớn mà ông và Thượng đế phải chịu trách nhiệm!

 Sanh giơ búa ra dọa, cựu thiên sứ vắt giò lên cổ chạy. Được một đoạn xa, lão quay lại với những lời chửi tan trong gió…

 - Lẽ ra ta sẽ dạy nốt cho ngươi phép quản xã, trị dân. Nhưng bây giờ thì đừng hòng. Coi như ngươi mới học được nửa đường…

*

* * *

 

 Chân Lý về đến kinh đô, hình hài thâm xỉn lại sau khi bị tên bán rượu cưỡng hiếp, giờ càng thêm hốc hác vì mấy ngày đi đường. Lúc trước Chân Lý còn trinh, nhìn ánh màu ngọc, giờ hóa màu đất sét, lại câm điếc nên Lý Thông đứng cạnh Chân Lý bô bô nói láo mà cả triều đình lớn, nhỏ cứ gật đầu lắng nghe. Mọi người tin rằng Chân Lý được tôn thờ lâu nay giờ xuống cấp tệ hại như thế là lỗi ở con đại bàng - một thứ nguyên nhân từ trên trời rơi xuống rồi lại bất ngờ biến mất trong xa xăm vô hạn nên chả cần xác định làm gì. Mà có muốn xác định cũng không thể… Lý Thông cứ thế nói láo, thiên hạ cứ thế lắng nghe, Chân Lý cứ câm lặng đau đớn!

 Một hội đồng danh y được cấp tốc thành lập. Nhiệm vụ khẩn trương là giúp Chân Lý phục hồi sức khỏe và mở lời vàng ngọc trở lại. Cuộc công khai “hội chẩn” phủ lên mình Chân Lý mớ bòng bong những lý lẽ già, non của đám thầy lang cung đình thiển cận và thiếu y đức. Chân Lý chẳng có lại được gì ngoài phiền muộn. Nàng quằn quại phẫn uất rồi co rút sâu vào thế giới thụ động của mình. Nàng đã là một cái xác bất động. Cả thiên hạ bất lực, nhỏ lệ. Trời mỗi ngày một xám ngoét bao trùm kinh đô…

 Lý Thông mãn nguyện với những thăng thưởng cho công lao mang Chân Lý trở về. Hắn ung dung đợi vua thực hiện lời hứa. Hắn đã thỏa mãn với Chân Lý rồi, giờ nhìn thân xác đang chuyển sang bầm đen, khô héo của nàng hắn chẳng đoái hoài gì nữa. Hắn chỉ nghĩ đến chức tể tướng của vương quốc đầy ắp châu báu, mỹ nhân và những lợi nhuận khổng lồ từ việc độc quyền rượu miễn thuế. Hắn có được tất cả là nhờ mẹ hắn – quân sư tài ba của mọi trò chơi quyền lực. Mụ không manh tràn dục vọng như thằng con mà làm chính trị bằng tư duy và thủ đoạn của mụ nông dân biết nai lưng lượm từng hạt thóc rớt; của một mụ trùm biết bòn từng tiếng kêu lanh canh của các đồng xu trong nghề cho vay nặng lãi!

 Nghe tin vua triệu tập hội đồng danh y chữa bệnh cho công chúa, mụ nghĩ ngay đến lời đầu tiên nếu công chúa phát ngôn được. Không! Không thể như thế! Một tên lương y có bụng dạ của lòai sói đã được mụ mua với giá rất cao để thủ tiêu nốt hy vọng phục hồi Chân Lý. Nó lén cấy thêm thuốc độc vào thành phần thuốc chữa bệnh. Thế là mẹ con Lý Thông có cơ hội thể hiện lòng kính yêu đức vua cùng hoàng hậu qua những giọt nước mắt cá sấu chia buồn ngày công chúa xuống huyệt. Đám tang lớn nhất vương quốc, những trận mưa nước mắt tràn ngập làm mặn héo cả vườn thượng uyển nơi công chúa nằm xuống…

 Vua cho xây một đền thờ, truyền dân đối xử với linh hồn công chúa như với một vị thánh. Chân Lý tách khỏi đời sống bằng việc được vương quyền phong thánh - một cách xa xỉ tinh thần của thời đại thiếu điều kiện cứu Chân Lý bằng khoa học!

*

* * *

 Thất vọng và cô đơn đẩy Thạch Sanh chìm nghỉm vào sa đọa. Chàng say sưa ca réo chửi từ thằng Lý Thông bán rượu ở trần thế đến ông Thượng đế ngu xuẩn bất tài trên cao xanh. Cây đa là nơi ngã ba, ngã bảy thế mà chẳng còn ai dám lai vãng đến ngoài bầy ruồi bu đen đặc trên mấy súc thịt chim đại bàng hôi thối lòng thòng.

 Một đêm đang thiu thỉu ngủ gật, nghe xôn xao, xôn xao, Sanh mở mắt thì thấy cả đoàn quân ô hợp trước mặt. Đứa cụt tay, đứa mất đầu, đứa chỉ còn một nửa thân mình lơ lửng kéo theo gan ruột lòng thòng… Sanh hết hồn, đứng dậy rút búa, dựa lưng gốc đa thủ thế. Đoàn quân ma khóc lóc thê thảm bằng giọng rú ai oán, rợn người. Một hồi chúng bỗng im lặng, rồi từ đoàn quân có tiếng quát:

 - Này Thạch Sanh! Có nhớ chúng tao không?

Sanh ngơ ngác lắc đầu

 - Chúng tao là oan hồn của mười vạn tử sĩ ở trận đánh nhau với đại bàng cứu Chân Lý đây!

 -…!!!

 - Mày đẩy chúng tao vào cõi chết rồi bình thản duỗi cẳng nhậu nhẹt say sưa. Mày là thằng khốn nạn, thằng bất nhân!

 - Tao cũng đổ máu trong cuộc chiến đó. May hơn chúng mày là tao còn được kéo lê cái thân buồn chán, thừa thãi này với rượu. Tao có được gì đâu? Một mái nhà cũng thiếu! Chúng mày lên kinh đô mà đòi Lý Thông. Nó đang hưởng phú quí và đóng vai nhà dân chủ tư sản trên ấy. Đầu, cổ, chân, tay, ruột gan của chúng mày, máu của tao, công lao của chúng mình bị thằng ấy cướp cả.

 Đám âm binh lao nhao bàn tán, sau một hồi lại cất tiếng:

 - Lúc làm người chúng tao chưa vào cửa phủ cửa vương, giờ làm ma biết đường nào đến. Chúng tao đòi mày thôi!

 Sanh bực bội gào lên:

 - Chúng mày chết vì ngu, hóa ma càng thậm ngu!

*

* * *

 

 Liên tiếp ba đêm, bọn âm binh cứ kéo về quậy phá. Đêm thứ tư chúng dắt theo hồn chằn tinh với đại bàng, khí thế đòi nợ còn cao hơn trước. Hồn đại bàng nhìn thân xác của mình phân rã, đu đưa trên cành đa, bị ruồi bâu, giòi đục, òa khóc:

 - Ta dù sao cũng hạng vua chúa, mi có thắng được ta cũng phải đối xử quân tử chớ! Sao lại bày trò kinh tởm này?

 Tiếp theo hồn chằn tinh nghiến răng chửi rủa:

 - Ta cũng từng là người. Ta có bị thời thế, lịch sử nhào nặn thành yêu quái thì vẫn mang cốt người. Mi phải lấy đạo làm người đối xử chứ, sao lại nỡ quẳng đầu ta một nơi, xác ta một nẻo thế?

 Bọn âm binh nghe chằn tinh, đại bàng kể lể mủi lòng khóc rưng rức, Sanh thấy lạ mới hỏi:

 - Chúng bay trước là kẻ thù của nhau, sao bây giờ lại tỏ thông cảm cho nhau?

 Chúng đồng thanh giải thích:

 - Người thì có người giàu, người nghèo, người tốt, người xấu, người khôn, người dại… Song chết rồi thành chung “giai cấp ma” cả, cùng đói khát vất vưởng như nhau cả!

 Sanh nghe thế gật gù lẩm bẩm:

 - Bình đẳng chỉ ở thế giới bên kia mới có ý nghĩa tuyệt đối!

 Cứ thế đêm nào đám oan hồn cũng về gây sự. Sanh mệt mỏi chán nản đến mức rượu cũng quên uống. Chàng thu xếp lên kinh đô, hy vọng trốn tránh được các oan hồn.

 Thạch Sanh mình độc manh khố, đầu tóc rối bù, phía trước đeo cây đàn, bầu rượu và một xâu thịt đại bàng ẩm ướt, hôi hám. Sau lưng là cây búa. Chàng đi đến đâu, ruồi nhặng từng đám vo ve đến đấy, dân kinh đô ghê tởm tránh xa. Quan phụ trách trật tự - vệ sinh đô thị được cấp báo, cưỡi ngựa đến. Ông đứng từ xa, dùng khăn xông hương bịt mũi rồi cho lính ra xua đuổi Sanh. Nghĩ mình từng có công lớn, không được khen thưởng thì thôi, lại bị ruồng rẫy, tẩy chay, Sanh uất ức giơ búa chém bừa. Lính triều đình tan tác. Sanh nốc rượu bí tỉ rồi ôm đàn ngồi giữa phố tỉ tê khoan nhặt. Sanh gục đầu thả hồn theo tiếng đàn, mê man vào thế giới âm sắc quyến rũ. Không còn tự chủ, mặc cho những ngón tay ma quái rỉ máu bật dây đàn những bài chua xót. Trước tiên đàn cất tiếng trách Sanh mơ mộng hão, cả tin, dễ dãi để đời lợi dụng, lường gạt, rồi xua đuổi, ruồng rẫy. Thiên hạ bất ngờ với tiếng nhạc, đầu tiên đứng bịt mũi nghe, sau bị thu hút lại gần, lại gần hơn rồi đoàn người đông đặc bao quanh Sanh. Họ quên mùi hôi thối, quên vẻ quái vật của tên ăn mày dữ dằn. Họ là công chúng nghệ thuật nên chỉ có thể bị cám dỗ bằng nghệ thuật. Họ đến với nghệ thuật bằng bản năng hướng đến chân, thiện, mỹ vốn có trong mỗi con người. Khi nghệ thuật đã mê hoặc một cách chân chính được họ, họ sẵn sàng bất chấp luật pháp đang cấm tiếp xúc với tên ăn mày, bất chấp đe dọa của bệnh tật, bất chấp tất cả… Tiếng đàn kể sự thật chiến thắng chằn tinh, mô tả tỉ mỉ chiến dịch xâm nhập xứ đại bàng cứu công chúa với mảnh đạn, lửa khói, máu chảy đầu rơi… Những cái chết tức tưởi, thảm khốc vì sự mất mát chút đỉnh tình cảm quí tộc có trong tay vương quyền. Bài chiêu hồn tử sĩ nghe u uất như cả ngàn ngàn con người đang giãy giụa, rên xiết! Sau cùng là vạch mặt Lý Thông được tiếp nối khúc ca bi tráng của chiến tranh!

