Tin mới Xem thêm

  • Về cuộc họp Ban Chấp hành Hội giữa năm 2018

    Ngày 5.7.2018, Ban Chấp hành Hội đã tiến hành phiên họp thường kỳ với sự có mặt của 7 thành viên: Trần Văn Tuấn, Phạm Sỹ Sáu, Phan Hoàng, Bích Ngân, Trầm Hương, Lê Thị Kim, Phan Trung Thành

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố để đi chỗ khác chơi vì

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

  • Nguyễn Quang Sáng cánh chim sếu đầu đỏ

    Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tiểu Thuyết

Lê Văn Duy- Sài Gòn phố đông- tập II-p.1

14.12.2011-23:45

Nhà văn Lê Văn Duy

 

Sài Gòn phố đông

Tập II

 

SÔNG ĐÔI MA

TIỂU THUYẾT CỦA LÊ VĂN DUY

 

NVTPHCM- Nơi ngã ba sông Vàm Cỏ Đông- Vàm Cỏ Tây giao nhau, nổi lên một cù lao bốn bên xanh rì rặng cây bần, mương rạch chằng chịt, đường đi ngoắt ngoéo. Băng qua đám rừng lá, rừng đước, rừng tràm cổ thụ, rừng chà là gai góc, là ao hồ nước lợ, tôm cá, rắn rít, muông thú, chim chóc đổ dồn về trú ngụ. Nhớ câu "Bần cư trung  thị vô nhân vấn. Phú tại sơn lâm hũu khách tầm’’, một nhà nho trôi giạt về đây, đã chọn cây bần đặt tên đất cù lao. Cư dân cù lao Bần sống nghề hạ bạc, nghề đi bạn, nghề đưa đò. Con gái con trai cù lao Bần, sáng sáng giở cơm vắt, qua bên kia sông làm mướn, làm những công việc nặng nhọc như móc đất, chở đất, chở củi, chở trấu, thợ đốt lò, bưng phơi gạch ngói. Vào tháng mưa giông, sóng lưỡi búa dâng cao, ven sông cù lao Bần đêm ngày ầm ào đất lở. Ban đêm xuồng ghe đi ngang qua thường bị dòng nước xoáy nhận chìm. Dân thương hồ gọi khúc sông đó là Vàm Doi Lửa. Những ngày biển lặng sóng êm, đám công tử xóm nhà ngói mướn đò chèo sang cù lao Bần săn bắn. Có chàng công tử con chủ lò gạch, nặng lòng yêu thương cô gái chèo đò xinh đẹp nhứt xứ cù lao Bần. Vợ chồng ông chủ lò gạch nọ tìm mọi cách ngáng trở tình yêu đôi trẻ. Vào một đêm  tối trời, đôi tình nhân rủ nhau chèo đò trốn biệt ra biển Đông. Có người còn nói đôi tình nhân đã bay lên trời. Vào những đêm bão giông, bỗng hiển hiện hai bóng ma áo trắng, tay trong tay, lượn lờ bay trên dòng sông nổi sóng, hướng dẫn tàu ghe thương hồ chạy tránh luồng nước xoáy. Nhánh sông đôi bờ cù  lao Bần, từ ấy, có tên là sông Đôi Ma.

(Trích Nhật ký sáng tác Huyền thoại sông Đôi Ma

của nữ nhạc sĩ Trang Thanh Nhã)

 

CHƯƠNG I

1

NĂM 1954…

Chị Hai Gọn, vợ Sáu Tình Tang buổi sáng bán cơm tấm, buổi trưa, buổi chiều nấu cơm tháng cho nhóm công nhân vác mướn kho Năm, bến Sáu Kho. Người thuê căn gác trọ trọn năm qua nhà chị Hai Gọn, thằng Tẻng kết thân như bạn vong niên tên Lâm Quốc Chính, làm gác dan kho Năm. Đang vác gạo lên bến Sáu Kho, thình lình cây đòn dài gãy đôi, quăng anh Sáu Tình Tang té trúng mủi ghe chài, gảy xuơng sống, chết chìm nghỉm dưới đáy dòng kinh Tẻ. Cha chết, Tẻng bỏ học đi làm phụ lơ xe đò. Cuối tháng Tẻng nghỉ phép hai ngày. Gần trọn số tiền lương tháng, Tẻng đưa mẹ đóng tiền hụi. Còn rủng rỉnh trong túi ít tiền, Tẻng rủ Lâm Quốc Chính đến khu Dân Sinh mua hai bộ đồ lính kaki bán sôn, ghé chợ Cũ ăn hủ tiếu Nam Vang, rồi hai anh em chui vô rạp chiếu bóng Ca Thay xem phim cao bồi. Lúc bước ra khỏi rạp chiếu bóng thành phố đã lên đèn. Thả bộ dọc bờ sông Sài Gòn, ngồi ghế đá công viên bến Bạch Đằng hóng mát như hai kẻ nhàn du, bất ngờ Lâm Quốc Chính rủ Tẻng ghé quán cháo vịt dưới chân Cầu Mống, ngồi nhậu rượu đế lai rai.

- Chơi với mày tớ bị xuống một bậc đó Tẻng.

- Là sao?

- Tớ gọi bố mẹ mày là anh chị. Mà mày gọi tớ bằng anh. Tính ra chẳng phải tớ bị xuống một bậc sao?

- Đã kết giao bằng hữu ...thì phải vậy thôi! Giả dụ em là...là con gái. Mà anh là con trai...Rủi hai đứa yêu nhau thì anh gọi...tía má em bằng gì nè?

- Thương con tớ ắt phải gọi tớ bằng bố. Chuyện đó quá rõ. Nói xong Lâm Quốc Chính biết mình bị hố, liền chuyển hướng. Con gái mà cà lăm như mày, đếch có thằng ma nào yêu. May mà mày quen tớ trước. Chứ nếu không thì mày phải gọi tớ  bằng chú đấy!

-Già như anh...thì em...em gọi anh bằng chú có sao đâu?

Tranh luận với Tẻng thường bị thua. Lâm Quốc Chính bá vai Tẻng nói khỏa lấp:

- Bố Tẻng rõ ra là người có số đào hoa. Nếu chẳng phải vậy, sao có biệt danh anh Sáu Tình Tang? Anh nói thế đâu có gì xúc phạm đến bố Tẻng.

- Em không giận anh Chính... Nhưng phải nói lại cho rõ kẻo...kẻo có lỗi với vong linh tía em...Tía em quê Thạch Động-Hà Tiên, nơi chàng Thạch Sanh chém chằng...trú ẩn thuở hàn vi. Giờ rảnh rỗi, những lúc anh em vác mướn bến Sáu Kho lai rai như vầy, tía em thường kể chuyện...Thạch Sanh...là vì tía em cùng quê với Thạch Sanh. Bao giờ kể tới đoạn Lý Thông phản trắc...tía em cũng ôm cây đờn cò kéo ò í e. Rồi tía em buồn tình vô câu nói lối: Đờn kêu tích tịch tình tang. Ai đưa công chúa lên thang mà về...Đờn kêu vật đổi sao dời. Lý Thông hại bạn quên lời kết giao...Tía em lè nhè ca có mỗi một bài Vọng Cổ Đờn kêu tích tịch tình tang. Vậy nên bà con Kho Năm bến Sáu Kho mới gọi tía em...là Sáu Tình Tang...Chớ...chớ...nhà nghèo rớt mồng tơi, mà tía em sinh tật đèo bồng vợ hai, vợ ba...thì có mà chết! Còn anh Chính có bỏ cô bồ nào...ở...ở ngoài Bắc không hả?

Tẻng cà lăm nói mãi chưa dứt câu. Lâm Quốc Chính sốt ruột, trề môi nói:

- Không hiểu sao những đứa có tật cà lăm như mày lại cứ ham nói dài, thích cà kê dê ngỗng. Nhìn chung rượu mày kìa! Nãy giờ tớ uống đủ một chục chung rồi đấy!

- Tại ông trời... chớ phải tại em sao...anh Chính? Tẻng nốc cạn chung rượu thứ ba lắp bắp nói.

- Ừ. Tại trời xui đất khiến tớ mới đi lạc vào đất Khánh Hội. Chứ thằng anh mầy là dân giang hồ hảo hán, giống mấy tay cao bồi thích cắc bùm trong phim ban nãy. Tưởng di cư vào Nam mặc sức tung hoành, nào ngờ quanh năm tớ toàn ăn cơm tháng, ở nhà tro, Cả ngày bị giam chân trong Kho Năm, giống như con chó berger! Thôi về mày! Lâm Quốc Chính vụt đứng lên.

- Ừ, thì về!

- Đêm nay tớ trực. Nhớ nói chị Hai khỏi chờ cửa.

Ngoắc tay gọi cô bán quán cóc dưới gầm cầu, Lâm Quốc Chính bảo tính tiền. Tẻng thọc hai tay trong túi quần, nhìn bóng đèn điện le lói trong xóm nhà thuyền, ngắm dãy đèn nê-ông treo hàng dãy dài trên mui đoàn ghe chài chở lúa gạo từ Miền Tây lên Sài Gòn, chở hàng thương phẩm xuống Miền Tây đậu chật bến Vân Đồn, chạnh lòng nhớ cái chết tức tưởi của tía Sáu Tình Tang.

-Sắp tới giỗ một trăm ngày tía em rồi đó anh Chính.

-Mới đó mà nhanh thực đấy! Loanh quanh chẳng làm được việc chi ra hồn!

-Bộ anh Chính muốn làm việc lớn hả?

-Thằng anh mày nói vậy thôi. Con sâu cái kiến còn thích bay. Là con người chẳng lẽ làm con cắc ké leo quanh bờ rào thế này mãi sao?

-Kỳ đà cha cắc ké. Cắc ké mẹ kỳ nhông. Kỳ nhông ông kỳ đà. Đố anh Chính vậy chớ con nào lớn hơn?

-Hỏi vớ vẩn. Chán bỏ mẹ!

Lâm Quốc Chính hậm hực đá văng chiếc lon sữa bò lăn lốc cốc trên đường khuya. Ngật ngưởng bá vai Tẻng, người cao lêu nghêu. Đi chung với Tẻng, Lâm Quốc Chính phải cúi đầu thấp xuống mỗi lần muốn trò chuyện tay đôi.

-Nghe mày nhắc đến giỗ một trăm ngày anh Sáu Tình Tang, tao nghiệm ra rồi đấy Tẻng!

-Anh nghiệm ra điều gì?

-Là hoạn nạn chỉ đến với kẻ nghèo! Lâm Quốc Chính hờ hững nói.

-Ông trời chẳng ghét bỏ riêng ai hết... Má Tẻng nói tại hôm đó...tía bịnh nặng mà tham công tiếc việc, mới xảy ra sự... sự cố...Đừng đổ tội oan ông Trời!

-Chứ bộ mày bênh ông Trời hả?

-Em không binh!

-Sao nói vậy?