 Sanh hát ngoài chợ đông, trong hoàng cung vẫn yên ắng lạnh lẽo. Tể tướng Lý Thông cùng mẹ đang rủ rỉ những mưu đồ chính trị. Các quan đang tụm năm tụm bảy nói xấu nhau, lính tráng đứa đánh bài đứa ngủ gật. Ở khu vực thiêng liêng được canh chừng cẩn mật, vua với hoàng hậu đang ôm nhau ngủ trưa. Hoàng hậu đang cù vào nách vua để gây cho ngài cảm hứng. Vua tủm tỉm cười rồi than thở: “Ái khanh của ta sao mà…”, bỗng… “ầm” tiếng nổ khủng khiếp từ phía vườn thượng uyển làm cả kinh thành náo loạn. Quan quân lao nhao ùa ra vườn, vua cùng hoàng hậu hớt hải sửa lại xiêm y… Công chúa đội mồ sống dậy, linh động đẹp đẽ như chưa hề bị Lý Thông cưỡng hiếp. Thiên hạ cúi lạy như tế sao, công chúa vui vẻ tuyên bố:

 - Ta đã bình phục!

 Vua run rẩy hỏi:

 - Con chết rồi mà?

 Công chúa cười kiêu ngạo:

 - Chân Lý có thể bị bắt cóc, bị giam cầm, bị làm nhục, bị chôn sống vì ngộ nhận… nhưng Chân Lý chưa bao giờ chết cả!

 Nói xong, công chúa bảo cha triệu tên ăn mày hôi hám đang có mặt nơi đám đông. Nàng nói với tên ăn mày:

 - Chàng là Thạch Sanh, chàng là người chiến thắng!

 Sanh nhăn mặt cải chính:

 - Thắng mà nghèo đói, hôi hám thế này thà thua còn hơn!

 Quay sang nhà vua, công chúa chỉ Thạch Sanh nói:

 - Người này cứu con!

 - Thế còn Lý Thông?

 - Nó đáng chết, nhưng đừng giết nó. Không có nó, cái tốt của Thạch Sanh vô nghĩa!

 Vua muốn gả công chúa cho Sanh, Sanh từ chối giải thích:

 - Hãy để Chân Lý là của chung như bệ hạ từng sáng suốt tuyên bố!

 Vua không nói gì, Sanh trở về với căn nhà vua cho ở nhờ. Nửa đêm mẹ con Lý Thông bị tước hết của cải, quyền lực tìm đến Sanh tạ tội. Sanh thản nhiên bảo:

 - Chả có gì ân oán, cứ nghĩ như Chân Lý: không có cái xấu của mi, cái tốt của ta vô nghĩa. Mà thực ra ta chẳng mong thánh thiện. Ta có nhu cầu như mọi người và lúc thiếu thốn quá thì thịt chim nướng cần rượu ngon cho đủ vị, thế thôi! Còn mẹ con bà cũng chẳng xấu, khi nghèo, bị ức hiếp, người ta có quyền nỗ lực cho danh vọng, có quyền làm giàu!



 

 

CHƯƠNG II

 

 

 Từ ngày công chúa phục sinh, đức vua có phần vui vẻ hơn. Song đó chỉ là bề ngoài, bên trong ngài ngấm ngầm thù Sanh - tên ăn mày rách rưới dám từ chối lời mời làm phò mã của ngài. Vốn tính thâm nên nỗi nhục này ngài giấu tận đáy lòng. Từ bao lâu nay ở cương vị ông vua, ngài quen thái độ ban ơn, bố thí. Quen được nghe ca ngợi tri ân. Vương quốc muôn vạn dân này thành hình ra sao? Sung sướng, đau khổ thế nào? Ngài cóc cần biết. Ngài cũng chả quan tâm đến xương máu, mồ hôi của những ai gầy dựng nên non sông gấm vóc, thành quách, lâu đài, làng mạc này! Ngài chỉ biết đang là vua, đang nắm quyền lực tối cao thì tất cả vật chất đến tinh thần ở xứ sở này là của riêng ngài. Chỉ mình ngài có quyền ban phát, tiêu xài hay tước đoạt. Dù đó là vàng bạc, sắt, gỗ hay xương máu. Đến trước ngài, từ tể tướng tới dân đen đều phải mọp lạy nói lời cung kính. Vậy mà thằng khố rách Thạch Sanh dám từ chối ân huệ của ngài. Chỉ với cái gật đầu, nó sẽ được hưởng lạc thú với thân thể đàn bà đẹp đẽ, danh giá nhất vương quốc. Một cái gật đầu, từ tên cùng đinh ngủ gốc đa thành hoàng tộc, ngựa xe đầy tớ, lâu đài xênh xang…

Hắn ngu thì kệ hắn! Hắn ngu thì tài sản của ngài bớt bị chia sẻ. Nhưng sao hắn dám từ chối ân huệ của quyền lực tột đỉnh? Dám xúc phạm từ công chúa cưng của ngài đến danh dự hoàng tộc trước đám đông? Đã vậy còn lên giọng dạy đời: “Hãy để Chân Lý là của chung như bệ hạ từng sáng suốt tuyên bố!”, có nghĩa là lúc ban ân huệ cho hắn, ta không sáng suốt? Hừm! Láo đến thế là cùng! Hơn nữa cãi lời vua thì khác nào muốn phản loạn!

 Ấm ức trong bụng, vua nghĩ kế trả thù và cũng là đập tan mầm mống phản loạn. Một hôm vua gọi Sanh từ nhà trọ vào hỏi một câu ghê rợn:

 - Ta muốn cưới mẹ mi làm thứ phi?

 Sanh chưa hiểu nên giương mắt ngơ ngác:

 - Tâu bệ hạ, mẹ tôi chết rồi!

 - Ta muốn làm chồng của cái xác ấy!

 Mặt vua tím bầm, mắt trắng dã, nụ cười vừa phóng đãng vừa thâm độc. Bá quan văn võ đứng hai bên nghe xong kinh sợ, không ai dám ngước lên. Sanh trừng mắt, run lên vì căm giận, dẫm chân thùm thụp rồi vung tay chửi toáng:

 - Đồ hôn quân bệnh hoạn!

 Vua cười nhạt, rít từng lời:

 - Tội khi quân, chết!

 Dứt câu, nền nhà dưới chân Sanh kêu “toác”, sụp “ầm”. Quên cả lễ nghi, bá quan bu đến xem thấy Sanh đã đứng dưới hố sâu cả vài sải tay. Trên ngai vàng vua lại phẩy tay. Tiếng ròng rọc rít lên ken két rồi từ trần cung điện, một khối đá lớn vuông vức được từ từ thả xuống lấp hố.

Thạch Sanh ở dưới gồng mình, đưa tay chống không cho khối đá nén xuống, sức mạnh ghê gớm ấy làm khối đá không xuống được, lồi cao hơn nền nhà đúng bằng chiều cao chống đỡ của Sanh. Vua cười khanh khách thú vị, ngài sai lính khiêng ngai vàng đặt lên đó rồi ung dung trèo lên ngồi, vuốt râu tự mãn:

 - Đè đầu, cưỡi cổ anh hùng được mới là vua giỏi!

 Các quan toàn thứ nịnh thần nhao nhao tán tụng. Ngài sướng quá lim dim, đê mê tận hưởng…

*

* * *

 Bị tước hết quyền chức, tài sản, mẹ Lý Thông buồn, bệnh, chết. Thông một mình lủi thủi về quê cày cuốc kiếm cơm. Đêm đêm nghiền ngẫm sách “Kinh bang tế thế” của thần tài, Thông vẫn tin rằng: “Hoàng đế của ngày mai sẽ thống trị thế giới bằng phương thức làm ra của cải nhiều nhất thay vì bằng những đạo binh”. Ngày còn làm tể tướng, Thông lập ra hàng trăm lò rượu trên khắp mọi miền đất nước. Cứ mỗi xã một lò. Nay vua lệnh hủy hết. Bởi vua và triều đình chỉ dùng rượu ngoại nhập, quên rằng dân chúng cũng có nhu cầu giải ưu phiền bằng rượu như quí tộc. Dưới con mắt của kẻ lên ngôi nhờ lý lịch hoàng tộc, quần chúng nhân dân luôn bị khinh rẻ, coi thường! Mặt khác, vua cũng sợ những cơn say của nghệ sỹ. Một thằng Thạch Sanh say sưa ca réo chửi đời làm dân kinh đô mê tít, muốn theo nó, chẳng phải là bài học đầu tiên về chống phản loạn đó sao?

 Mùi vị ngọt ngào, nồng nàn và những khoái cảm tuyệt diệu của rượu Lý Thông nổi tiếng một thời vẫn cứ âm ỉ thèm khát trong dân chúng. Khi Thông về ở ẩn, lý trưởng vùng đó mò đến đề nghị hợp tác nấu rượu lậu. Hắn nói:

 - Trước hết mình có thứ để vui, sau nữa bán rượu lời lắm!

 Thông vặn:

 - Vua cấm, nấu làm sao?

 Lý trưởng cười:

 - Vùng này xa kinh đô, dân đang thèm, ngu gì mách vua.

 Thông nghĩ phận mình đang bị lưu đày, có thêm tội nữa chẳng sao, nhận lời. Họ lập lò nấu lén trong các bụi lau, đế ngoài đồng (nên gọi lái rượu sang đế). Mỗi tuần hai lần xuất thành phẩm, toàn vào ban đêm. Dân khắp nơi cắn cỏ ngậm tăm xếp thành hàng dài chờ chực được phân phối. Lấy rượu xong bọc vò trong áo, tất tả về, chui vào buồng kín nhâm nhi từng chút, từng chút cho thỏa cơn thèm.

 Từ ngày có thêm hơi men kích thích hoan lạc, mỗi sáng dậy, phụ nữ có chồng hai má đỏ bừng, mặt mày phây phây thỏa mãn. Các bà thích lắm, hôm nào trước khi vào mùng cũng hít hít mồm chồng xem đã được bồi bổ bằng mấy ve đế chưa? Con nít theo những cuộc mây mưa cứ tì tì ra đời, nhận khổ. Mò tro, bốc trấu qua ngày rồi cũng lớn, cũng thành đàn ông, đàn bà. Ngày quần quật trên đồng, tối về quần nhau trên giường. Tồn tại của họ gắn với lao khổ, nghèo, say sưa và nhục dục.

 Người càng đông, rượu Thông bán càng chạy nên Thông trở thành phú hộ trong vùng, nhưng tư duy chiến lược không cho phép Thông dừng lại. Hắn bắt đầu lén lút mở rộng sản xuất và thị trường ra những miền lân cận. Lò rượu lậu mọc tới đâu, hệ thống chính quyền ở đó bị vô hiệu hóa. Thông còn cho đóng rượu vào các vò nhỏ, dán nhãn hiệu, địa chỉ sản xuất rồi thả trôi nổi ra sông biển. Tàu buôn nước ngoài vớt được, nhấp thử, mê quá, mò đến ký hợp đồng xuất khẩu lậu với Thông

 Thông cho chuyển hàng từ các lò nấu trong nội địa ra bến cảng đã mua quan thuế trước, xuất ra nước ngoài đổi thiết bị nấu rượu tiên tiến về, xây dựng thành những đô thị công nghiệp mà ông vua quan liêu vẫn không hề biết. Dần dần Thông kiểm soát một hệ thống ngầm ôm trọn vương quốc về tài chánh, nhân lực, quân sự, pháp luật. Ý Thông là ý trời, vua chỉ còn đủ sức làm vua thật sự với đám vệ binh trung tín và bầy cung nữ héo hon. Sau khi mở thêm nhiều đại lý tiêu thụ ở mười tám quốc gia lân bang, mối quan hệ giữa Thông với giới tư sản liên quốc trở thành những đường dây ràng buộc quyền lợi chặt chẽ lẫn nhau

 Một phía lâm vào khủng hoảng, phía kia sẽ ảnh hưởng trầm trọng theo. Một hiệp ước liên minh an ninh thương mại đã đưa hơn trăm vạn quân liên quốc áp sát biên giới, gióng trống, bắn pháo, giăng cờ, làm hậu thuẫn cho Thông ra mặt đòi chia quyền lực với nhà vua.

 Người đứng đầu hoàng cung phong kiến cổ hủ, lạc hậu bây giờ mới hiểu sức mạnh ghê gớm của phương thức sản xuất Lý Thông đối với vương quyền của mình. Ngài cấp tốc thiết triều, kêu gọi các tướng lĩnh, quan lại, nhân hào hãy cùng vua chống lại tên nhà giàu họ Lý. Lạ lùng thay, quan tướng xìu xìu ểnh ểnh, giới nhân sỹ thì không chút khí thế. Đau khổ và ngạc nhiên, vua mời công chúa Chân Lý đến.

 Chân Lý lạnh lùng bảo:

 - “Tư bản” đã tha hóa chúng hết rồi!

 Vua hỏi:

 - “Tư bản” là gì?

 Công chúa cười nhạt, nói:

 - Cách đây lâu lắm rồi, hành tinh của chúng ta chỉ có một quốc gia duy nhất, đó là nước nguyên thủy lạc hậu như thú và bình đẳng tuyệt đối. Khi con người bắt đầu chuyển từ hái lượm, săn bắt lên canh tác lúa nước, phát triển công cụ sản xuất thì bầu trời bắt đầu xuất hiện năm mặt trời: đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, pháp luật, triết học. Sau đó bản thân mặt trời triết học tự phân thành ba: triết học, khoa học, giáo dục. Thế gian văn minh có 7 mặt trời cung cấp năng lượng cho mọi nảy nở sinh sôi. Đời sống thái hòa sung túc, người người phát huy nhân vị độc đáo của mình. Thấy thế gian giàu có, hạnh phúc, vị thần sinh ra từ bóng tối căm ghét các mặt trời. Ông xuống cai trị và trở thành nhà chính trị đầu tiên của trần thế, ông triệu tập một hội đồng cố vấn, mục tiêu là tìm cách hủy hoại mọi nguồn sáng ngoài lửa và châu báu. Trong buổi khai cuộc, một pháp sư có tiền kiếp là loài rắn độc, đứng lên:

 - Thưa Thế vương. Tổ tiên tôi vốn căm ghét loài người lúc nào cũng nêu giòng giống nhà tôi như mặt đối lập với điều họ dựa dẫm vào và gọi là đạo đức. Từ cuộc chiến kéo dài muôn vạn năm đó, chúng tôi dã nhìn ra bản chất sâu kín của loài người và có cách hủy hoại chúng. Mặt trời đạo đức sẽ tự hóa đen khi ngài in lá bùa này ra muôn triệu lá bùa rải khắp thế gian. Sau đó ngài ra lệnh rằng ai có lá bùa này sẽ đổi được châu báu, chức tước, sắc đẹp và cả danh dự, học vấn nữa. Nhưng nhớ là khi đưa vào lưu thông ngài đừng gọi nó là “bùa rắn độc” mà đặt cho nó cái tên ngắn gọn, dễ nhớ. Theo thiển ý của hạ thần, nên cho nó danh xưng là Tiền.

 Ngay hôm sau quân lính cải trang đi rải những lá bùa bằng bàn tay, màu vàng, trên có in hình con rắn vắt mình qua cây gậy (   ). Sau đó theo ý nhà vua, biểu tượng được thêm một gạch ngang, thành hai gạch tượng trưng cho thiên địa: con rắn vắt mình quanh trời đất thống trị nhân gian (  ).Nếu nhìn đứng thì ý nghĩa là sợi dây trói buộc quan hệ giữa hai người

Một sáng lạnh lẽo, tiếng loa róng riết đánh thức hẳn những ai còn lưu luyến với giấc mơ. Loa rằng:

 - Các thần dân nghe đây, đêm qua Thượng đế đã gởi xuống cho đức vua những lá kim ngân. Nhưng một trận cuồng phong đã làm kim ngân bay tứ tán. Nay đức vua lệnh cho ai nhặt được đem nộp quan sở tại sẽ được trọng thưởng: người già được ăn ngon, ngựa tốt. Trẻ con, phụ nữ được cho lụa là, châu ngọc. Trai tráng được đổi kim ngân lấy vợ đẹp. Ai nhặt được trăm lá sẽ bổ chức quan! Nghe đây! Nghe đây!

 Mọi nhà nhao nhao xuống giường, lần mò tìm hiểu thì thấy đúng thật. Trong vườn, ngoài sân, trên đường kim ngân tỏa sáng rực rỡ, chờ đợi… Vài người nhanh chân đến sở quan với mấy tờ kim ngân nhặt vội vàng và được thỏa mãn nguyện vọng.

Thế là trần gian đang từ yên tĩnh chuyển sang náo nức, rồi hỗn loạn. Thiên hạ đổ xô vào cuộc. Từ làng xóm xa xôi đến kinh đô tráng lệ, một trận bão của những dục vọng đã cuốn già, trẻ, lớn bé, gái trai vào cơn say tiền…Vợ chồng giành giật, cắn xé nhau. Cha con, anh em, bằng hữu dẫm đạp lên nhau. Trật tự nghìn năm đổ nhào trong nháy mắt!

 Cuộc tìm kiếm chấm dứt, người người mở mắt ra, tỉnh táo lại thì cuộc phân định đã rõ ràng. Có kẻ ôm tiền không xuể, có kẻ vài tờ, kém may mắn hơn chỉ tay không… Thế là thời kỳ tranh cướp thay thế giai đoạn kiếm tìm. Dao kiếm, bùa rìu, gậy gộc thay thế cái bắt tay thân thiện. Lừa đảo, cướp giật thay thế nhân nghĩa, tình cảm. Máu, danh dự, trinh tiết ứa ra thấm đẫm từng tờ giấy có giá trị trao đổi mang biểu tượng của loài rắn độc.

 Kết thúc một ngày sôi bỏng, mặt trời đạo đức đau đớn vĩnh biệt loài người bằng cơn giãy chết. Máu, một trận mưa máu trùm xuống trần gian, đạo đức trút tất cả sinh lực cuối cùng rồi âm thầm hóa đen trên đầu thế gian nhờ nhờ tối, hỗn loạn và đầy rẫy tội ác! Pháp sư rắn độc sướng rên vì chiến thắng. Hắn cho chế tạo tiếp chiếc nỏ bắn những mũi tên khổng lồ. Trên đầu những mũi tên liên lục địa này, hắn cho dán đầy tiền, các dụ phong chức tước, bổng lộc, rồi cột thêm những cô gái đẹp vào. Mỗi mũi tên bắn đi, một mặt trời xót xa tạm biệt loài người. Cứ thế cho đến lúc thế gian tối mù…

 - Tiền là như vậy! Nếu phát minh ra lửa đưa con người thoát khỏi giới động vật, thì phát minh ra tiền giúp nhân loại duy trì bản chất mông muội của mình. Tiền tích tụ lớn qua sản xuất, lưu thông hàng hóa và có khả năng đẻ ra nhiều tiền khác gọi là “tư bản”. Tư bản đã phát triển sớm ở một số quốc gia phía Tây với những đoàn quân viễn chinh tham lam, hung bạo. Trên đường tìm kiếm thị trường và tài nguyên, chúng đã biến rất nhiều quốc gia chậm tiến thành thuộc địa; đã tàn sát ngàn vạn người và cướp bóc, hủy hoại biết bao nền văn hóa đặc sắc. Ở giai đoạn đầu lịch sử, tư bản được tích lũy bằng máu, nước mắt và căm hờn của nhiều dân tộc. Tội ác đó được ghi trong Mẫu thư cùng với những lời hiệu triệu chống lại “tư bản”. Những lời đó lan tỏa trong tâm trí người nghèo như gió mưa ngấm vào lòng đất, như con người sinh ra đã biết khóc, như mặc khải của đấng vô hình an ủi cho những đau khổ trần thế… Với vương quốc của ta, tư bản là tiền mẹ - tiềm lực ghê gớm nhất hiện Lý Thông đang có.

 Vua lo lắng hỏi:

 - Chống lại nó được không?

 Chân Lý cười:

 - Vô ích! Đó là qui luật, bảy mặt trời còn chết kể gì một ông vua!

 Vua hỏi như muốn khóc:

 - Thế phải làm sao?

 - Chia đôi ngai vàng cho Lý Thông!

 Hôm sau vua lại thiết triều, cho mời Lý Thông vào cùng ngồi trên ngai vàng. Đã nhận thức tất yếu khách quan qua lời dạy của Chân Lý nên vua vui vẻ giới thiệu với Thông:

 - Ngai vàng đặt trên khối đá nặng muôn tấn. Dưới sức đè nén khủng khiếp này là thân xác kiệt quệ của thằng khố rách Thạch Sanh!

 Thông bắt tay vua:

 - Chúng mình liên kết nhau đè đầu cưỡi cổ thằng khố rách!

 Sau này khi vương quốc trở thành thuộc địa của thực dân Tây Dương, vua đã mời luôn quan Thái thú toàn quyền mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng cùng ngồi trên khối đá đè nén này. Để giữ thể diện cho ông vua bù nhìn, Thái thú toàn quyền kê ghế thấp hơn vua, nhưng cao hơn ghế của tư bản dân tộc Lý Thông. Câu hát nhân gian “Sanh ta một cổ ba tròng” là vậy!

*

* * *

 

Thạch Sanh bị nén dưới sức nặng của ngai vàng phong kiến bao lâu nay, đã đau đớn tận tâm can. Giờ lịch sử lại đặt thêm con buôn họ Lý núc ních mỡ lên khối đá, làm chàng Thạch cơ hồ ngã quị. Đã vậy gã toàn quyền mũi lõ mỗi lúc thiết triều đều mang theo “chính sách đồng hóa thuộc địa”, để đè cho Sanh sụm luôn! Gồng mình chống chọi thêm ít lâu nữa thì Sanh kiệt sức, gục đầu, buông xuôi.