-Là vì em ghét mấy người...lỗi tại mình mà...cứ đổ thừa số mạng, đổ tội oan cho ông Trời... Như anh vậy đó!

-Như tao làm sao?

-Ai bắt anh di cư vô đất Khánh Hội mà cứ...than trời trách đất?

Lâm Quốc Chính đuối lý lặng thinh. Mỗi lần cãi lý nhau, thằng Tẻng đều thắng. Chắc tại mình học ít hơn Tẻng. Lâm Quốc Chính tự an ủi như vậy. Xuống khỏi dốc cầu Mống, hai anh em tạm chia tay. Tẻng quẹo vô con hẻm nhỏ. Lâm Quốc Chính ngật ngừ rẻ sang Kho Năm. Tiếng kẻng đồn Bến Kéo gỏ beng beng, báo sắp tới giờ giới nghiêm. Tổng Nha Cảnh sát Sài Gòn đang mở cuộc tảo thanh các sòng tài xỉu khu vực Đại Thế Giới của Bảy Viễn. Lệnh giới nghiêm toàn Sài Gòn-Chợ Lớn được ban hành. Đêm đó chị Hai Gọn má thằng Tẻng chong đèn thức sáng đêm, cặm cụi tháo túi áo, tháo cầu vai, sửa hai bộ đồ lính kaki...

Sáng sớm, Tẻng mặc bộ đồ kaki mới ủi phẳng lì, quàng túi dết bên hông, chào mẹ đi làm. Tẻng đến đứng bên ngoài cổng Kho Năm kêu réo.

-Anh Chính ơi, anh Chính à.

Lâm Quốc Chính mở cửa kho, mắt hấp hay:

-Đi đâu sớm thế mày?

-Đi với em...vô... bến xe Hậu Giang!

Nhanh nhẹn bước đến chiếc la-va-bô đặt trong góc nhà kho, Lâm Quốc Chính mở vòi nước rửa mặt, xúc miệng.

-Bộ chỉ có mầy là biết làm việc còn tao thất nghiệp hả? Mày quên hôm nay thứ  Hai sao Tẻng?

-Kho Năm lớn vầy mà không có làm toa-lết riêng sao anh Chính? Tẻng hỏi một câu hơi lạc đề.

-Này này, dân Khánh Hội toàn đi cầu tiêu tập thể, xài nước phông-tên, mày quá rành, còn làm bộ hỏi cắc cớ là sao? Lâm Quốc Chính bực dọc.

Tẻng cười lỏn lẻn đặt bộ đồ ka ki mới mua vào tay Lâm Quốc Chính:

-Mặc đồ mới vô đi rồi vô Chợ Lớn với em! Tẻng chỉ vào người mình. Em một bộ...anh một bộ... Giống nhau y chang! Hồi hôm má em thức gần tới sáng mới sửa xong hai bộ đồ...Anh thấy sao?

Lâm Quốc Chính mặc bộ đồ lính vào người, ngắm nghía trong gương.

-Chị Hai Gọn, má thằng Tẻng sửa quần áo mặc vừa lắm đấy! Hai tay sờ hai vai áo Lâm Quốc Chính nói. Công nhận chị Hai tính toán giỏi thực. Không tháo bỏ mấy thứ này tụi quân cảnh dễ nghi thằng anh mày là lính trốn quân dịch đấy nhé!

-Già như anh Chính...ai bắt...lính quân dịch làm chi. Tẻng cười nhẹ. 

Chải đầu kiểu Út Trà Ôn mái tóc vuốt ngược ra đàng sau, xức dầu brillantine láng mướt, người bảnh bao, áo bỏ trong quần thẳng thớm, nai nịch gọn gàng, Lâm Quốc Chính ngước mắt nhìn Tẻng: 

-Chú mày bắt cóc thằng anh mày đi đâu đây Tẻng?

Hai tay chống nạnh Tẻng hỏi:

-Bộ...bộ anh thích...làm chó berger...giữ  kho Năm lắm hả?

-Nói vậy không sợ thằng anh mày giận sao Tẻng?

-Ai biểu anh cứ hỏi tới...hỏi lui hoài? Bộ em dắt anh đi...ở tù sao mà sợ? Tẻng nói lớn như ra lịnh. Xách hết quần áo theo... anh giao luôn chìa khóa nhà kho cho ông Tư thủ kho. Tẻng khủng khỉnh đáp.

-Để ông chủ Kho Năm đuổi tao luôn sao Tẻng?

-Đêm qua anh Chính tự nhận mình...là dân giang hồ hảo hán xứ  Hải Phòng...mà còn tiếc rẻ chỗ giữ kho bé tí nị này sao? Chuyến này coi như tụi mình...đi luôn đó! Tẻng bật cười.

Thằng cà lăm mà nói chuyện khôn ngoan đáo để. Nó làm như mình là lính nó không bằng! Im lặng bước vào góc nhà kho, khều vai đánh thức ông Tư thủ kho gởi xâu chìa khóa, không giải thích lý do, Lâm Quốc Chính quẫy túi hành lý trên lưng, theo chân Tẻng rảo bộ ra bùng binh chợ Bến Thành. Băng qua đường Hàm Nghi, Lâm Quốc Chính rủ:

-Ghé hẻm Eden ăn bún riêu để nhớ Sài Gòn một tí đi Tẻng!

-Khỏi! Ra bến xe Hậu Giang ăn sáng! Tẻng gạt ngang cười hề hề. Trời ơi, đi  làm mướn mà anh làm như là... mình đi khổ sai biệt xứ....

Tẻng kéo tay Lâm Quốc Chính hộc tốc nhảy lên chuyến xe buýt, chạy tuyến đường Nancy-Cây Gõ...

Chủ hãng xe đò Thuận Thành liếc mắt coi qua bằng lái xe tải, thản nhiên bảo Lâm Quốc Chính đi thử vài đường quyền.

-Bộ ông chủ định mướn vệ sĩ sao? Lâm Quốc Chính hỏi.

-Hầy, đường về Miền Tây cả thủy lẫn bộ dạo này bọn bối nổi lên như rươi. Ngoài đội xe đò Thuận Thành sáu chiếc chạy đường Sài Gòn-Lục Tỉnh, ngộ còn là ông chủ đội tàu khách tuyến đường thủy từ Sài Gòn chạy thẳng tới Nam Vang. Yêu cầu của ngộ là hết thảy tài công, tài xế, lơ xe trong Công ty ngộ phải giỏi võ nghệ. Lý do là vì ngộ muốn mấy nị khỏi bị ‘’xúi quẫy’’khi gặp bọn bối giở trò quấy nhiễu dọc đường. Ngộ là ông chủ thì ngộ biến tùng quyền cũng được đi. Còn cánh tài xế, lơ xe mấy nị chẳng lẽ chịu bó tay để bọn ma quỷ tự do lộng hành sao? Phải cho bọn bối biết tay mấy nị là dân nghề võ chớ bộ! Tám Tiều hề hà nói.

Lão biết ‘ngộ biến tùng quyền’. Còn cánh tài xế, lơ xe lão xúi chống cự bọn bối hòng ra oai, lấy lòng hành khách! Mới rời Kho Năm bến Sáu Kho chẳng lẽ lại ôm gói quay về, Lâm Quốc Chính miễn cưỡng thi thố vài đường thảo bài Mai Hoa Quyền. Niềm nở bắt tay Lâm Quốc Chính, Tám Tiều khen nức nở: ‘’Ngộ hỏi thiệt, nị tên Chín hay nị thứ Chín?’’. Nghĩ mình có bằng cấp Tiểu học thời Tây, so với cánh tài xế xe đò không hẳn dân dốt, Lâm Quốc Chính ưởn ngực nói:

-Em tên Lâm Quốc Chính. Là chữ Chính có chữ hờ đấy, thưa ông chủ.

Tẻng bụm miệng cười. Tám Tiều lúc lắc chiếc đầu hói, cười hệnh hạc:

-Ngộ gọi nị là Chín Lơ Xe, nghe dễ kêu hơn!

Tám Tiều giải thích thêm:

-Lái xe đò đường lục tỉnh khó lắm. Nị không rành đường, không dòm ngó cẩn thận, để tài xế lạc tay lái, thì ngộ chớ không phải nị đền nhơn mạng đó nghen. Chịu hay không chịu, nị nói liền một tiếng đi!

Tẻng láy mắt ra hiệu Lâm Quốc Chính nên nhận lời…

Thế rồi trong cuộc nhậu ra mắt giới lơ xe bến xe Hậu Giang, đám nhóc phụ lơ xe trạc tuổi Tẻng, mười sáu, mười bảy tuổi cứ gọi trỏng:

-Vô với em một ly đi Chín Lơ Xe!

Đứa ngang tàng hơn hất mặt lớn tiếng nói:

-Ê, Chín Lơ Xe uống rượu khá quá tụi bây!

-Nè, cao thước tám không Chín Lơ Xe?

Lâm Quốc Chính nén giận không thèm trả lời.

-Một thước bảy chín! Tẻng đáp.

-Thấy chưa? Tao đoán trúng phóc! Một bảy chín coi như một tám mươi.

 Hai thằng nhỏ phụ lơ xe mặt non choẹt cụng ly một cái cóc.

-Thằng anh mày đường đường tên Lâm Quốc Chính, có bằng lái xe tải từ thời Tây cấp ở Hải Phòng. Ay thế mà Tám Tiều lại phân công làm lơ xe, còn gọi thằng anh mày là Chín Lơ Xe làm tao chết tên luôn! Lỗi tại mày đấy Tẻng! Lâm Quốc Chính ghé tai Tẻng càu nhàu.

-Anh Chính vô trong Nam một năm rồi...mà không biết đồng bào trong Nam...đâu có phân biệt chữ Chính... có hờ hay không có hờ. Ban  sáng nghe anh giải thích với ông Tám Tiều về cái tên Lâm Quốc Chính, em tức cười chết luôn! Bộ anh quên...ông Tám Tiều là...người Tàu sao? Tiếng Việt ổng...đâu có mấy rành? Tẻng bật cười khơ khớ.

Ngày tháng qua nhanh. Dân xe đò bến xe Hậu Giang, bến xe Long Xuyên, bến xe Châu Đốc cứ gọi Chín Lơ Xe ơi, Chín Lơ Xe hỡi, làm người được gọi riết rồi quên luôn cái tên Lâm Quốc Chính. Chỉ nhớ mình là Chín Lơ Xe.