 Lạ lùng thay, Sanh vừa cúi mặt sắp chạm đáy lao tù thì phát hiện một cuốn sách nằm ngay dưới chân. Có thể của một nhà cách mạng bị giam cầm trước đó để lại. Cũng có thể cuộc gặp gỡ giữa Sanh và cuốn sách này là định mệnh của người anh hùng và cả dân tộc Thạch Đế lãnh đạo sau này. Hai tay chống đỡ khối đè nén, hai bàn chân của Sanh lật giở từng trang sách. Ánh sáng nhỏ nhoi le lói soi từ bên trên xuống, Sanh cố đọc và bị cuốn hút vào từng chữ. Đây là Mẫu thư - cuốn sách dạy những người lao khổ bị áp bức bất công vùng lên lật đổ mọi ách thống trị. Sanh càng đọc càng thấy máu sôi sùng sục, sức mạnh trong người dâng lên cuồn cuộn, trái tim giục giã vùng lên! Vùng lên hỡi chàng “một cổ ba tròng”… Sanh thét lên làm rung chuyển mọi địa tầng, rồi hất tung khối đá nặng vô hạn lên cao đụng trời xanh. Sanh lao lên từ hố thẳm ngục tù đào giữa thành quách, cung điện tráng lệ, xa hoa. Máu trong người Sanh bốc khói nghi ngút qua các lỗ chân lông, tay vung lưỡi búa sáng loáng, mồm phụt lửa đốt cháy dây chuyền từ lâu đài nguy nga của vua, đến đô thị công nghiệp ầm ầm tiếng máy xay lúa của Lý Thông, lan xuống tận làng mạc xanh bóng tre nghèo khổ. Biên giới xa xôi hẻo lánh, biển cả mênh mông cũng phừng phừng cháy lửa Thạch Sanh.

 Ông vua già cỗi chết tại chỗ. Quan toàn quyền mũi lõ chạy một lèo ra biển, giương buồm dông thẳng về nước mẹ. Lý Thông lộn nhào rồi cuống cuồng trốn. Sanh xách búa rượt theo. Thông vừa chạy vừa thảy xuống đường từng nắm châu báu đủ màu sắc. Sanh hoa mắt, đạp lên những viên châu lớn té lộn cổ. Mặt mũi tay chân tét da rướm máu. Sanh lồm cồm đứng lên, tức tối phang một búa vào lưng Thông. Thông né được, lưỡi búa không kết liễu, nhưng gây thương tích nặng nề cho Thông.

 Lửa căm thù của Sanh lên đến cao trào đã làm cháy một phần thư viện đầy ắp tri thức, sứt mẻ những cột chống đỡ khu vườn treo nghệ thuật và làm Thượng đế của các tôn giáo rùng mình!

Liên minh mười tám nước thấy Sanh to lớn lạ thường, một tay cầm búa, tay kia giơ cao Mẫu thư, sức mạnh như thác lũ xô đổ mọi thành trì, đã sợ hãi gọi Sanh là bóng ma hãi hùng.

Sanh ngạo nghễ tuyên bố:

 - Ta đã làm đảo lộn thế giới bằng căm thù, lửa và thép!

 Buổi chiều hậu chiến nhạt nhòa, đổ vỡ, vắng lặng. Mình Sanh vừa vui, vừa buồn, thấy mình cô đơn dù chiến thắng vang dội. Quệt mồ hôi trán, Sanh chợt nghĩ đến chiếc ngai vàng và mạnh mẽ trở về…

*

* * *

 

Lên ngôi xong, việc đầu tiên là Sanh sai lính triệu Chân Lý đến hầu, Sanh hỏi:

 - Ta đã xóa hết trật tự cũ, thay mặt bá tánh nghèo khổ nắm vương quyền, hiệu Thạch Đế, đặt tên nước là vương quốc Rồng, có hợp lòng Chân Lý không?

 Chân Lý cười chua chát:

 - Lịch sử tạo ra Chân Lý, không có trường hợp ngược lại. Bệ hạ làm nên lịch sử còn cần Chân Lý làm gì?

 - Nàng mất cha mẹ, gia quyến, địa vị… có căm thù ta vì điều đó không?

 - Đã là Chân Lý, thì không có tình riêng, không biết căm thù. Còn địa vị của Chân Lý không ai thay đổi được!

 Thạch đế đặt hai cánh tay dũng mãnh, đầy những vết thương chiến tranh lên đôi vai gầy nhỏ của Chân Lý. Ngài thều thào:

 - Ta muốn cưới nàng?

 Chân Lý ngước đôi mắt buồn xa xăm, e dè hỏi:

 - Có tình yêu và sự tôn trọng không?

 Đế cười sằng sặc:

 - Ta là hoàng đế, chỉ có ban phát không thể van xin. Với Chân Lý cũng vậy!

 Chân Lý xõa tóc phát nguyền:

 - Nếu thế sẽ không còn Chân Lý!

 Thạch Đế bực bội:

 - Ta không muốn dùng bạo lực, cuộc hôn nhân này cũng không thể theo điều kiện của tàn dư một chế độ vừa bị ta đánh đổ. Nàng không thể ở bên cạnh ngai vàng!

 Nói rồi sai quân tiễn Chân Lý.

*

* * *

 

 Mặc dù biết Thượng đế của mình yêu thương người nghèo đến mức mơ mộng và những điều ngài dạy về một xã hội bình đẳng, công bằng phải xây dựng trên nền tảng một cỗ máy khổng lồ sản xuất ra của cải thừa mứa để mỗi người đều “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”; Dù chưa có cỗ máy đó, nhưng với những gì đã đọc trong Mẫu thư, Thạch Đế vẫn quyết tâm nghiền ngẫm, hệ thống lại cùng những tri thức ấp ủ ngày nào thành một hệ thống lý luận và đường lối chống áp bức bất công, tư hữu. Điều này nằm trong máu những người nghèo khổ ý thức được sự bất công và nỗ lực đòi công bằng!

 Thoạt tiên ngài phá hủy chế độ thuộc địa, tuyên bố xứ Rồng độc lập, tự chủ và bình đẳng với tất cả các quốc gia. Ngài lại cho tịch biên tài sản của Lý Thông để làm hài lòng bá tánh. Những con số đưa về thật kinh khủng: Hàng trăm hãng rượu từ mọi miền đất nước. Hàng vạn mẫu ruộng trồng lúa nếp cung cấp nguyên liệu. Hàng ngàn điểm bán rượu sỉ lẻ; hàng chục đội thuyền, xe vận chuyển, hàng trăm vạn người sống và làm việc trong tổ chức của Lý Thông, chưa kể hệ thống đại lý ở nước ngoài… Thạch Đế ra lệnh quốc hữu hóa toàn bộ. Chia địa ốc và phương tiện sản xuất cho những gia đình có chồng, con trước theo vua đánh đại bàng, siêu quyền lực, hy sinh. Còn ruộng đất ngài phân phát hết cho những dân nghèo, không đất cày cấy. Cuộc cải cách điền địa đó đã làm những nhà giàu, quan lại cũ, hoàng tộc bị mất đất căm hận Thạch Đế vô cùng. Cũng có một số trung nông hoặc những người tạo tài sản bằng mồ hôi nước mắt nhiều đời bị quy oan thành địa chủ và bị đào tận gốc như quý tộc, trưởng giả. Oan ức thành nỗi đau ngấm ngầm kéo dài suốt hàng chục năm sau đó trong không ít gia đình, dòng họ. Rất may Thạch Đế kịp sửa sai và sau này nỗ lực phát triển tư bản nông nghiệp như: Dồn điền đổi thửa để tích tụ ruộng đất, mô hình trang trại và các liên doanh quốc tế sản xuất nông nghiệp. Còn ở thời điểm lịch sử mấy mươi năm trước đó, dân ở vương quốc này đói nghèo suốt mấy nghìn năm, reo hò ca hát tri ân vua Thạch Sanh đã chia đất cho họ. Vua nói gì nghe nấy. Họ thuộc lòng chuyện căm thù địa chủ phong kiến xa xưa, ghét thậm gã con buôn họ Lý bóc lột. Thạch Đế đã có một liên minh vững mạnh làm gốc. Mới thực hiện một phần mười lý thuyết bình đẳng, đã thấy đất nước khởi sắc, vua phấn khởi lao sâu vào cải cách triệt để.

 Có kẻ nịnh hót tinh vi, nắm được ước mơ thầm kín của vua, tán:

 - Thượng đế đầu hàng, bệ hạ làm được, tài năng này vượt cả trời cao.

 Vua khen phải, kể thêm:

 - Ngày xưa mẹ ta ở đợ trăm nhà. Ta cũng từng đi lính đánh thuê cho gã họ Lý, từng chặt đầu bọn quan lại thoái hóa, biến chất hại dân và đập tan siêu quyền lực trong bóng tối. Cuộc đấu tranh của ta đi từ tự phát - được Thượng đế mặc khải, đến tự giác - khi ta đọc được Mẫu thư, để lật đổ ông vua cũ, thực hiện nguyện vọng của ngàn vạn dân nghèo.

 Ngay hôm ấy vua lệnh rời bỏ kinh đô xa hoa của bọn trưởng giả, dời bản doanh về gốc đa, cất chòi trên chạc cây để ở và chỉ đạo. Đồng thời xây dựng thật nhiều lán trại hình vòng cung ôm gốc đa làm tâm điểm. Vua hủy chế độ hoàng gia, xóa tư hữu, bắt hoàng tộc, trí thức và quan chức cao cấp cũ vào ở chung trong trại như binh sĩ, nông dân. Mỗi khu trại vua đặt một đầu lĩnh để phân phối thực phẩm, áo quần, điều tiết lao động và canh chừng bọn phản loạn. Mỗi khu trại là một cấp hành chính được gọi là “tập xã” tự cung tự cấp, đồng thời là một pháo đài an ninh, quân sự.

 Mỗi sáng đứng nơi cửa Phủ đế tiền phương đặt trên chạc cây, nhìn xuống, thấy người người mặc áo nâu sòng, hồ hởi tăng gia sản suất trong tiếng kẻng hiệu giòn giã, cờ xí rợp trời, lòng vua thư thái lạ. Ngài nhắm rượu trong bầu thần, khà, chép miệng:

- Ta đã xây dựng một thiên đàng bình đẳng mà ngàn đời mơ ước!

 Thạch Đế trong giai đoạn lịch sử này đã quên hai điều quan trọng. Thứ nhất, mới biết giành vương quyền bằng sức mạnh mà chưa được học cách dụng quyền trong kinh bang tế thế. Thứ hai, ngài quên là mình đã tự rút ra từ thực tiễn rằng: “Bình đẳng chỉ có ý nghĩa tuyệt đối ở thế giới bên kia”. Hai thiếu sót này cộng với hoàn cảnh lịch sử đã dẫn Thạch Đế đến những sai lầm sau này được gọi là “chủ quan duy ý chí”!

*

* * *

 

 Vua vẫn cho Lý Thông sống, nhưng nhốt hắn vào ruột rỗng của cây đa để cải tạo. Cả hệ thống “Tư bản” Lý Thông dày công xây dựng và có quan hệ chặt chẽ với lân bang bị đánh đổ, triệt phá sạch. Các nhà máy hoang phế dần, ngập cỏ dại trở thành nơi phóng uế, đổ rác. Các vùng nguyên liệu bao la tiêu điều theo phương thức trăm nhà cày chung thửa ruộng, “sĩ- nông- thương- công- binh” cùng làm ruộng! Mọi thứ đều được quy ra lúa gạo; lương thực trở thành “vật ngang giá chung” của xã hội lúa nước! Nhiều năm sau Thạch Đế mới nhìn ra “càng dốc sức cho cái bụng thì càng thiếu đói” và đã nỗ lực khắc phục sai lầm chiến lược này!

 Chân Lý sau khi bị xóa hàm hoàng tộc trở về sống với đời thường. Hàng ngày như mọi người, nàng vác cuốc ra đồng. Trưa nghe kẻng đánh vác cuốc về ăn cơm khoai sắn, canh rau muống. Đệ nhất công nương một thời thiếu dinh dưỡng trầm trọng nên tóc rụng, người teo, mắt lờ đờ, cái miệng với những phát ngôn nổi tiếng hóa bầm đen. Có lần đói quá, Chân Lý ăn nhầm cả lưỡi, nửa cái còn lại nói đớt đớt chẳng ai thèm nghe.

 Chân Lý ngọng ngịu vào rừng sống với dã thú. Ngày ngày nàng ngâm mình dưới suối nước tự nhiên, tắm rửa, kỳ cọ số phận long đong. Cũng có người cho rằng giá Chân Lý mềm mỏng, hòa hợp được với vương quyền thì lịch sử xứ Rồng có lẽ đã khác. Điều đó đúng hay sai phải chờ thêm một lần phục sinh nữa của nàng.

*

* * *

 

 Khi Sanh đi trước thời đại, xóa đẳng cấp, bỏ tư hữu, chống thương nghiệp phát sinh lợi nhuận, chống tư bản liên kết quốc tế, liên minh mười tám nước ghét lắm! Họ cho đặt ở biên giới một hàng loa khổng lồ ngày đêm chửi bới Thạch Sanh đàn áp tự do dân chủ, đày đọa trí thức, ngược đãi Chân Lý, thủ tiêu tôn giáo…

Thạch Đế căm lắm. Một đêm không trăng sao, ngài cùng vài bộ tướng thân tín xông trận, bắt xướng ngôn viên nữ của cái đài phát thanh tự do phản động đó, đem về cải tạo cùng Lý Thông.

Hình phạt này rõ hữu hiệu: Liên quốc cử thêm hàng trăm xướng ngôn viên khác, trả lương hậu, cũng không ai dám nhận. Thế là hệ thống tuyên truyền ấy trở nên vô dụng, phơi sương gió thời gian rồi hỏng hết. Các nước tính chuyện trừng phạt Thạch Đế bằng quân sự. Một cuộc chiến tranh khốc liệt nhất lịch sử loài người sắp diễn ra.

*

* * *

Lý Thông lâu nay sống trong cái bọng đa ẩm ướt, tối om đã quen. Nhưng nỗi cô đơn và những đòi hỏi sinh lý ở thằng đàn ông dồi dào sức lực vẫn thường hành hạ hắn. Khi ngục tù có thêm giống cái, hắn mừng rỡ ôm riết cái thân quặt quẹo đói lả ấy vào lòng. Nàng đói, hắn biết! Nhưng thực phẩm hàng ngày của hắn chỉ đủ nuôi một người. Thời kỳ quá độ thiếu đói có gì ngoài khoai bắp. Với ông chủ lớn quen ăn cao lương mỹ vị nhập khẩu, nhai khoai bắp dài hơi là một cực hình. Nghĩ mãi không biết cho ăn gì, Thông cắn tay cho tuôn máu, rồi áp miệng nàng vào. Máu Thông nóng rần, chảy đến đâu hồi sinh cho xướng nữ tới đó. Lúc tỉnh lại biết người cứu mình là Lý Thông, người đẹp nói:

 - Ngài là thiên tài kinh doanh, thần tượng của thế giới tự do chúng tôi.

 Thông cười:

 - Ta mà làm vua, thế giới sẽ không còn biên giới. Ta biến cả thế giới thành một nước, một đồng tiền chung, một ngôn ngữ…

 Xướng nữ vuốt tóc Thông:

 - Bao giờ ngài thực hiện những dự định lớn lao đó, em sẽ là người phát ngôn không mệt mỏi của ngài.

 Thông thở dài buồn bã:

 - Chờ cho Thạch Sanh tỉnh rượu đã!

 Xướng nữ thấy thương Thông vô hạn, nàng đặt lên môi chàng một nụ hôn:

 - Em quyết sống cùng chàng, dù phải ăn bất cứ thứ gì để sống.

 Ít lâu sau, nàng có con cùng Thông. Cậu bé sinh ra toàn thân thơm nức mùi rượu, thứ rượu do Thông sản xuất có thương hiệu ở khắp lân bang. Xướng nữ vui mừng chỉ con bảo:

 - Thiên tài kinh doanh của tương lai!

 Thông lắc đầu:

 - Nó ra đời sớm quá, e rằng chết yểu thôi.

*

* * *

 

 Mùa thu năm ấy cây đa trổ toàn lá đỏ, quân sư của Thạch Đế bảo:

 - Sắp có đổ máu lớn!

 Đế gật đầu:

 - Ta chờ đợi từ lâu.

 Đế cho quân mài lại khí giới, đàn ông, trai tráng đưa hết ra biên giới. Đàn bà tích trữ lương khô, chuẩn bị dao kéo, bông băng, thuốc men cứu thương. Có người lo địch quá hùng mạnh và có nhiều vũ khí vượt trội. Thạch Đế cười:

 - Chiến tranh vệ quốc, chính nghĩa thuộc về ta. Hơn nữa lực lượng tiến bộ trên thế giới và các nước anh em ủng hộ ta. Ta sẽ trường kỳ chiến đấu, dù có cháy hết rừng núi và hy sinh đến người cuối cùng, cũng phải giữ cho được giang sơn Rồng.

 Quân sư thở dài. Thạch Đế động viên toàn lực “xã hội bình đẳng có vua” của mình ra trận.

 Bên kia biên giới, hơn năm mươi vạn quân đã chuẩn bị xong. Hàng trăm viên pháo lệnh đủ màu bắn lên. Vó ngựa cuốn bụi mịt mù, cờ xí rợp trời, chiêng trống khua rần, rồi những khối bộ binh như cơn lốc tràn qua cửa ải. Ngoài biển hàng trăm chiến thuyền hạ buồm, bắn đại bác, áp sát bờ rồi há mồm nhả ra hơn ba chục vạn quân thủy đánh bộ.

 Trên trời mười ngàn con diều hâu được huấn luyện kĩ, bay lẩn quẩn trên ngọn đa, thả xuống những chiếc vò đất nung. Trong các vò là hàng triệu con rắn độc nhỏ như chiếc đũa, mình màu đất hoặc màu lá cây. Vò trúng mục tiêu bể, rắn túa ra đất, hướng về hơi người, bất kể già trẻ, lớn bé, quân lính hay thường dân. Địch biện hộ cho cuộc xâm lược tàn khốc dã man này là “ngăn chặn bức màn sắt phi dân chủ, tự do”... Chiến đấu giằng co hơn hai mươi năm, phía Thạch Đế bị tổn thất nặng nề. Khắp nơi thây người chất đống do rắn độc cắn, ngựa giày, tên đạn, giáo mác của quân thù. Đêm lắng trong nỗi đau mất mát trùm xuống vạn vạn gia đình. Nhưng đau đớn hơn là đất nước bị chia cắt, dân tộc bị phân ly cũng từ cuộc chiến tranh này!

 Kẻ thù đã bộc lộ hết dã tâm tàn ác, muốn đưa xứ Rồng trở lại thời kỳ đồ đá. Thạch Đế thét lên một tiếng quyết định, cả dân tộc Rồng yêu nước đồng loạt xung phong trong hờn căm ngùn ngụt. May mắn là bộ tham mưu của Thạch Đế đã tìm ra được một con đường men theo sườn núi phía Tây - con đường chiến lược đưa quân áp sát mà địch vẫn không biết. Liên quân mười tám nước trang bị tận răng, đông gấp mười ba lần. Tiềm lực, quân sự, kinh tế gấp hàng trăm lần quân Thạch Đế. Vậy mà, sau một đêm bị đánh úp bằng các loại bửu bối do các nước anh em của Thạch Đế chi viện, địch vừa chết vừa sợ quá hóa điên hết một nửa; một nửa còn lại hàng chục năm sau, đêm ngủ vẫn khóc thét vì ác mộng…

 Tan cuộc chiến, đất đai quê hương thêm màu mỡ nhờ sự phân hủy máu xương, linh hồn, uất ức của gần hai mươi dân tộc. Chiến tranh hết rồi vẫn còn bao vành khăn tang, vẫn thêm bao người nằm xuống vì những con rắn độc của cuộc chiến đã chui quá sâu vào lòng đất. Lại những cái chết tức tưởi thảm khốc, lại những thân thể tàn phế. Trẻ con vô tội mù lòa, phụ nữ dịu dàng sinh toàn quái thai… nọc độc chiến tranh dai dẳng và tàn khốc làm sao! Song dân tộc Rồng anh hùng lắm, đâu dễ đầu hàng định mệnh. Họ phối giống giữa con chó săn với con heo miền núi thành một loại khắc tinh của rắn độc. Nhà nào cũng nuôi vài con chó heo. Chúng lùng sục khắp nơi, đào bới bằng hết loài rắn ngoại chủng. Chó heo cứ khịt mũi đánh hơi, rắn sợ chui xuống đất, chó heo dùng hai chi trước móc lên, nhai rau ráu cả xương lẫn đầu. Thịt rắn độc rất bổ, chó heo ăn mau lớn, nhân dân lại có thêm thứ thực phẩm thời hậu chiến cải thiện qua việc ăn lại thịt chó heo. Sau này khi hết rắn, chó heo hết vai trò lịch sử, bị bà con ăn tới tiệt chủng luôn.

 Trời trở lại bình yên, đời véo von tiếng hát. Đất đai màu mỡ vì được bón nhiều thịt người. Lúa trúng mùa liên tiếp mấy vụ. Những cánh đồng vạn tấn, những kho tập thể đầy ắp thóc lúa. Ở nhiều nước thuộc địa và bán thuộc địa, Thạch Đế tượng trưng cho phong trào giải phóng dân tộc, chống áp bức bất công và tư bản quốc tế, được ca ngợi, ủng hộ. Những thành tựu như vậy đẩy tính tự mãn của Thạch Đế lên cao. Các nghệ sĩ tài ba cũng say men thời đại, sáng tác những trường ca vĩ đại ca ngợi chiến thắng của Thạch Đế. Sau này, sử cũ chép lại rằng: Trong lúc hát bài ca đó, có hàng chục vạn người đã chết đi, hàng chục vạn người khác đã sinh ra, núi sông dời lấp đến mấy lần và các nước lân bang đã phát triển vượt bậc!

 Dư âm hùng ca làm dân trong nước luôn nhớ đến Thạch Đế và những chiến tích đã được thần thánh hóa. Lý Thông tham lam, phản bội, tư hữu, bóc lột, cùng bè lũ ngoại xâm đáng ghét… lúc nào cũng u u bên tai!