 

2

Làm nghề nào yêu nghề nấy. Mọi trở ngại, khó khăn rồi cũng quen. Chín Lơ Xe có cảm tình với cô Bông má bầu, đôi mắt gợi tình lúng liếng. Mùa nào Bông chở hàng loại đó. Ngoài mớ hàng trái cây, rau củ, xoài, mít, su su, sa kê trên núi, dưa leo, củ kiệu, hành hẹ, cải bắp, bầu bí miệt Vàm Nao, cù lao Ông Chưởng, Bông chở thêm mắm ruột, mắm cá lóc, mắm cá linh, khô sặt, khô cá tra Biển Hồ. Trời sáng mờ mờ, sương núi âm u, đã thấy Bông ngồi lọt thỏm trên xe ngựa, xung quanh chất đầy giỏ cần xé. Xe thổ mộ Sài Gòn có mui gỗ cong vênh, bánh xe cây niềng sắt đẹp mã, sang trọng. Xe ngựa Thất Sơn không mui, hình dáng thô kệch, bánh xe cao su lầm bụi cát. Xe ngựa chưa kịp ngừng, đã thấy Chín Lơ Xe nhanh nhẹn nhảy phóc xuống đường bợ đít giỏ cần xé trái cây nặng chịch, chuyền lên cho Tẻng đứng khom lưng trên mui xe chờ sẵn. Khi xe chạy, Bông chọn chỗ ngồi kế bên Chín Lơ xe hàng ghế sau cùng. Mỗi lần xe đò vượt qua khúc cua, lao nhanh xuống dốc cầu gập gềnh, Bông hớ hênh để hai bầu vú êm ái ấn nhẹ vào vai Chín Lơ xe, làm trái tim anh chàng chưa vợ đập thình thịch theo nhịp xe chạy. Những bó nhang xòe ra như cánh quạt phơi vàng nghệ trước sân, phơi trên bờ rào cây dâm bụt, hàng rào cây me nước sát mé lộ. Đám lá gòn phơi đầy trên mặt đường. Khi xe đò chạy qua xóm Cầu Sơn, từ  xa Chín Lơ Xe nhanh nhẹn ló mặt ra ngoài cửa sổ xe, đập thùng xe rầm rầm, hét lớn ’Tốp! Tốp!’. Tên lính ngồi trên chòi gác giữa cầu, cầm thanh gỗ tròn trên ngọn cây gắn tấm bảng thiếc sơn màu trắng lật nhanh sang màu đỏ. Đoàn xe nhà binh từ bên kia Cầu Sơn rầm rầm lao qua, cát bụi mù trời,thổi bay đám lá gòn lỏa xỏa, rớt xuống dòng kinh bên vệ đường mọc đầy rau muống lẫn đám cỏ nghễ rậm rịt. Ông lão từ trong nhà chạy vụt ra, nhảy loi choi trên mặt đường, lẩn trong khói bụi, tay chống nạnh ngoác miệng chửi: ‘’Mồ tổ cha mấy thằng lơ xe chạy ẩu!’’. Cô cháu gái hổn hễn chạy theo sau, vòng tay ôm ghì ông lão kéo rịt vô nhà.

-Xe nhà binh chạy ẩu chứ nào phải xe đò mà ông lão chửi mắng nhặng xị. Tài xế lái xe ẩu mà lơ xe bị chửi? Đời chẳng công bằng tí nào, phải không cô Bông?

-Lơ xe là tai mắt tài xế. Oan ức gì đâu anh Chín ơi! Bông cười khúc khích.

Bác Bảy Nghễ là thợ sửa xe lâu đời giỏi nhứt xóm Cầu Sơn.

-Cái tên Bảy Nghễ nghe cũng lạ!

-Bộ anh Chín không biết cây nghễ hả? 

Bông cười hí hí đưa tay chỉ đám cỏ nghễ mọc đầy trên mặt nước dòng kinh dọc quốc lộ.

-Mấy năm trước, trong lần đi xe lôi máy lên chợ Châu Đốc mua đồ phụ tùng sửa xe, bác Bảy Nghễ bị xe nhà binh đụng té xuống lề đường, sinh tật nghễnh ngãng. Hễ thấy đoàn xe vài ba chiếc rầm rầm chạy ngang qua lộ, không cần biết đó là xe nhà binh hay xe đò, bác Bảy Nghễ nổi cơn điên dậm chân đùng đùng, nhào lên mặt lộ chửi bới. Nhà bác Bảy Nghễ  ở sát chân  Cầu Sơn.

-Sao con cháu không dời nhà ông lão đi chỗ khác?

-Bác Bảy Nghễ làm nghề sửa xe mà dời nhà khỏi mặt đường, coi như  bỏ nghề sao anh?

Chẳng ở đâu giống xứ này. Sáu tháng đồng khô, nửa năm nước lụt. Dân chúng toàn cất nhà sàn, quen lệ coi con đường quốc lộ như sân phơi trước nhà. Gần ngày giáp Tết, lúa chín phơi vàng quốc lộ dài hàng trăm cây số, từ bến bắc Mỹ Thuận qua Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc. Giờ tan trường đám học trò tỉnh lẻ đạp xe nghinh ngang cặp hàng đôi, hàng ba dài trên quốc lộ. Trên con đường nắng chang chang không một bóng cây, thỉnh thoảng có đứa trẻ cắm đầu chạy ngang qua, không nhìn ngó trước sau. Xe đò chạy ngon trớn, tài xế dễ lạc tay lái lủi xe xuống con kinh, có khi là dòng sông dọc quốc lộ. Đến mùa nước nổi xe trâu, xe bò, bồ lúa, chuồng heo, chuồng gà, chuồng vịt lút trong đồng sâu ngang nhiên dời lên mé lộ, làm xe đò chạy chậm như rùa bo. Lơ xe đò sợ trễ hai chuyến phà Vàm Cống, phà Mỹ Thuận, ngại chạy xe ban đêm, rủi ro gặp bọn bối chận xe dọc đường đòi tiền mãi lộ. Gặp đoạn đường thẳng, nhà cửa thưa thớt, lơ xe đập thùng xe thình thình, luôn miệng hối thúc xe đò chạy nhanh. Mỗi lần sắp đến Cầu Sơn, muốn lấy lòng Bông, bao giờ Chín Lơ Xe cũng hét tài xế chạy chậm. Nhà Bông ở ngoài vàm rạch Mù U, còn gọi Xóm Rẫy. Dân Xóm Rẫy thường ngày bơi xuồng sang đất cồn trồng bầu bí, dưa leo, dưa hấu. Mẹ con Bông chuyên buôn bán hàng bông đường dài. Sau này mẹ Bông nhường cho con gái, ngồi nhà se nhang. Ghe thương hồ miệt vườn Tân Châu, Hồng Ngự, Nhà Bàng, Nam Thới Sơn tiếp tục chở trái cây đến nhà Bông bỏ mối. Mỗi sáng sớm từng đoàn xe ngựa nối đuôi chở hàng bông từ dưới xuồng ghe dân Xóm Rẫy đậu dưới chân Cầu Sơn.

-Lá chuối xứ mình cho không chẳng ai thèm lấy. Mùa mưa nhiều nhà vườn thuê mướn nhơn công đến rọc lá chuối. Mỗi lần nhà em làm đám giỗ, cần lá chuối gói bánh tét, bánh ít, em đi ra sau hè nhà bà con lối xóm rọc lá chuối khỏi trả tiền, lại còn được chủ vườn cám ơn. Em thử chịu khó mang lá chuối lên Sài Gòn bán. Bông nói.

-Lá chuối bán được sao cô Bông?

-Tết nhứt dân Sài Gòn có cái lệ gởi biếu bánh tét, bánh ít bà con lối xóm. Đêm ba mươi Tết nhà nào không có mấy đòn bánh tét, bánh ít cúng ông bà? Tết năm gần đây, đồng bào di cư vô đông, Sài Gòn rộ lên việc biếu xén bánh chưng. Gói bánh tét, bánh chưng cần lá chuối. Chuyến xe trước em thử chở lên Sài Gòn mấy giỏ cần xé lá chuối. Đố anh Chín vậy chớ ở Sài Gòn dân ở đâu chuyên gói bánh tét, bánh chưng?

Nhìn vẻ mặt ngơ ngác của Chín Lơ Xe, Bông mỉm cười:

-Anh là dân Sài Gòn mà không rành hơn em. Dân Hốc Môn, Bà Điểm. Ở xứ đó toàn trồng trầu cau. Bà con mình phải đi mua lá chuối xứ khác. Bộ anh Chín không nhớ hôm nay là ngày đưa ông Táo về trời sao?

-Đã đến Tết rồi sao? Chín Lơ Xe  thảng thốt.

-Sau chuyến này em nghỉ Tết. Sang năm anh em mình mới gặp lại.

-Trưa ba mươi tụi anh làm lễ cúng xe. Sáng mồng một Tết hãng xe đò Thuận Thành khai trương chuyến xe đầu năm mới. Dân xe đò mãn năm không có ăn Tết!

Bông mời Chín Lơ Xe đêm ba mươi Tết đến nhà đón giao thừa. Không thích để Bông thương hại, Chín Lơ Xe hỏi lãng:

-Lá chuối bán được khá tiền không em?

-Mới bán mở hàng, chưa biết sao. Lá chuối nhẹ tênh, tiền ba-ga không là bao, của đi xin thiên hạ nên bán ra cũng có lời chút đỉnh. Em nghĩ cái sáng kiến của em chắc không bền.

-Sao vậy em?

-Bây giờ lá chuối còn cho không. Mai mốt người ta biết giá trị của nó. Lá chuối lại lên giá. Dân mình là vậy. Bông thở hắt ra. Mà em cũng vậy thôi. Trồng cây chuối cực khổ lắm chớ bộ!

Nhớ hồi ở bến xe Hậu Giang, đèn đường vừa tắt, Chín Lơ Xe chợt thấy một cô gái ôm thu lu trong tay chiếc túi bàng ngồi quán cóc, đon đả gọi:

-Uống cà phê anh Chín ơi!

Chẳng biết cô gái là ai, nhưng Chín Lơ Xe vẫn đến làm quen:

-Đêm qua cô thuê phòng ngủ tại bến xe Hậu Giang à?

-Bạn hàng bông như em làm gì có dư tiền thuê phòng ngủ hả anh? Mấy năm nay em toàn ngủ ghế bố vựa trái cây chị Ba Bảnh chợ cầu Ông Lãnh. Em bỏ mối hàng bông tại đó. 

-Vậy hả. Cô tên gì?

-Em tên Bông. Không phải do cô buôn bán hàng bông đâu nghen. Bông là tên trong khai sanh.

-Anh thứ Chín hay tên Chín?

Chín Lơ Xe mỉm cười, không muốn giải thích dài dòng về cái tên của mình liền nói:

-Anh em quen gọi tôi là Chín Lơ Xe!

-Vậy hả. Đường Sài Gòn-Châu Đốc có hai chuyến xe trong ngày. Chuyến tà nhứt bốn giờ sáng xe chạy. Không tới bến xe sớm thì hết chỗ sao anh Chín? Mà sao giờ này chưa thấy có khách nào tới vậy anh?

Chín Lơ Xe giải thích vé xe đò ghi bốn giờ sáng xe chạy. Sự thực giác đó tài xế đang ăn sáng, uống cà phê. Lơ xe ôm vô-lăng xe chạy ra trạm xăng cách bến xe vài trăm thước. Đổ xăng xong lơ xe chậm rãi quành xe chạy trở vào bến xe, đậu ngay chỗ cũ. Bông mỉm cười ngây thơ hỏi:

-Anh chạy xe giả đò như vậy làm chi?