*

* * *

 

 Một hôm Đế cùng cận thần đi kinh lý để tìm hiểu đời sống thực tế của dân. Ra khỏi đại bản doanh cây đa chừng vài dặm, ngài không còn nghe ca hát nữa, chỉ thấy dân chúng sống trong những tập xã lạc hậu, trì trệ với năng suất lao động vào loại thấp nhất thế giới. Ngài bàng hoàng hỏi quân sư:

 - Trong vương triều ưu việt của ta mà lại có cảnh thế này ư?

 Vị quân sư trung thực buồn rầu nói:

 - Tâu bệ hạ, mười năm nay chúng ta bị bao vây cấm vận, thiên tai gây mất mùa liên tiếp, dân sắp chết vì đói!

 Đế tròn mắt ngơ ngác:

 - Thế sao tờ nhật trình đặt lên bàn ta mỗi ngày toàn những hình ảnh rạng rỡ, những tin tức tươi vui? Mở hết các kho dự trữ ra cứu đói nhanh lên!

 Quân sư râu bạc òa khóc:

 - Bệ hạ ơi! Bọn quan lương lấy ngân sách xây nhà đẹp, mua ngựa tốt, rượu ngon, gái đẹp, có tích trữ được hạt thóc nào đâu? Hạ thần biết từ lâu nhưng sợ chúng tru di tam tộc nên đành hùa theo nói láo.

 Thạch Đế thốt “Trời ơi!” rồi lăn quay bất tỉnh. Siêu quyền lực trong bóng tối đã đánh gục siêu nhân bách chiến bách thắng, vị quân sư từng trải nói nhỏ với các tướng lĩnh trung kiên:

 - Giấu kín chuyện này, rồi đưa nhanh hoàng đế về đại bản doanh, nội nhật hôm nay sẽ có chuyện lớn!

 Xa giá về đến gốc đa, đã thấy bốn phía bốc bụi, chiêng trống khua rền. Quân sư lay hoàng đế:

 - Bệ hạ ơi! Tỉnh dậy mau, nguy cấp lắm rồi, bọn phản động được ngoại bang tiếp sức đang vây hãm chúng ta!

 Thạch Đế bật dậy. Mọi người cứ nghĩ ngài sẽ lồng lên như mãnh hổ. Nhưng lạ lùng thay, mặt ngài nhăn nhúm, đau khổ. Thình lình ngài bật khóc nức nở:

 - Ta thương vương quốc này quá!

 Nhìn vị tổng tư lệnh dạn dày trận mạc mềm yếu tâm sự, vị hoàng đế cao ngạo nhận ra sai lầm và đau khổ hối hận, các cận thần của ngài không ai kìm được nước mắt. Bỗng từ trên cao một đám mây ngũ sắc cực đẹp từ từ hạ xuống. Một nàng tiên tuyệt trần bước khỏi đám mây tiến về Thạch Đế. Đế dụi mắt nhiều lần rồi bàng hoàng lẩm bẩm:

 - Ai như Chân Lý? Ta có nằm mơ không?

 Nàng tiên nở đôi môi đỏ, khoe hàm răng ngà ngọc:

 - Hỡi dũng sĩ Thạch Sanh đáng yêu của ta, đây là sự thật không phải trong mơ đâu! Thiếp trở về ủng hộ chàng.

 Thạch Sanh nắm tay Chân Lý, run run kéo lại gần:

 - Ta… cần nàng! Ta không thể thiếu nàng!

 Chân Lý thở dài:

 - Mười tám năm trước nếu chàng biết nghĩ vậy ta đã kết duyên cùng chàng và chúng ta đã hóa rồng rồi!

 Họ không nói thêm được lời nào bởi quân địch đã vây tứ phía. Kẻ cầm đầu đội quân khiêu chiến mặt đỏ bừng, hai tay hai phi tiễn, chỉ vào mặt Thạch Sanh:

 - Có giỏi ra đây đấu với phi tiễn điều khiển từ xa của ta!

Sanh ngước mắt chán chường nhìn Chân Lý:

 - Ta sợ gì thứ vũ khí ngoại bang chế tạo ấy. Nhưng lúc này ta không còn muốn đao binh, có cách gì không?

 Chân Lý rút trên tóc ra một cây đàn bằng đầu đũa, đặt lên bàn tay thổi phù… Cây đàn tí hon bỗng lớn lên bằng thật. Nàng trao đàn cho Thạch Sanh, nói:

 - Cây đàn này vốn của chàng. Từ khi chàng đam mê sức mạnh của cây búa, ta tạm giữ hộ. Đã đến lúc chàng phải nhận lại và sử dụng nó vào việc thiện, mỹ. Hỡi người nghệ sĩ chân chính, hãy cho những kẻ mang nặng dục vọng quyền lực, những kẻ háo thắng, háo danh biết thế nào là tính nhân bản của nghệ thuật.

Sanh ôm đàn, mắt mơ màng nhìn vào hư không, lảy dây:

Tích tịch tình tang

Chiếc thang danh vọng

Giữa trời lồng lộng

Biết đặt vào đâu?

Bể dâu xương trắng

Người tìm chiến thắng

Kẻ chít khăn sô

Bên mồ ai khóc…

Tích tịch tình tang…

Một bài khác:

Nhất tướng công thành vạn cốt khô

(Một tướng thành danh hàng vạn người chết)

Ai mang xương máu dựng tư đồ

Và ai tranh đấu ngôi vương báu

Có biết… tha ma rũ bia sầu

Có biết… sông Nại[1] đỏ ngầu đau

Mưa tuôn thành quách ba quân ướt

Trống giục sa trường sĩ tốt quyên (sinh)…

Lại một bài nữa:

Ai giương cung bắn

Ai múa thanh đao

Máu đào tuôn chảy

Mấy ai nhìn thấy

Đám cháy tan tành

Trái tim quả phụ

Nước mắt trẻ thơ

Trong mơ người mẹ

Thét gào… đòi con!

 Tiếng hát trầm buồn, da diết, bứt rứt đệm “tích tịch tình tang” khoan nhặt cứ từ từ êm ả gặm nhấm tâm hồn người nghe. Binh lính phe địch buông đao kiếm, ôm mặt khóc òa vì nhớ cha mẹ, vợ con. Tướng lĩnh của chúng cũng bàng hoàng như vừa ngộ ra lẽ phải. Chân Lý rơm rớm nước mắt chứng kiến cảnh dục vọng mù quáng được chân, thiện, mỹ khuất phục. Nguyên soái của địch, đang mặt đỏ chuyển sang xanh xám. Ông đi bước liêu xiêu như người say rượu đến gần Thạch Đế:

 - Tâu bệ hạ…

 Sanh ngắt lời:

 - Lúc này ta không phải là vua!

 - Thưa nghệ sĩ, tôi bắn hai trái phi tiễn này ra biển để hủy được không?

 Sanh lắc đầu:

 - Tôm cá chết hết, biển sẽ chết theo

 - Thế bắn lên núi?

 - Ảnh hưởng môi sinh

 - Bắn lên trời?

 - Loài người nghẹt thở

 - Thế phải làm sao?

 Chân Lý đứng bên nghe xong cười lớn:

 - Con người buồn cười thật, chạy đua võ trang rồi không biết dùng võ khí ấy làm gì? Chế tạo đã khó, hủy đi còn khó hơn.

 Nguyên soái phản loạn gãi đầu:

 - Cũng bởi tình hình biến chuyển nhanh quá!

 Chân Lý góp ý:

 - Thôi, cứ cất vào kho, để dành chống xâm nhập của sinh vật ngoài vũ trụ.

 Nguyên soái bâng khuâng:

 - Chân Lý cũng cục bộ quá nhỉ?

 Sanh nói chen vào:

 - Ta bây giờ cũng nghĩ vậy. Lợi ích của anh hùng nhỏ hơn lợi ích dân tộc. Dân tộc phải giao hòa vào trào lưu tiến bộ của nhân loại. Những gì hiện hữu ngoài nhân loại đều đáng đề phòng!

 Chân Lý bất ngờ hỏi Sanh:

 - Sắp tới chàng sẽ đối xử với Lý Thông và xướng nữ như thế nào?

 Thạch Sanh đứng phắt dậy, cau mày, nghiêm mặt, lạnh lùng tuyên bố:

 - Ta vẫn là hoàng đế xứ này, ta chưa cho phép bàn đến chuyện đó. Dân ta đang đói, cần cứu trước đã! Các nước anh em đang có vấn đề nội bộ, không thể giúp ta như thời chiến được. Hãy tự cứu mình trước khi trời cứu!

  Ngay hôm sau, một đoàn sứ giả được cử sang mười tám nước đối địch một thời cầu hòa bình và đem vàng bạc đổi lương thực. Liên quốc kiên quyết không trao đổi mậu dịch với Thạch Đế với lý do còn nhiều tù binh của họ bị Thạch Đế đày ải ở các trại tập trung.

 Sứ giả về báo lại, Thạch Đế lo âu thiết triều, mời cả Chân Lý. Ngài vò đầu than:

 - Ta có giữ tù binh nào ngoài xướng nữ già mồm. Họ nói oan cho ta!

 Chân Lý phân tích:

 - Chia theo biên giới là chuyện đã lạc hậu. Đối với những nước công nghiệp phát triển, thể chế là khái niệm chỉ tài sản cố định, nhân lực, tư bản… của một tổ hợp xây dựng trên nhiều nước khác nhau. Với ý nghĩa này, Lý Thông mới thực sự là đại diện của bang giao thương mại. Bệ hạ sống quá lâu với cây đa, giếng nước, lũy tre có bóng trăng mơ mộng, nên còn nặng suy nghĩ kiểu nông dân. Còn chuyện họ vu khống ngài chỉ là kế sách chính trị, từ từ đối phó từng bước.

 Thạch Đế lưỡng lự rồi đồng ý.

 Từ hốc đa tối tăm, Lý Thông bước ra, trần trụi, nhợt nhạt, râu tóc trùm cả thân người. Theo sau là xướng nữ, quần áo trên mình đã mục nát, chỉ còn tấm thân của tạo hóa vẫn giữ được vẻ đẹp bền bỉ. Đi ra từ bọng đa có thêm chú bé tóc xoăn tít, mặt mũi khôi ngô. Chú lắc tay mẹ ngây thơ hỏi:

 - Cái gì nhiều thế hở mẹ?

 - Người đó con.

 - Sao họ không giống mình?

 - Mình đâu phải là người, mình là tội nhân.

 Cậu bé gật đầu lẩm bẩm:

 - Tội nhân không phải là người.

 Thạch Đế chỉ vào cậu bé hỏi Lý Thông:

 - Con lai?

 Lý gật đầu:

 - Sản phẩm của chiến tranh lạnh!

 Đế vui vẻ bảo:

 - Mai mốt ta cho nó xuất cảnh, đoàn tụ với ông bà ngoại!

 Chú bé nhìn hoàng đế không chớp mắt rồi quay sang mẹ:

 - Ông ấy có tốt không hở mẹ?

 Mẹ nó cười lẫn trong tiếng khóc:

 - Ở đời ai cũng tốt cả, nhưng nhiều khi trách nhiệm buộc họ xấu đi thôi! Mẹ cũng từng là người đi nói xấu người khác!

 Thằng bé thở dài, lắc đầu buồn bã:

 - Mẹ cũng xấu, con còn biết tin vào đâu?

 Nghe câu đó, từ hoàng đế, tướng lĩnh, tội nhân, Chân Lý, lính tốt… đều sững sờ. Mỗi người có cách hiểu khác nhau từ lời của đứa bé.

 Lý Thông được phong đệ nhất cố vấn hoàng đế, kiêm bộ trưởng ngoại giao, lại mặc đẹp, xênh xang ngựa xe đi công tác nước ngoài.

 Liên minh các nước đón Lý Thông tưng bừng. Họ cho biết tất cả tài sản của Lý gởi trong các ký khố thương mại vẫn còn đầy đủ và sinh lãi theo chu kỳ; còn các văn phòng đại diện, các cửa hàng giới thiệu sản phẩm vẫn niêm phong, bảo quản tốt. Thông đề nghị giữ nguyên bất động sản sau này cho con thừa kế, còn tiền vàng chuyển đổi ngũ cốc cứu đói cho dân. Phía bên kia đồng ý. Thông thuê tàu lớn chở gạo theo đường biển, còn đường bộ mướn một đoàn công xa, mỗi xe hai mươi ngựa kéo trực chỉ biên giới ngày đêm. Các bến cảng, các cửa khẩu đóng kín với thương mãi tư bản suốt bao năm, giờ mở toang đón gió đổi mới.

 Hàng về đến gốc đa, được lệnh xay giã cho nhanh, thổi bếp cho to, đun nấu từng chảo lớn phát chẩn. Những đội quân cứu đói được lệnh cơ động xuống các tập xã chia cháo cho dân. Lý Thông đi theo. Ở các địa phương, các đội tuyên truyền vẫn hoạt động. Thấy trung ương về, họ tích cực vác loa lấy điểm. Những bài học nằm lòng cứ thế phát: nào là Thạch Đế tài ba bách chiến bách thắng, nào là Lý Thông lừa đảo, phản bội, tư hữu, cấu kết phong kiến, tư bản quốc tế bóc lột dân nghèo…

 Thông chặn hỏi một gã hăng hái nhất:

 - Mày có biết Lý Thông tướng mạo ra sao không?

 Nó bô bô kể:

 - Ối! Quân ấy dã man lắm, mặt vằn vện, nanh mọc lởm chởm, đi đến đâu đốt nhà cướp bóc đến đấy!

 Thông gượng cười mà trong lòng xót xa lạ.

 - Mày biết ta là ai không?

 Lính hớn hở khoe:

 - Con là phó đầu lĩnh ở đây, chuyện gì mà không biết. Quan ông là người được hoàng đế đặc phái xuống cứu dân, độ thế. Quan ông biết không, ở đây con rất trung thành, năng động, linh hoạt, đứa nào không thuộc câu: “Lý Thông lừa đảo, phản bội, bóc lột, tư hữu” là con… cải tạo đến nơi! Con tên là Nguyên Cơ Chế. Quan ông cứ giao thêm việc, con hăng hái làm hết!

 Hôm sau Thông về triều, gặp Thạch Đế buồn rầu than:

 - Tôi chán cái thằng “cơ chế’” dở hơi của ngài quá. Đến giờ này nó vẫn nói xấu tôi!

 Hoàng Đế vỗ vai Thông:

 - Ta đang cho đổi mới tư duy. Sắp xuống tới địa phương rồi. Thời quan liêu cắm rễ lâu quá, từ từ mới cải tổ hết được. Thôi, còn nhiều việc phải làm lắm, quên quá khứ ấy đi!

 Chân Lý đứng bên vuốt má hoàng đế:

 - Anh có vẻ đàn ông lắm, đáng yêu lắm.

 Lý Thông bực bội quay ra. Bỗng có tên quân hớt hải vào báo:

 - Dân ăn cháo phát chẩn xong đau bụng dữ dội.

 Đế quay phắt sang Lý Thông:

 - Gạo sao thế?

 Thông nhăn mặt:

 - Tâu bệ hạ, dân đói lâu ngày ăn vào sốc.

 Tên quân cãi lại:

 - Trong gạo toàn sạn trắng!

 Thạch Đế mỉa mai:

 - Có cát vào gạo nặng thêm, bản chất bọn bóc lột không thay đổi!

 Thông tức tối sục vào một kho gần đó. Tính kiểm tra lại có đúng gạo trộn cát không để kiện ra tòa án quốc tế thì thấy… hàng trăm tên quan lương đang hì hục trộn cát vào gạo. Một tên béo phì nói với đồng bọn:

 - Thôi trộn năm chục phần trăm được rồi mấy cha, chừng đó đủ con no vợ béo rồi, thương dân với chứ.

 Cả bọn cười hô hố theo. Thông lẳng lặng quay về kéo tay hoàng đế tới chứng kiến. Thạch Đế nhìn tận mắt, máu sôi sùng sục, tính chém cả lũ, quân sư tỉnh táo cản lại:

 - Chưa đào tạo kịp nhân sự để thay thế, cảnh cáo chúng được rồi…

 Bọn tham nhũng thoát chết, mừng quá, đêm đó cùng nhau đến nhà quân sư. Chỉ có phu nhân ở nhà, chúng xưng là đệ tử của quân sư, thấy nhà bậc thanh liêm khốn khó, dột nát quá nên xuống sửa sang lại. Phu nhân cảm động lắm, cứ nằng nặc biểu chúng ở lại ăn cơm. Chúng bỏ nhỏ vào tai nhau “ở đây không có rượu, gà, ăn chán lắm!”

 Mấy đứa dúi vào tay phu nhân súc lụa đẹp, bà còn chần chừ chưa nhận thì đứa con gái lớn trong nhà chạy ra ôm chầm súc lụa:

 - Con Nở, con Sen bạn con cũng có nhiều áo đẹp như vầy. Mà ba chúng nó đâu có được gần hoàng đế như ba mình! - Nói rồi ôm chạy biến đi giấu.

 Phu nhân thở dài:

 - Thôi cảm ơn mấy chú. Mấy chú ghi lại tên để tôi nói lại với ba nó quan tâm hơn.

 Vài hôm sau, thấy con gái có áo, mũ sang trọng, quân sư hỏi:

 - Ai cho?

 Nó khoe bạn nó, con ông quan giữ ải tặng.

 Quân sư cau mày:

 - Quân lính đóng ngoài quan ải xa kinh đô, thiếu thốn đủ bề, lấy đâu ra của cho?

 Con bé cười sặc sụa rồi bước đến hét vào tai ông:

 - Mở- cửa- rồi! Không phải như xưa (nó lùi một bước nhìn cha trừng trừng) – Cha làm quân sư cho hoàng đế mà lạc hậu vậy biểu sao đất nước không nghèo?

 Phu nhân trong nhà lẹt xẹt đi ra:

 - Bạn nó cho cái nón thôi, còn cái áo là của mấy chú quân lương cho đấy!

 Quân sư tròn mắt, thất sắc:

 - Bọn ấy tham nhũng, hoàng đế muốn trị tội, sao bà còn nhận hối lộ của chúng?

 Phu nhân phân bua:

 - Tôi có biết đâu? Chúng bảo là đệ tử của ông đến sửa nhà, cho vải thì tôi nhận. Ngày xưa cha tôi dạy ông học, ông cũng được gọi là đệ tử, chẳng đem quà đến lễ lạt là gì?

 Quân sư nhăn mặt, lắc đầu. Đứa con gái lè lưỡi chê:

 - Cha càng già càng khó, mai mốt về hưu mẹ bỏ đói cho kinh!

 Hôm sau quân sư hối thuộc hạ lên quan ải. Dọc biên giới là cảnh bát nháo không thể tưởng được. Từng đoàn người ngựa dằng dặc chen lấn nhau tải hàng qua lại. Ông cùng các tướng sĩ trà trộn vào đám đông, mới biết hàng xuất toàn gạo. Gạo viện trợ nước ngoài chưa kịp cứu đói cho dân đã chạy ngược qua biên giới, không thể hiểu nổi!

 Ông chặn một đoàn người, ngựa thồ hỏi:

 - Gạo của ai? Ai cho xuất?

 Tên dẫn đầu không thèm trả lời, phẩy tay một cái. Lập tức hàng trăm tên lực lưỡng, quân trang quân dụng, vũ khí toàn của triều đình cấp ùa đến. Một tên ra vẻ cơ trưởng chĩa giáo vào cổ quân sư:

 - Ai cho để mắt tới gạo?

 Quân sư rút ấn tín ra:

 - Ta là quân sư của triều đình, theo lệnh hoàng đế thị sát biên giới.

 Tên cơ ôm bụng cười ngất:

 - Chuyện trong triều lo chưa xong ra biên giới làm gì?

 Tên cơ xấc láo, quân sư tức lắm, ông cùng đoàn thanh tra đến dinh quan tổng trấn gần đó, định bắt tổng trấn kỷ luật hắn. Tiền sảnh vắng hoe, bàn làm việc bụi phủ dày, ngoài sân cỏ mọc lút. Cả đoàn phải bọc ra sau, vào cửa hậu. Qua khỏi khu bếp đang chiên xào thơm nức, họ gặp một gã mập ú, trần trùng trục đang đọc sách trên võng. Quân sư hỏi:

 - Tổng trấn đâu?

 Gã kia bỏ cuốn sách xuống, nhíu mày:

 - Đứa nào hỏi?

 - Thanh tra của hoàng đế xuống đây!

 Tổng trấn nhổm dậy:

 - Thế à? Cơm nước gì chưa?

 Viên võ quan tùy tùng chích mũi kiếm vào đùi tổng trấn:

 - Mặc lễ phục vào!

 Tổng trấn ngáp ngủ, lè phè vào buồng thay quần áo. Thấy mấy cuốn sách bỏ lại trên võng đẹp quá, quân sự nhặt lên coi. Một cuốn toàn hình nam nữ khỏa thân. Cuốn kia bìa in biếm họa Thạch đế đang đánh đập tù binh bằng roi quất ngựa. Quân sư tức tái mặt, quát hỏi Tổng trấn:

 - Sách này ở đâu mà có?

 Tổng trấn lục sục trong buồng trả lời vọng ra:

 - Vợ tôi đi chợ biên giới mua về. Nước ngoài in đấy, đẹp không? Người ta chở sang bán một xu cả ôm.

 Quân sư hỏi:

 - Mi có biết đây là văn hóa phản động, đồi trụy không?

 Tổng trấn (đã ra khỏi buồng) nhe răng cười:

 - Sao nghe đổi mới rồi, ai mà biết?!

 - Tướng sĩ của mi đâu hết mà doanh trại bê bối, trống hoác?

 - Đi buôn hết rồi?

 - Buôn gì?

 - Gạo, gỗ, da thú…

 - Nếu giặc tràn sang làm sao mi giữ ải?