-Mánh lới nhà nghề của chủ hãng xe đo đấy. Họ  muốn đón thêm khách, để khách quen lệ đi sớm khỏi phải nóng lòng chờ đợi. Từ nay anh giữ chỗ trước cho Bông. Năm giờ sáng em có mặt tại bến xe cũng còn kịp.

-Nghề thương mãi xứ mình còn lâu mới phát triển. Bán buôn toàn chụp giựt, nói thách tùm lum, tranh giành mối của nhau. Không như mấy ông Ba Tàu. Ai có vốn nhiều sẵn sàng giúp người vốn ít. Người cũ hết lòng giúp đỡ người mới vô nghề. Nghĩ mà chán! Bông thở dài.

-Đi làm ăn xứ người ai không như vậy? Đâu phải chỉ có mấy người Hoa Kiều mới biết bênh vực nhau? Tình nghĩa đồng hương quan trọng lắm. Chuyện giúp đỡ nhau là tất nhiên!

-Vậy anh Chín di cư vô đây, có thấy ai đứng ra binh vực, giúp đỡ anh Chín không nè?

Câu hỏi trả treo làm Chín Lơ xe đớ lưỡi. Tới bến bắc Mỹ Thuận, nhảy xuống xe Chín Lơ Xe gặp Tám Tiều:

-Ông chủ có biết cô Bông không?

Tám Tiều gật đầu. Chín Lơ Xe nói:

-Bận về cô Bông không chở hàng, ngồi băng ghế chót. Cổ là khách quen. Vậy ông chủ tính sao?

Tám Tiều hỏi lâu nay Chín Lơ xe tính thế nào. Chín Lơ xe thận trọn g nói với ai em cũng tính tiền răng rắc! Chín Lơ Xe nói nịnh.  Tám Tiều khoái trá cười hề hề, khoe hàm răng vàng chóe, phẫy tay nói:

-Hầy, bận về chú Chín lấy cổ phân nửa tiền vé thôi. Cô Bông là bạn hàng quen biết lâu năm mà!

Đến lúc ngồi quán Hai Hường, phía bến bắc Mỹ Thuận bên bờ sông Tiền, Chín Lơ Xe nói:

-Bận về em đi tay không là không kinh tế.

-Biết là vậy nhưng em không có vốn. Bông nói.

-Nếu đủ vốn em buôn hàng gì?

-Ít vốn buôn bán hàng bông như em. Đủ vốn liếng buôn vải, buôn thuốc tây. Lớn vốn buôn vòng vàng, hột xoàn. Hàng gì tỉnh lẻ không có, mình mang về dưới tỉnh bán. Chắc chắn có lời.

-Rủi lỗ vốn thì sao?

-Nước luôn luôn chảy về chỗ trũng. Làm sao lỗ vốn được anh Chín? Mình lấy công làm lời. Buôn bán nhỏ tỉnh lẻ, tính lời nhiều quá, mất khách hết sao anh Chín?

-Thế thì tại sao mình không cưới nhau? Chín Lơ Xe hỏi nửa đùa nửa thật.

-Có chuyện đó nữa à? Bông trố mắt nhìn Chín Lơ xe. :

-Để anh em mình hùn vốn làm ăn. Chín Lơ Xe ỡm ờ.

-Giả dụ như anh em mình hùn vốn thì anh Chín định buôn hàng gì?

-Buôn thứ gì cũng được. Miễn có em bên cạnh thì anh không ngại. 

Nàng nhìn chàng nghiêm chỉnh nói:

-Buôn bán hàng bông khó giàu có. Chuyển sang bán buôn thứ khác,  em không có quen, lại thiếu vốn.

-Thiếu vốn đi vay. Không quen mai mốt quen. Chuyến về mà em đi tay không thì tốn hao công sức mà chẳng lợi lộc chi. Hãng xe đò Thuận Thành phải chọn con đường có đông lưu lượng hành khách hai chiều lên xuống. Nếu không làm thế hãng xe phá sản. Đi buôn phải giỏi tính toán.

-Ông Tám Tiều tính toán, mưu mẹo nên gia sản, cơ ngơi ông đồ sộ.

-Ông chủ là người tốt bụng, miễn nửa phần tiền vé chuyến về cho em đấy.

-Em không cần miễn nửa tiền vé. Ông Tám Tiều thật sự không có tốt. Ở đời chẳng ai cho không mình cái gì đâu. Bông bỉu môi.

Bến phà Mỹ Thuận ngày giáp Tết luôn gặp nạn kẹt xe. Xe đậu hàng dãy dài hai bên bờ bến bắc Mỹ Thuận. Một đoàn xe nhà binh, xe cứu thương chạy trờ tới chen lên đậu phía trước. Câu chuyện của hai người lại tiếp tục.

-Quen nhau lâu mà em chưa biết anh Chín bao nhiêu tuổi.

-Hai mươi chín.

-Ua, anh Chín già dữ vậy sao?

-Đàn ông hai mươi chín tuổi thì già chi mà già? Nói thực anh vẫn còn tiết trinh đấy nhé!

-Cỡ tuổi anh Chín là bậu lỡ thời rồi. Trẻ trung gì nữa.

Bông chúm môi cười, đọc bốn câu vè ghẹo Chín Lơ Xe:

‘’Bậu lỡ thời như trái chín cây.

Trái chín cây người ta còn hái.

Bậu lỡ thời như cá trong nơm.

Cá trong nơm người ta còn rọng...’’.

Chín Lơ Xe giả vờ không để ý, vẫn nồng nhiệt hỏi:

-Bông này, anh định cưới em thực đấy!

-Anh Chín nói chơi thôi. Bông cúi mặt, mắt lúng liếng liếc xéo.

-Chuyện cưới hỏi ai lại đi nói chơi?

-Lỡ anh Chín có vợ ngoài Bắc rồi thì sao? Hai mươi chín tuổi mà không có người yêu. Em không tin.

-Anh chưa vợ thực đấy. Chín Lơ Xe đột ngột nắm chặt bàn tay Bông.

-Nhựt trình Sài Gòn nói ngoài quê anh Chín con gái mười bốn tuổi lấy chồng. Em không làm vợ bé đâu anh Chín ơi! Bông lẹ làng rút tay ra.

-Tục tảo hôn là của đồng bào dân tộc thiểu số. Quê anh ở Hải Phòng. Dân Hải Phòng văn minh lịch sự chẳng kém dân Sài Gòn.

-Vậy anh Chín vô Sài Gòn làm chi?

Chín Lơ Xe chưa tìm được câu trả lời. Bông dịu dàng nói nàng ở Xóm Rẫy nhưng chưa bao giờ thấy anh ghé thăm nhà. Ngày giỗ cha nàng chỉ thấy thằng Tẻng. Sống vô tình như vậy làm sao Bông dám tin lời anh Chín? Chín Lơ Xe rủa thầm thằng Tẻng. Dự đám giỗ bố nàng Bông mà Tẻng không rủ thằng anh nó đi theo.

-Mặt mũi em không đến nỗi xấu xí hả anh Chín? Bông ngọt ngào hỏi. 

-Em là cô gái xinh đẹp nhất trong nhóm các chị em buôn chuyến đường dài Châu Đốc-Long Xuyên-Sài Gòn.

-Thiên hạ nói mấy đứa con gái buôn chuyến ăn cơm bến bắc ngủ xe đò, dễ bắt bồ bịch với đám lơ xe, tài xế. Họ làm như tụi em là bọn con gái không có đức hạnh chi hết. Mắt Bông đỏ rựng.

-Hơi đâu em để ý lời thiên hạ đồn đại. Họ gọi tụi anh là thằng, xem  tụi anh là hạng người cùng đinh trong xã hội. Có ai xem lơ xe là người đàng hoàng, đứng đắn? Ngay các cô cũng vậy!

-Các cô nào? Anh Chín muốn ám chỉ ai?

-Ai cũng nghĩ dân lơ xe yêu thương xốc nổi, không đàng hoàng. Nghĩ  mà buồn.

-Thiệt tình, giới lơ xe nhiều người nói năng lổ mãng. Mở  miệng là văng tục, chửi thề, gây gổ, đánh lộn, chèo kéo, giành giựt khách. Dân buôn chuyến tụi em còn ngán mấy anh, huống hồ hành khách xe đò.

-Không làm vậy, ông chủ đuổi cổ tụi này đi chỗ khác chơi ngay!

Khi xe đò về bến, lơ xe bận rộn rửa xe, xem qua máy móc, bơm xăng nhớt. Sau đó cả nhóm lơ xe cánh hẩu ra quán cóc bến xe ngồi nhậu. Tài xế được chủ cưng chiều, ăn ngủ tại khánh sạn. Lơ xe ăn cơm bụi, ngủ trong xe đò. Khi xe chạy, lơ xe luôn tay đập thùng xe thình thình, miệng thét la khản cổ. Còi xe bóp nhức óc mà dân chúng cứ nhởn nhơ qua lại trên đường, thả chó chạy rong, phơi lúa, phơi nhang đầy mặt lộ. Lái xe, lơ xe sơ xẩy chút xíu dễ lạc tay bánh lủi vô lề đường, xộ khám như chơi. Suốt quãng đường dài lơ xe đứng khom lưng, chong mắt dõi nhìn phía trước, luôn miệng lớn tiếng nhắc chừng tài xế. Họa hoằn lắm mới có quãng đường trống để lơ xe có được vài phút giây thư thả nhưng không hề  nhắm mắt. Đôi khi thèm ngồi cạnh Bông, kín đáo hít ngửi mùi thơm phả ra từ mái tóc xức dầu dừa, đón những sợi tóc rối của nàng lất phất bay, mơn man đôi gò má Chín Lơ xe. Hàng quán giải khát, tiệm cơm bến bắc Mỹ Thuận liền kề nhau. Người ngồi quán này xoay mặt trò chuyện với người ngồi tiệm quán bên kia. Thấy đôi trai gái ngồi tâm tình suốt, chị Sáu Ngọ ngồi trong tiệm cơm Chín Nguyện, ngó sang nói trỏng:

-Nhỏ Bông cao vọng lắm đó anh Chín ơi. Liệu kiếm nhỏ khác hiền lành như nhỏ Nhan vầy nè. Chịu nhỏ Nhan không, chị làm mối?

Cô Nhan hiền lành mặt đầy tàng nhang, đôi mắt lé kim đang mắc cỡ cúi nhìn dĩa cơm đang ăn, tay vân vê chiếc muỗng nhôm lật đi lật lại khua lanh canh. Sáu Ngọ nhìn nhóm con gái Xóm Rẫy cười tủm tỉm:

-Nhỏ Nhan với anh Chín Lơ Xe rất xứng đôi. Phải không mấy em?

-Dạ. Đám đông con gái cười nói lào xào.