 - Thời này sung sướng, ai dại gì gây chiến để chết!

 - Lỡ có thì sao?

 - Rút về kinh đô. Tôi mua nhà dưới đó rồi, con gái đang học ở đó. Mai mốt tôi xin nghỉ mất sức rồi đưa vợ về.

 - Lương mi bao nhiêu, sao có tiền mua nhà kinh đô?

 Bỗng ngoài sân có tiếng lao xao rồi ba người nước ngoài mặt đỏ gay, nồng nặc mùi rượu bước vào, chúng réo:

 - Quan lớn? Quan lớn đâu?

 Thấy tổng trấn, chúng chẳng cần khách sáo, bô bô:

 - Đấy: năm trăm cây giáo, sáu trăm cây cung với hai mươi lăm con ngựa chiến (vừa nói chúng vừa thảy cho tổng trấn gói bạc nặng), còn mấy khẩu thần công…

 Tổng trấn trừng mắt, tên kia đang nói nín bặt, tên khác có vẻ điếm đàng lên giọng ranh mãnh:

 - Mấy cây giáo, cung, ngựa đồ chơi do ông làm bằng gỗ, về nước tôi tiêu thụ mạnh lắm!

Quân sư hỏi:

 - Mi sản xuất đồ chơi chỗ nào, dẫn ta đi coi!

 Tổng trấn ấp úng:

 - Thưa… thưa…

 - Mở kho vũ khí kiểm tra nhanh lên!

 Tổng trấn ôm gói bạc ù té chạy. Bóng hắn nhạt dần trên con đường mòn dẫn đến biên giới. Quân sư cười nhạt:

 - Lại một thằng tham nhũng, phản quốc, vượt biên!

*

* * *

 

 Sau chuyến thị sát, quân sư về báo cáo Thạch Đế:

 - Mở cửa thiếu kế hoạch, biên giới hỗn loạn. Tham nhũng, buôn lậu không kiểm soát được! Nguy hiểm hơn là lạm phát ở mức cao mà trong lưu thông lại thiếu tiền mặt!

 Thạch Đế cau mày:

 - Thiếu thì cứ in thêm tiền ra mà xài…

 Quân sư hốt hoảng:

 - Tâu bệ hạ, thế thì có khác gì đổ thêm dầu vào lửa. Chữa cháy kiểu đó sẽ cháy to hơn. Đồng tiền của chúng ta sẽ mất hết giá trị, chúng ta sẽ bị siêu lạm phát, hết thuốc chữa!

 Chân Lý đưa phương án:

 - Mời chuyên gia và gọi đầu tư nước ngoài vào. Phát triển kinh tế đi đôi với củng cố vương quyền!

 Thông quay sang hoàng đế:

 - Ngài nên ra nước ngoài một chuyến để đặt bang giao và mở mang đầu óc

 Đế gật đầu, hẹn đám cưới với Chân Lý xong vợ chồng kết hợp công tác đi du lịch luôn.

 Quân sư nhíu mày:

 - Có thêm Hậu, chuyến đi tăng kinh phí!

 Chân Lý bĩu môi giận dỗi:

 - Ta thèm vào kinh phí của ông - Nàng chỉ tay vào chuỗi ngọc trên cổ - Hôm qua thương gia nước ngoài trả ta một triệu ngoại tệ đấy! Ta xuất ngoại năm chuyến chưa hết - Nàng nói tiếp như để riêng Thạch Đế nghe - Của nguyên soái hải quân tặng ta.

 Thạch Đế quay lại gườm gườm:

 - Ta lột hàm soái thằng ấy!

 Chân Lý nhún vai:

 - Bệ hạ ghen à? Khiếp!

 Quân sư thắc mắc:

 - Hoàng hậu xưa là Chân Lý thần thánh, nay sao lạ vậy?

 Chân Lý cười:

 - Làm siêu nhân mãi cũng chán, ta thích là đàn bà với đầy đủ yêu, ghen, hờn giận, mua sắm và ngoại tình hơn!

 Hoàng đế thở dài:

 - Đàn bà muôn mặt làm ta mệt mỏi!

 Lý Thông vỗ tay bôm bốp:

 - Thôi được, Đế với Hậu cùng đi, kinh phí tôi bao, tôi phò giá, quân sư coi nhà.

 Hoàng đế cùng hoàng hậu đi khắp mười tám nước tư bản, hoặc đang trong quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản nhà nước. Ở đâu cũng được xởi lởi đón tiếp đúng nghi thức đón nguyên thủ quốc gia, được tham quan những ngôi nhà chọc trời, những đại lộ sầm uất, hàng hóa ê hề, khu công nghiệp khói tỏa. Có nơi còn chế “người nhân tạo” biết đánh cờ, làm thơ, trộm cướp. Đế cùng cả đoàn ngạc nhiên và khâm phục nhất là chiếc thang lên cung trăng được làm bằng một vệt khói đục. Càng đi Thạch Đế càng thấy người ta giàu mình nghèo, người ta mạnh mình yếu, người ta có đủ thứ, mình ngoài chuyện chiến đấu chống xâm lăng ra chả còn gì để khoe… Hiểu lòng hoàng đế, Lý Thông bảo:

 - Ngài đừng nhốt tôi mười tám năm trong hốc đa, bây giờ mình cũng được gần bằng người ta rồi!

 Hoàng đế đang buồn, sinh cáu:

 - Ngươi có quay ngược lịch sử được không mà nuối tiếc quá khứ? Ta đã nhận sai và sửa sai, đã phục hồi quyền lợi tư sản cho ngươi là đủ rồi!

 Cuối chuyến đi, trong một cuộc gặp đầy đủ quốc vương mười tám nước. Thạch Đế bày tỏ nguyện vọng muốn khép lại dĩ vãng, hướng đến tương lai, mong lập bang giao mới. Quốc vương hai nước lớn nhất là A Mễ Công và Chai Thần bắt tay Thạch Đế hứa sẵn sàng. Thấy không khí giữa các đàn anh cởi mở, mười sáu nước nhỏ đề nghị được đầu tư sang nước Thạch Đế, vừa tận dụng nguồn lao động nhiều, rẻ; vừa giúp bản xứ xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng. Vua Chai Thần nghe xong nhếch mép cười lạnh lẽo:

 - Muốn vào với Thạch Đế các bạn phải đi qua vùng biển của tôi. Tôi thì chưa có ý định cho “quá giang”

 Mấy nước kia nhao nhao phản đối

 - Xu thế chung của thời đại là thông thương, ngài làm vậy sao được!

 Chai Thần Đế trừng mắt:

 - Ta mới trang bị hạm đội khổng lồ và bắn phi tiễn lên đến mặt trăng, ai muốn thử sức mạnh, xin mời!

 A Mễ Công Đế tỏ khó chịu:

 - Vùng biển đó là hải phận quốc tế, ngài bành trướng thế là quá đáng!

 Chai Thần Đế cười nhạt:

 - Đất đai của tổ tiên tôi là ba phần tư châu lục này. Tôi muốn vẽ lại bản đồ theo biên giới cách đây bảy trăm năm. Ngài đừng quên nước tôi đông dân nhất. Mỗi người chỉ mua của ngài một lít dầu là công nghiệp dầu mỏ của ngài phát đạt rồi. Đừng để mất thị trường lớn vì chuyện nhỏ.

 Chai Thần Đế lại quay sang Thạch Đế:

 - Ông có muốn tôi bảo hộ không?

 Thạch Đế tức trong bụng, cố nén:

 - Chúng ta biết nhau từ hàng ngàn năm trước, ngài đã thấy dân nước tôi quen sống độc lập, hi sinh xương máu cũng vì độc lập. Kẻ nào không hiểu điều này sẽ trả giá!

 Chai Thần Đế phẩy tay cười:

 - Dân của tôi hè nhau lại, cùng t… một bãi là mọi thứ của bạn trôi ra biển. Bạn trả tôi hai hòn đảo đi, rồi mọi việc sẽ ổn!

 Thạch Đế nhăn mặt:

 - Tôi có lấy đâu mà trả. Hai ngàn năm nay quê hương các ngài làm ra thuyết quân tử, nhưng chắc chỉ để… xuất khẩu, nên các ngài vẫn ỉ mạnh hiếp yếu - quay sang A Mễ Công Đế - Ngài tỏ thái độ về vấn đề này đi, ngài là “cảnh sát quốc tế” mà?

 A Mễ Công Đế lim dim mắt, vuốt bộ râu vàng hoe:

 - Theo tin nội bộ triều đình ngài bán ra, thì ngài còn giữ của tôi hơn một ngàn tù binh chiến tranh…

 Thạch Đế khổ sở phân bua:

 - Chỉ có một là xướng nữ thôi. Tôi phóng thích rồi nhưng cô ấy muốn ở lại với chồng.

 - Làm sao tôi tin được?

 - Mời ngài sang kiểm tra!

 - Nước ông toàn rừng rậm, núi cao, đào một cái hầm lớn nhốt vào hết là xong, có trời mới biết. Còn hài cốt của bao nhiêu tử binh nước tôi, ông làm phân bón ruộng hết phải không?

 Kết thúc cuộc họp. Chai Thần Đế tuyên bố phong tỏa biển. A Mễ Công Đế ra lệnh tiếp tục cấm vận xứ Rồng. Vua mười sáu nước nhỏ bắt tay chia buồn an ủi Thạch Đế:

 - Thế giới bây giờ đã “siêu quyền lực hóa”; công bằng, lẽ phải… cũng phải mua bằng tiền! Ngài lãnh đạo quốc gia làm ra thật nhiều của cải xuất khẩu, có nhiều tiền thì tiếng nói ở chính trường quốc tế này mới có trọng lượng.

 Thạch Đế về đến kinh đô lại nghe thiên tai vừa tàn phá miền duyên hải. Ngài mệt mỏi than:

 - Thượng đế quăng ta vào cuộc chơi khắc nghiệt quá!

 Nói rồi cởi long bào, vất vương miện, ở trần ôm đàn hát:

“Ta là quân cờ của tạo hóa

Giữa cuộc chơi không thương xót

Không cảm thông

Thiếu nốt những nhường nhịn

Ta là vua của bạo lực siêu quần

Ta lại khóc trước vô tình tạo hóa

Không thép

Không lửa

Không ngựa chiến, bộ binh

Không nốt sóng và bão…

Ta khổ đau vì đời lừa lọc

Đội trên đầu sức nén hờn căm

Ta vùng lên thành hoàng đế

Say mê chủ nghĩa công bình

Lo sợ những điều lầm lỡ

Trái tim đầy những trăn trở riêng tư…

Ta yêu chân lý muộn màng

Khi nàng chỉ còn là mụ đàn bà đa tình

Say mê ngọc bích

Đời ta tiến, lui, xuôi, ngược

Không ra khỏi định mệnh con người

Nhỏ bé, tội nghiệp

Trong bàn tay điếm đàng của

Thượng đế vô minh…”

 


[1] Nại Hà dưới âm ty

 

(còn tiếp)

 

>> Thạch đế, chương III & IV- tiểu thuyết Lại Văn Long 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.