Cô Tím mặt mày trắng trẻo, chót mũi nổi mụn nhọt đỏ như trái ớt chín, lí lắc nói. :

-Mời anh Chín Già sang bàn bên này uống nước. Hơi đâu anh Chín Già cặp kè với nhỏ Bông hoài mà chẳng được nó ngó ngàng tới? Con gái Xóm Rẫy tụi em có nhiều đứa để ý tới anh Chín Già lắm đó.

Tư  Niên dáng to bè, người thấp lùn nhưng giọng nói thanh thao, truyền cảm và  hồn nhiên:

-Ai vậy Tím?

-Em đây.

Tím chỉ vào ngực mình cười ngặt nghẽo.

-Anh Chín chưa tới ba mươi. Già chi mà già? Anh Chín mà ưng em thì em  chịu liền! Tư Niên nói.

-Tư Niên mới có 25 tuổi hà, anh Chín ơi! Tím nhanh nhảu nói.

Út Nhiệm cười mím chi, ra chiều thông cảm:

-Thấy anh Chín Già sống cu ky, em thương anh Chín Già lắm đó. Làm mai anh Chín Già cho em đi chị Sáu!

Nhìn lướt qua nhóm con gái, Sáu Ngọ nói:

-Con gái Xóm Rẫy đứa nào cũng đẹp, lại nết na. Chín Lơ Xe ưng đứa nào chị Sáu sẵn sàng làm mai đứa đó.

-Sao ngồi im re vậy Bông? Tím trêu.

Chín Lơ Xe bỗng mất bình tĩnh, đưa tay ngoắc chị Hai Hường chủ quán bảo tính tiền. Bông ghé tai Chín lơ xe hỏi:

-Anh Chín đi đâu?

-Anh vào trong xe. Chín Lơ Xe uể oải đáp.

-Trưa nay em bao anh Chín. Tiền bán lá chuối đó. Chị Sáu Ngọ và mấy nhỏ bạn nói chơi vui thôi. Anh Chín đừng có giận.

Chín Lơ Xe càu nhàu:

-Anh yêu em thực tình mà mấy cô cứ đùa bỡn. Hết cắp đôi còn gọi anh là Chín Già!

-Thân thích nhau thiên hạ mới cắp đôi. Mấy năm đi buôn chuyến em bị thiên hạ cắp đôi hoài. Bông nói.

Chín Lơ Xe nguôi giận nhưng giọng nói vẫn không bình thường:

-Thiên hạ cắp đôi em với ai?

-Thì có ai ngoài đám tài xế, lơ xe mấy anh? Nàng xẳng giọng. Chị Sáu Ngọ nói vui vậy chớ trong lòng chị Sáu buồn bực ra sao, anh Chín đâu có biết!

Bông kể mới đầu chị Sáu Ngọ được ông Tám Tiều thương tình ngó lơ miễn tiền vé xe đò. Những tưởng ông chủ xe đò thương người nghèo khó, chị Sáu Ngọ hết lời cảm ớn, tấm tắc khen ông Tám Tiều tốt bụng, thương người. Cuối năm tài xế lơ xe báo cáo sổ sách, nghi Tám Tiều tư tình với chị Sáu Ngọ, vợ Tám Tiều mướn xe ra bến xe Hậu Giang, giở trò ghen tuông bóng gió. Tám Tiều nhờ nhỏ Tím nói khéo là tiền của nhóm bạn hàng bông Xóm Rẫy gom góp, đưa cho chị Sáu Ngọ trả dứt nợ. Chuyện vở lở khi chị Sáu Ngọ phát hiện đó là tiền Tám Tiều gởi tặng. Người đàn bà cô đơn chưa chồng xúc động, tìm gặp Tám Tiều ngỏ lời cám ơn. Tám Tiều hề hà nói đó chỉ là chuyện nhỏ, lái xe đưa chị Sáu Ngọ vào nhà hàng Đồng Khánh ăn cơm Tàu, ghé chợ Bến Thành, thương xá Charner hào phóng  mua tặng chị Sáu Ngọ nhiều món quà đắt tiền, vải vóc, quần áo mới. Người đàn bà chưa chồng xúc động nê đã ngã vào lòng ông chủ đa tình. Đời tình ái của chị Sáu Ngọ thật sự  không có vui.

-Rồi chị Sáu Ngọ hận đời nên đi chọc phá người khác! Chín Lơ Xe nói.

-Anh Chín đừng nói vậy. Chị Sáu Ngọ rất đáng thương. Sau này nhỏ Tím thú thiệt mọi chuyện là do Tám Tiều sắp đặt. Tám Tiều bảo tài xế báo cáo mọi khoản thu chi cuối năm cho vợ. Tám Tiều đưa tiền nhỏ Tím nhưng lão tung hê với mọi người chuyện tình cảm giữa lão và chị Sáu Ngọ. Như con cá nằm trên thớt, chị Sáu Ngọ vô tình bị mắc bẫy!

-Từ chuyện chị Sáu Ngọ bị Tám Tiều giở ngón tình lừa mà em nghi ngờ lòng thành thực của anh sao? Anh là thằng lơ xe khố rách áo ôm. Chẳng có của nả chi để dụ dỗ em.

Bông bối rối nói lúc mới vô nghề, mẹ bắt nàng khấn vái trước bàn ông thiên, khi làm nghề buôn bán hàng bông nàng không được làm điều chi bất nhã. Nếu nghe tin con gái làm điều tai tiếng, mẹ sẽ bắt nàng ngồi nhà se nhang, sau đó mẹ sẽ nhờ mai mối gả chồng cho nàng. Nghề se nhang nhàn hạ nhưng ngồi một chỗ. Buôn bán hàng bông tuy cực khổ mà được đi đó đây. Đưa tay chỉ mấy đứa trẻ bán vé số đi lại nghểu nghến dưới bến phà, luôn chìa tay mời khách mua vé số, Bông nói là mỗi chuyến qua bắc Mỹ Thuận lần nào em cũng mua mấy tờ vé số Kiến Thiết Quốc Gia, vé số Tombola. Chưa lần nào Bông trúng số. Quới nhơn của nàng chưa xuất hiện…Sau Tết, Bông chuyển sang đi đường thủy. Mùa nắng chẳng thấy nàng trở lại đi xe đò. Chín Lơ Xe thầm đoán nàng đã gặp quới nhơn. Nhớ lần cuối cùng ngồi bên nhau trên bến phà nàng nhìn thẳng vào mắt Chín Lơ Xe một lúc lâu, lúng liếng nói:

-Hăm chín tuổi là nửa đời người rồi. Chẳng lẽ anh Chín sống phiêu linh như vầy hoài sao?

-Anh định tìm bến đỗ nhưng đã có cô nào chịu anh cưới đâu mà ghé bến? Chín Lơ xe ỡm ờ nói những lời văn hoa, bóng bẫy.

-Cô nào muốn yêu anh Chín phải suy nghĩ, tính tới tính lui. Tính riết mà không thấy có lối ra.

Về bến xe Châu Đốc nhóm bạn lơ xe gầy sòng bài xập xám. Chín Lơ Xe thua bạc sạch túi. Nhậu say lơ mơ vào nằm trong xe đò, Chín Lơ Xe thua buồn ngẫm nghĩ. Ừ nhỉ, làm sao mà một cô gái chí thú làm ăn như nàng lại có thể gắn bó cuộc đời với một kẻ lang thang, cô độc  như mình. Mình chưa thấy cái bến đỗ đời mình ở đâu, sao lại trách nàng không chịu cùng mình ghé bến. Nửa đêm thức dậy, người mỏi mệt sau cơn say, Chín Lơ Xe gọi Tẻng nhờ cạo gió đấm lưng. Tẻng nhấm nhẳng nói: ‘’Bớt...bớt...nhậu đi anh Chín. Có bao nhiêu tiền...anh nhậu...nhậu hết là sao?’’. Nằm dài trên băng ghế ngoái cổ nhìn thằng Tẻng dạng chân ngồi trên lưng mình, hai tay đấm lưng thùm thụp, Chín Lơ Xe hờ hửng nói:

-Tẻng không nhậu là để dành tiền cho chị Hai Gọn đóng tiền hụi. Còn thằng anh mày dư tiền chẳng để làm chi. Thế thì nhậu!

-Là người thì phải biết tích cốc phòng thân...trong những đêm...trái gió trở trời... như vầy nè!

Tẻng bẻ lưng Chín lơ xe nghe một cái rụp:

-Em thấy hơi lạ. Sống phiêu linh như anh Chính mà làm chánh trị làm chi?

Chín Lơ Xe bực mình nhổm người dậy hỏi:

-Này này, thằng anh mầy làm chính trị bao giờ thế? Lính kín mà nghe được là anh vào khám đấy!

-Vậy sao anh Chính... đi di cư ? Sao không ở quách luôn... ngoài đó? Vô đây làm gì để mang tiếng là đồng bào di cư cho thiên hạ ghét?

Chín Lơ Xe nỗi cáu:

-Dân di cư làm gì mà thiên hạ ghét?

-Em không biết... Nhưng em biết là thiên hạ ghét mấy anh... Không tin anh Chín hỏi...hỏi đám lơ xe chạy đường Sài Gòn-Kiên Giang-Hà Tiên thì rõ...

Tẻng lặp bặp kể qua khỏi bắc Vàm Cống, đến ngã ba Lộ Tẻ, dọc dài hàng mấy chục cây số, là đất địa đồng bào di cư khu trù mật Cái Sắn. Lơ xe đò căn dặn nhau có đi ngang qua đoạn đường Cái Sắn, rủi xe đò cán chó chạy rong hoặc rủi ro đụng người thì đừng có ngu dại mà dừng xe lại. Cứ chạy thẳng tới trạm gác gần đó rồi dừng xe lại, chờ hồi sau  phân giải. Nếu không dân Cái Sắn  xúm lại mỗi người một gậy phang túi bụi vào đầu vào cổ, coi như không chỉ tài xế mà lơ xe đều rơi vào cửa tử. Tẻng nói:

-Họ ỷ thế, dựa hơi chánh quyền, coi tụi mình như cỏ rác!

-Đó chỉ là một số ít thôi. Nói chung đồng bào di cư đau khổ lắm chứ có sung sướng chi đâu? Đồng bào bị lừa gạt, hứa hẹn vào Miền Nam như là vào miền đất hứa. Chẳng ngờ vào đây, tất tật bị đẩy lên những vùng đất hoang, xứ khỉ ho cò gáy. Thanh niên thì bị bắt lính. Như thế bảo sao đồng bào di cư không nổi giận? Như thằng anh mày gốc gác dân Hải Phòng. Thấy mọi người ùn ùn xuống tàu vào Nam miễn phí, sẵn máu giang hồ thằng anh mày hăng hái nhào xuống tàu đi luôn. Bây giờ thằng anh mày bị mang tiếng là dân di cư . Chứ  thằng anh mày chẳng có chính trị chi cả. Vào Nam thằng anh mày làm gác dan rồi thì làm lơ xe mà quyền uy, dựa hơi ai? Còn lý do gì mà chú mày bỏ học đi làm phụ lơ xe lúc mới mười sáu, mười bảy tuổi thế này hả Tẻng? Chín Lơ Xe than thở.

Tẻng lắp bắp trả lời:

-Tại cha em chết...Thấy mẹ.., cực khổ nên ...em bỏ học đi làm...Vậy thôi! Em giống anh Chín là... tánh thích phiêu bồng. Tẻng ngân nga: ‘’Làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông Đông tĩnh,  lên Đoài Đoài tan.’’.

-Về trình độ học vấn, chuyện thơ văn tao công nhận Tẻng giỏi hơn.

-Em chưa học hết lớp Đệ Tứ.

-Vậy cũng hơn anh bốn lớp! Thằng anh mày chỉ có ngạc nhiên là mỗi khi ngâm thơ, ca Vọng Cổ tại sao Tẻng không  cà lăm tí nào?

-Em không hiểu tại sao lạ vậy nữa. Chắc tại ông trời khiến xui vậy.

-Ừ. Ngâm thơ, ca Vọng Cổ mà cà lăm thì ai người ta nghe cho? Nên ông trời mới khiến xui như thế. Như vậy là ổng còn thương mày. Hèn chi lúc nào chú mày cũng bênh vực ông Trời. Mà mày ngâm thơ ai vậy Tẻng?

-Thơ Nguyễn Công Trứ.

Khoác áo thun lá vào người, mở cửa sổ xe, nhón tay lấy điếu thuốc Mélia xanh, bật quẹt đốt thuốc hút phì phà, nhẩm đọc:

-Làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông Đông tĩnh. Lên Đoài Đoài tan. Chín Lơ Xe ngồi bật dậy:

-Hay! Thơ Nguyễn Công Trứ hay thực đấy Tẻng ạ!

Ngoảnh lại, thấy Tẻng nằm dài trên băng ghế xe đò nhắm mắt ngủ khò. Tiếng rao đêm ngọt ngào nghe xa vợi, buồn áo não: ‘’Ai chè khoai, đậu đen, nước dừa, đường cát...hôn!...’’. Một anh xe lôi thấy xe đò mở cửa sáng đèn từ xa chạy đến, ngồi trên yên xe nhóng mắt nhìn lên hỏi:

-Đi chơi không thầy?

Quăng điếu thuốc xuống mặt đường làm búng lên tàn lửa đỏ, Chín Lơ Xe đổ quạu:

-Lơ xe mà thầy bà gì? Mẹ kiếp!

Anh xe lôi mắc cỡ quay xe còng lưng đạp xe tháo lui. Chín Lơ Xe đóng sập cửa sổ xe để tránh muỗi, tắt đèn, nằm gác tay lên trán, nghĩ ngợi. Ừ nhỉ. Lơ xe đò thì có chi mà thỏa chí tang bồng nam nhi hồ thỉ. Làm gì có chuyện xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài tan. Thằng Tẻng xạo. Thấy mình học ít, nó  thấu cáy mình!

 

CHƯƠNG II

1

Trận thí võ đài lễ hội Vía Bà núi Sam, Chín Lơ Xe chiếm giải vô địch, nhận số tiền thưởng khá hậu hỉnh, liền mở tiệc chiêu đãi bạn hữu giới tài xế, lơ xe trong nhà hàng Cồn Tiên nổi tiếng ở thị xã Châu Đốc. Khách phải đi qua phà để có dịp ngắm nhìn ngã ba sông Hậu và vàm kinh Vĩnh Tế. Trong buổi tiệc rượu, Chín Lơ Xe mời thêm Út Nghệ, bạn nghề võ mới quen trong cuộc thí võ đài ở chân núi Sam. Sau vài ly rượu sơ giao, Út Nghệ thân mật hỏi: 

-Lúc quen nhau, mình không biết bạn là lơ xe. Võ giỏi như bạn đâu khó kiếm chỗ làm tốt hơn?

-Thời buổi này, giỏi võ nghệ chẳng làm nên vương tướng chi. Chín Lơ Xe hững hờ đáp.

-Chí ít bạn cũng có thể chọn cái nghề dính dáng đến võ nghiệp.

-Để làm gì?

-Để khỏi bỏ công tập luyện võ nghệ. Chưa nói đến chỉ riêng cái việc chiếm giải khôi nguyên trận thí võ đài danh tiếng, có truyền thống lâu đời cả trăm năm trong Lễ hội Vía Bà Núi Sam,  bạn đã là võ sư nổi tiếng khắp đồng bằng sông Cửu Long. Bảo đảm bạn mà mở lò võ sẽ có nhiều đệ tử ủng hộ rần rần. Là võ sư có hạng thuộc lò võ Mỹ Trà, mình còn  mến phục tài võ nghệ của bạn. Mình không nói ngoa đâu.

-Vậy tớ nên làm  gì? Chín Lơ Xe hồ hởi hỏi.

Út Nghệ búng ngón tay một cái tróc, lặng thinh. Không ngờ nửa tháng sau, sáng sớm Út Nghệ có mặt tại bến xe Châu Đốc mời Chín Lơ Xe đi uống cà phê.

-Bạn  còn nhớ câu chuyện hôm nọ không? Út Nghệ hỏi.

-Nhớ chứ.

-Vẫn giữ ý định kiếm việc làm khác chớ?

-Nghề lơ xe với tớ chỉ là việc làm bấc đắc chí nhất thời thôi!

-Vậy cậu đi với mình vô đồn điền Mékong.

-Làm gì?

-Cứ đi rồi sẽ rõ. 

Hai người lên xe ngựa đi đường tắt mấy chục cây số trên con lộ xe bò vào đồn điền Mékong. Gặp ông chủ Tây, Út Nghệ hãnh diện giới thiệu Chín Lơ Xe  là tân vô địch hội thi võ đài lễ hội Vía Bà núi Sam. Út Nghệ  nói Chín Lơ xe có bằng cấp Sơ học Yếu lược, biết tiếng Pháp, có thể làm tài xế kiêm garde de corps (*) cho ông chủ. Ông chủ Tây là cò Pierre đồng ý thu nhận Chín Lơ Xe làm tài xế riêng, tặng cho tay vệ vĩ mới cây súng rulô và mấy ổ đạn mới nguyên. Thấy Chín Tài Xế ngạc nhiên trước lối cư xử điệu nghệ của ông chủ Tây, Út Nghệ nói nhỏ vào tai bạn:

-Ông chủ là cựu sĩ quan lính Lê Dương, làm cò kiểm lâm nhiều năm ở Thất Sơn, có biệt danh là Pierre Tartare (*) nên có nhiều kẻ thù! Ông ta cư xử điệu nghệ với bạn như vậy, chẳng qua là muốn cậu thí thân, hết mình với chủ.

-Tưởng cậu thương bạn đi tìm việc làm cho tớ. Chẳng ngờ cậu đưa tớ vào chốn hiểm nghèo!

-Nếu sợ chết thì cậu có thể từ chối ngay từ bây giờ! Mình sẽ đi kiếm người khác. Út Nghệ nghiêm mặt nói.

Chín Tài Xế thò hai ngón tay xoay xoay ổ trái khế cây súng rulô, vỗ vai Út Nghệ:

-Xin lỗi, tớ  nói đùa. Tớ thích công việc này. Cám ơn cậu!

Chín Tài Xế xin phép Pierre De Massenet lái xe Jeep ra bến xe Châu Đốc. Tẻng trầm trồ nhìn chiếc xe Jeep :

-Anh Chín ...làm gì ... mà đi xe Jeep mới oai ghê.

Cố tình để lộ khẩu súng rulô lận lưng, Chín Tài Xế nói:

-Thằng anh mày làm tài xế kiêm garde de corps cho ông chủ đồn điền Mékong. Về đồn điền với tao đi Tẻng.

-Em đâu có...giỏi võ như...anh Chính... Ông Tám Tiều mới biểu em làm... làm lơ xe thay thế anh Chính. Tẻng lắc đầu trề môi nói.

-Lần trước thằng anh mày đặt chân về xứ đồng bằng, vì lỡ nghe mày xúi dại. Lần này mày phải nghe anh. Có đi theo thằng anh mày hay không thì bảo?

Tẻng im re. Chín Tài Xế oai vệ ra lệnh:

-Hành lý của thằng anh mày trong xe đò nhớ  mang theo hết. Không được bỏ sót thứ gì đấy nhé!

Tẻng riu ríu leo lên xe đò mang hành lý hai anh em quẳng lên xe Jeep. Chín Tài Xế khoái trá đến bắt tay chào từ giã đám lơ xe bu xung quanh, trầm trồ ngắm nghía chiếc xe Jeep sơn xanh mới toanh...Trên đường vào núi, Chín Tài Xế nhẹ nhàng, thân tình nói:

-Rủ anh xuống Miền Tây lập nghiệp, giờ đây Tẻng định bỏ rơi anh sao mà nhận làm lơ xe cho Tám Tiều?

-Em chỉ muốn kiếm tiền...gởi cho má em...Không biết chỗ anh em mình vào làm, em được trả lương bao nhiêu nữa.

-Về đây Tẻng khỏi lo. Xem vậy chứ ông chủ Tây trả lương cao hơn ông chủ Tàu Tám Tiều! Miền sơn cước ít người, rủi thất nghiệp mình đi lượm dầu chai bán cũng có tiền.

-Bộ anh Chính quên...quên chị Bông rồi sao? Tẻng lặp bặp hỏi.

-Chị Bông mầy quên tao thì có.

-Chị Bông hiền lành... Tánh tình dễ thương...Kiếm được người con gái xinh đẹp, nết na như chị Bông đâu có dễ.

Chín Tài Xế nổi cáu:

-Đừng có nhắc đến chị Bông mày nữa. Tao đang rầu thúi ruột đây.

-Anh rầu chuyện gì?

-Chị Bông mày có quới nhơn phò trợ rồi. Tẻng không hiểu là mấy tháng qua thằng anh mày thất tình vì chị Bông mày hay sao?

Tẻng nhanh trí hỏi sang chuyện khác:

-Ban nãy anh Chính nói là..là ở trong núi có nhiều cô đẹp...?

-Ờ con gái đẹp có nhiều. Nhưng chẳng đứa nào để ý thằng anh mày. Tao mới làm có hơn mười ngày. Thời gian đâu giung giăng giung giẻ?

-Thì cũng tại...tại anh Chính già rồi mà còn kén chọn ...Ế vợ là phải...Con gái Xóm Rẫy... nhiều cô xinh. Ai biểu anh Chính... chọn chị Bông là người đẹp nhứt trong nhóm các cô làm chi?

Bị Tẻng nói trúng tim đen, Chín Tài Xế ngồi im suốt đoạn đường gập ghềnh, cát bụi bay mù trời. Vượt qua đoạn đường rải sỏi lầm bụi dưới chân núi Nam Di, Chín Tài Xế chỉ nóc ngôi nhà sàn mái ngói đỏ gỗ cẩm lai trông giống tháp chuông nhà thờ nhô cao trên thảm vườn xoài, vườn chuối, ca cẩm ngợi ca sự giàu có của ông chủ mới. Hạt trưởng kiểm lâm Pierre De Massenet là chủ đồn điền Mékong, chủ nhà máy trái cây đóng hộp thị xã Châu Đốc, sở hữu hai mươi hầm đá, chủ đoàn  ghe chài, xà lan chở đá mười hai chiếc, bến đậu tại vàm Kinh Xáng Cụt. Con đường vắng, thỉnh thoảng có một chiếc xe đò thùng xe móp méo, bụi bặm, ngật ngưỡng lọc cọc chạy ngang qua. Rải rác trên đường đi chợ về, đàn bà Khmer đội thúng mang ơ trên đầu. Lác đác trên ruộng lúa thấy có nhóm người Khmer bón phân, nhổ cỏ, xa xa gần chân núi thấy mọc lô nhô từng chòm cây thốt nốt. Vui miệng Chín Lơ xe kể chuyện trong vườn xoài anh thường ngồi uống nước chè xanh, hút thuốc rê, tán gẫu với nhóm dân phu đồn điền của Năm Thắng. Uống qua lượt trà xanh, Năm Thắng mở đầu cuộc họp:

-Thất Sơn có hai nhân vật nổi tiếng là Bảy Đởm và cò Pierre. Về mặt hiểm ác gian ngoan cò Pierre thua xa Bảy Đởm. Chuyện mê gái, mê đá gà coi như bất phân thắng bại. Tính riêng mặt gia sản cá nhân khó phân biệt ai giàu hơn ai. Theo ý các bạn thì ta nên xếp ai vào vị trí thứ  nhứt?

Thằng Chọn, láu táu lên tiếng:

-Bảy Đởm giàu nhứt xứ!

-Ông chủ Pierre giàu hơn. Cứ coi biệt thự, đồn điền, mỏ đá, đội ghe tàu ông chủ là khắc biết. Nhỏ Chiện cãi.

-Bảy Đởm hùng cứ cả vùng biên giới. Tài sản Bảy Đởm toàn của chìm. Ai dám cá với tui? Thằng Chọn hất mặt nói.

-Em dám cá với anh Chọn. Nhỏ Chiện nói.

-Tía tui là dân Chợ Voi, đồng hương với Bảy Đởm. Bảy Đởm là con hương cả Nhành, quen ăn cướp thiên hạ từ thuở nhỏ. Thằng Chọn nói.  

Chín Tài Xế hào hứng đề nghị Năm Thắng làm trọng tài phân xử. Thắng từ tốn nhìn mọi người nói:

-Tôi xin kể một chuyện xưa. Đời nhà Tấn nước Trung Hoa có ông Thạch Sùng nổi tiếng giàu có. Một hôm Thạch Sùng thách đố Vương Khải xem ai giàu nhứt xứ. Cuối cùng Thạch Sùng bị thua chỉ vì nhà Vương Khải có cái mẻ kho quẹt sứt quai vất lăn lóc trong xó bếp mà nhà Thạch Sùng chẳng có! Thua cuộc, tán gia bại sản, Thạch Sùng uất ức mà chết, hóa ra con thằn lằn. Các bạn thử luận bàn chuyện đó di. Chuyện cò Pierre với Bảy Đởm ai giàu hơn ai, để sau.

-Ở ngoài Bắc, con thằn lằn gọi là con Thạch Sùng. Chín Tài Xế nói.

-Thời binh đao loạn lạc mà đem đi khoe của như Thạch Sùng là dại, là rước ăn trộm, ăn cướp vô nhà. Cô Thảnh nói.

-Lúc cãi nhau, ai cũng thích giành phần thắng, dễ  sinh ra giận hờn. Thơi nhỏ nhẻ nói. Em không thích chuyện cá độ của Chọn và Chiện.

-Chuyện Thạch Sùng nhằm phê phán thói hợm hỉnh, kiêu căng của kẻ giàu. Chiện nói.

Cuộc tranh luận biến thành cuộc cãi vã, chẳng ai chịu nghe ai. Năm Thắng dàn xếp:

-Tranh luận là cần thiết nhằm mở mang kiến thức con người, truy tìm ra chân lý, động viên mọi người thống nhất hành động. Trong tranh luận cần biết tôn trọng ý kiến người khác, tránh cho ý kiến mình là hay, là giỏi, là đúng.

Cuộc họp đội sản xuất trong vườn xoài thường chấm dứt nửa chừng như thế. Chín Tài xề khoái Năm Thắng nên nói:

-Tao thấy kiểu cách điều hành đội sản xuất của Năm Thắng lạ đời, thật không giống ai. Năm Thắng thích đặt vấn đề tranh luận. Có vẻ như anh ta  muốn nhân viên trong đội sản xuất học hỏi những chuyện lớn ngoài xã hội chớ không bó hẹp trong công việc  làm vườn. Năm Thắng gốc thầy giáo.

-Anh Năm Thắng là... là người có học thức! Người như  vậy mà kết...kết anh em với mình...mới sướng!

-Bộ mày chê tao sao Tẻng? Chín Tài Xế tự ái. Chú mầy mới chuộng cũ vong.

-Cái anh Chính này...chuyên  môn...bắt chẹt em út!

-Ừ. Anh nói vui thôi. Về chỗ làm mới anh em mình phải gắn kết với nhau hơn. Tiếc là anh em mình không được làm chung, ở chung. Theo anh Năm Thắng là người chơi được. Em nên kết thân, học hỏi Năm Thắng.  

-Anh Chính nè. Hồi đó anh chê em cà lăm mà còn ...nhiều chuyện...Mới xa em hơn mười ngày... mà anh Chính còn nhiều chuyện hơn em!

Tẻng nói giọng Nam bộ rặt ri nhưng là thằng có học thức, chắc nó gọi tớ tên Chính. Nhưng số đông người trong tổ cứ gọi là Chín Tài xế. Riết rồi tớ chẳng biết mình tên Chính hay Chín. Thôi, thây kệ . Chín Tài xế nghĩ thầm. Mình đổi tánh bao giờ nhỉ? Sống giữa những ông bà chủ Tây, mỗi ngày lái xe Jeep ra chợ Tri Tôn, lẽo đẽo xách giỏ đi bên cạnh  cô gái câm xinh đẹp mà chỉ có một mình tớ độc thoại. Mới mười ngày hơn mà tớ đâm ra lú lẩn, sính tật kể lể, trò chuyện dông dài. Bâng khuâng Chín Tài xế sực nhớ Trương Thanh Hà, cô hầu cưng của Clara Sorel...

 

2

Năm Thắng để râu tóc, mặc quần áo bà ba, thông thạo kinh sách, giỏi tiếng Pháp, phong thái phảng phất vẻ đạo sĩ nên dân đồn điền Mékong gọi anh là trưởng gánh họ đạo Hiếu Nghĩa, cho dù chẳng ai biết quê quán Năm Thắng ở đâu, có là đạo hữu hay không. Những buổi trò chuyện thường ngày Năm Thắng thích mượn kinh kệ, lời nói thánh hiền.

-Người Trung Hoa muốn hiểu nhau phải dùng tiếng Bắc Kinh. Người An Độ xử dụng tiếng Anh. Mỗi vùng miền nước ta phong tục, tập quán khác nhau nhưng có điều hay là ngôn ngữ thống nhất. Các bạn gọi anh Chính là Chín Tài xế hay Chín Lái xe thì có sao đâu? Năm Thắng nói.

-Tên khai sanh của ảnh là Lâm Quốc Chính...Tại ông Tám Tiều mà...mà ảnh đổi thành  Chín Lơ Xe ...rồi bây giờ là Chín Tài Xế! Tẻng lắp bắp nói.

-Vào Nam tớ đổi tên liên tục. Điều tớ thích nhất ở trong Nam là  chuyện kết giao bằng hữu bình đẳng, không phân biệt sang hèn. Với tớ, tình bạn là ái tình không có cánh. Chín Tài Xế cười nhạt.

-Anh Chín nói vậy nghĩa là sao? Chiện thật thà hỏi.

Chín Tài Xế gãi tai trả lời ngắc ngứ:

-Nữ thần ái tình có đôi cánh trên vai. Tình bạn không bay bổng như tình yêu nên không có đôi cánh. Hiểu đơn giản là vậy.

-Nếu tình bạn là tình yêu không có cánh thì rất dễ xa nhau. Vậy nên đến tuổi này anh Chín vẫn phòng không gối chiếc đó không thấy sao?

Thắng cười tủm tỉm. Đám đông cười ồ. Chọn liến láu nói:

-Anh  Năm cũng sống cu ky một mình đó anh Chín ơi.

-Tớ thích ai thì kết bạn. Không thích tớ đi chỗ khác chơi. Chín Tài Xế ung dung nói.

-Trang Tử nói: Cây thẳng bị đốn trước, giếng ngọt cạn nước trước. Năm Thắng xoa hai tay nói.

Cuộc trò chuyện tạm lắng trong chốc lát. Chín Tài xế đón lấy dọc tẩu rít một hơi thuốc lào, mắt lim dim nhả khói. Năm Thắng hiền hậu nhìn mọi người:

-Ai có ý kiến về câu nói của Trang Tử?

Chọn giơ tay xin phát biểu. Năm Thắng bảo Chọn nói. 

-Câu nói ấy có nghĩa vô rừng người ta tìm cây thẳng chặt trước. Còn nước giếng ngọt mọi người tranh nhau đến gánh nước về nhà nên giếng cạn.

-Đó là nghĩa đen. Còn nghĩa bóng? Năm Thắng hỏi.

-Người trung trực, thẳng ngay dễ bị hại. Tẻng nói.

-Tốt! Năm Thắng nói.

-Lời hay dễ vào lòng người! Chiện nói tiếp.

-Hay! Năm Thắng vỗ tay.

Mọi người vỗ tay rào rào. Chọn vỗ tay lớn nhứt vì có cảm tình riêng với Chiện. Chín Tài xế không thích cuộc uống trà, hút thuốc bị biến thành lớp học, không thích làm học trò Năm Thắng. Tinh ý nhìn thấy thái độ của  Chín Tài xế, Năm Thắng chuyển sang hướng khác:

-Sài Gòn có tin tức gì mới không anh Chính?

-Đường xe lửa Sài Gòn-Chợ Lớn mới bị tháo dở. Chín Tài xế nói.

-Bỏ...Bỏ đi là đúng! Tẻng nói.

Chín Tài xế hào hứng chí nhìn quanh:

-Báo Le Fiagaro đưa tin tàu tuần dương hạm đội Mỹ cặp bến Sài Gòn.  Đố ai biết chiếc tuần dương hạm đó cặp bến cảng nào?

-Bến Cảng Sài Gòn! Tẻng nhanh nhảu đáp.

-Cảng Sài Gòn có nhiều bến. Vấn đề là chiếc chiến hạm lớn cở đó cặp bến nào? Chín Tài xế cười hì hì.

Tẻng thấy bí. Năm Thắng ung dung nói: 

-Bến Francis Garnier.

Chín Tài xế gật đầu. Chọn bật cười hô hố:

-Thằng Tẻng gốc dân Cao Lãnh giả bộ bảnh xưng là dân Cảng Sài Gòn nên bị quê độ!

-Anh Chín biết cái tin đó ở đâu? Năm Thắng ôn tồn hỏi.

Chín Tài xế đi gom mấy tờ báo cũ để trong xe Jeep đưa  Năm Thắnng.

-Cám ơn anh Chính. Mai mốt anh gom hết báo cũ của cò Pierre mang vô đây. Được không? 

-Chuyện dễ. Chín Tài xế đáp.

Cầm xấp báo cũ trong tay, Năm Thắng hớn hở đi khuất vào trong lán trại. Chọn bước ra phía sau gốc xoài xách ra chai rượu đế, dĩa xoài non, chén muối ớt, lăng xăng dọn bàn nhậu.

-Anh Chính kể chuyện thời sự nghe đi. Chuyện gì vui vui. Tẻng nói.

Chín Tài xế nhắp chun rượu đế thơm cay nồng, hỏi:

-Lò nào rượu nào khá quá vậy Chọn?

-Lò rượu Ô Lâm. Anh Chín thấy ngon hả? Chọn hỏi.

Chín Tài xế chép miệng:

-Ừ. Ngon.

Nhóm con gái tản mát đi về lán trại phụ nữ. Nhóm thanh niên ngồi vây quanh chai rượu đế, nghe Chín Tài xế kể chuyện thời sự… Chiện chơi thân với hai chị em Thảnh, Thơi. Tẻng và Chọn cùng để ý đến Chiện. Cô Thảnh có cảm tình với Năm Thắng. Năm Thắng chẳng để ý Thảnh. Anh  bảo Tẻng ráng làm vườn cho giỏi, anh sẽ nói cò Pierre giao luôn vườn giá tỵ cho các bạn trẻ trông coi, thay thế ông Tám Phến. Năm Thắng quản lý 50 công nhân viên, cai quản trại nuôi gà nòi. Tẻng và Chiện giữ nhiệm vụ ghép cây, ươm trồng. Chị em Thảnh, Thơi lo tưới cây, nhổ cỏ. Chọn lãnh việc bón phân, xịt thuốc trừ sâu. Số anh em còn lại  trồng xoài, xén nhánh cây, đốn cây xoài già lấy gỗ làm củi, cưa xẻ ván gỗ xoài. Nhiều lần Tẻng tỉ tê xin được chuyển sang trại gà nòi.Năm Thắng hỏi:

-Ủa, Tẻng không thích làm chung với nhỏ Chiện hả? Anh Năm méc  con Chiện nghen.

-Em thích...thích luyện gà nòi. Ông ngoại em là dân Cao Lãnh...xứ nuôi gà nòi nổi tiếng đó anh Năm.

-Luyện gà nòi cần có bí quyết riêng. Dân tay mơ như Tẻng khó luyện được những con gà chiến!

-Thì em mới đi học...học nghề anh Năm.

-Việc của Tẻng hiện nay là  luyện giọng. Cà lăm như Tẻng rất khó lấy cảm tình các cô. Tẻng thích nhỏ Chiện mà.

Năm Thắng kể chuyện ông Démosthene thuở nhỏ có tật cà lăm giống Tẻng. Nghe lời khuyên của thầy, ngày ngày chú bé Démosthene ra bãi biển tập gào thét với sóng biển. Lớn lên Démosthene trở thành nhà hùng biện nổi tiếng nhất Hy Lạp.Năm Thắng ân cần nói: ‘’Tẻng có giọng ca hay. Em nên tập hát sẽ bớt cà lăm giống như nhà hùng biện Demosthene người Hy Lạp vậy đó.’’.

 

3

Tẻng thức dậy khi nghe tiếng gà gáy rộ, nhanh nhẹn rửa mặt súc miệng,  hộc tốc chạy ra trại gà. Đến nơi đã thấy Năm Thắng có mặt ở đó.

-Thức sớm vậy anh Năm? Teẻng rụt rè hỏi.

-Con gà có tiếng gáy hùng dũng, mạnh mẻ mới là gà chiến. Ngoài việc xem chân cẳng, xem cựa gà, người nuôi gà nòi giỏi phải biết lắng nghe tiếng gà, xem tướng đi con gà nòi lúc nó đang gáy sáng, để từ đầu mình có thể loại sớm những con gà tuy bên ngoài đẹp mã nhưng bên trong là loại gà chết nhát.

Thầy Chiện đang quét sân, Năm Thắng nói lớn tiếng cố ý cho cô gái nghe:

-Nhìn nhỏ Chiện kìa. Nó không mê đá gà như Tẻng mà cũng thức sớm đó thấy không?

-Lần sau anh Năm có dậy sớm …nhớ…nhớ gọi em nghen!

-Sao Tẻng không nhờ nhỏ Chiện gọi? Phòng nó kế bên phòng Tẻng mà.   

-Con trai nhờ con gái đánh thức dậy …quê lắm đó anh Năm ơi.

-Những lần đi làm chung với Chiện, Tẻng nói chuyện gì?

-Em đâu có nói chuyện gì đâu.

-Tẻng muốn được nhỏ Chiện thương yêu thì phải nghe lời anh Năm.

-Em phải làm gì …hả anh Năm?

 -Là phải biết im tiếng!

-Tại sao em ... lại phải im tiếng?

-Tại vì Tẻng có tật cà lăm!

Chợt hiểu Năm Thằng ghẹo, Tẻng cúi mặt. Bỗng có tiếng Chiện nói:

-Cà lăm là cái tật trời cho. Bộ ai muốn cà lăm sao mà anh Năm chê bai người ta!

Chọn đang đứng xén nhánh xoài gần đó, chỏ miệng nói:

-Thằng Tẻng có tài hát Vọng Cổ mùi mẫn chỉ có kém Út Trà Ôn đó anh Năm. Không chừng lúc hai đứa cưới nhau, nhỏ Chiện sẽ bắt thằng Tẻng ca Vọng Cổ tối ngày!  

Vào đêm sáng trăng, cánh phụ nữ, thanh niên giăng võng hóng mát ngoài hàng ba lán trại. Một số người giăng võng rải rác dưới gốc xoài gần nhà. Nhóm các cô xúi nhỏ Chiện:

-Biểu thằng Tẻng ca Vọng Cổ nghe đi Chiện!

Ngồi đong đưa trên võng Chiện ngoảnh mặt nhìn sang lán trại thanh niên nói lớn:

-Hát ‘’Gánh chè bột khoai ‘’ đi anh Tẻng ơi!

Không đợi mời lần thứ hai, Tẻng bật dậy, mặt hướng về lán trại phụ nữ, cất cao giọng: ‘’Hò...ơ... Chè bột khoai ngọt ngon thanh mát, xin mời bà con cô bác hãy mua giùm...giúp em qua khỏi cảnh nguy cùng... Đêm nay mưa gió âm u, em lê chơn khắp chốn phố phường hoa lệ. Gánh chè bột khoai nặng trĩu trên vai, nhìn giọt mưa lấm tấm bay, mà em tưởng chừng đó là những giọt nước mắt  chảy dài trên đôi má...’’. Đang làm việc Năm Thắng bỗng ngó ra ngoài hỏi Tẻng có biết lý do vì sao Tẻng ca Vọng Cổ mà không cà lăm không. Tẻng lắc đầu. Năm Thắng dẫn giải: ‘’Thứ nhứt Tẻng đã thuộc lòng bài hát. Thứ hai khi ca Tẻng dồn hết tâm trí, tình cảm vào bài Vọng Cổ nên em mới không bị cà lăm. Từ rày Tẻng vô đây phụ lo trại gà nòi với anh. Làm xong công việc chăm sóc gà nòi, Tẻng sẽ dành thời giờ cho việc luyện giọng. Ở đây vắng người Tẻng khỏi sợ mắc cỡ. Nhưng Tẻng phải nhớ học thuộc lòng nhiều bài thơ, nhiều bài hát. Cả tân nhạc và cổ nhạc trước khi vô trong này luyện giọng.’’. Khác với Chín Tài Xế chỉ là tình thương anh em bình thường. Tẻng ngưỡng mộ Năm Thắng. Hàng ngày Tẻng vô trại gà nòi xem Năm Thắng quấn vải bó chân gà nòi, thả hai con gà nòi ra đá thử để chọn ra con gà chiến. Tẻng khoái chí vỗ tay hò hét làm hai con gà nòi thêm hăng máu, xù lông cánh, cái mồng gà đỏ rực, tung chân đá tới tấp. Năm Thắng điềm tĩnh khoanh tay đứng nhìn. Bất ngờ Năm Thắng ra hiệu Tẻng nhào vô sân. Mỗi người ôm một con gà trong lòng, lo rưới nước, xoa bóp thân thể tẩm bổ thức ăn cho hai con gà nòi. Bất ngờ Năm Thắng nói một câu chẳng dính dáng chi đến chuyện luyện gà:

-Con gà sống trong một chuồng mà bôi mặt đá nhau. Cò Pierre tổ chức đá gà, coi như ổng xúi hai con gà này làm bậy. Nhưng con người thì khác. Bây giờ Tẻng nghĩ coi, nếu như có người xúi dân ta bắn giết nhau thì sao?

-Chẳng ai xúi dại như vậy. Tẻng nói.

Năm Thắng móc túi lấy ra quyển sách nhỏ đưa Tẻng:

-Đây, em xem xong chuyền cho nhỏ Chiện xem. Tuyệt đối giữ bí mật.

Tẻng cúi xem bên bìa quyển sách in bột, bìa ngoài vẻ hình một cô gái đẹp mặc áo bà ba che nón lá, có tựa đề ‘’Chiều mưa biên giới’’. Tẻng hí hửng cất tiếng hát: ‘’Chiều mưa biên giới anh đi về đâu. Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu...’’. Lật vào trang trong Tẻng thấy một bài hướng dẫn, giải thích về những điều ký kết trong Hiệp định Genève.

-Sách cấm hả anh Tẻng?

-Ừ. Nhớ đọc kỹ. Để lộ ra ngoài là chết.

Tẻng giấu quyển sách nhỏ vào trong áo, len lén đi ra bờ suối vắng ngồi đọc ‘’Chiều mưa biên giới’’…Đồn điền Mékong có khu rừng giá tỵ. Thân cây giá tỵ màu trắng, tán cây xanh lá tròn cao khỏi đầu người, do già Tám Phến trông coi. Khu rừng giá tỵ xa lán trại nên những khi trời trở gió, e ngại già Tám Phến trở bệnh không có người chăm sóc, Năm  Thắng định đưa vài thanh niên ra đó canh giữ, chuyển già Phến về vườn ươm cây. Buổi sáng gặp Năm Thắng trong trại gà nòi, Tẻng nói:

-Báo anh Năm, em chuyển quyển sách ấy cho Chiện. Em muốn ...muốn chuyển cho thằng Chọn đọc ...Được không anh Năm?

-Được. Thằng Chọn là thanh niên tốt.

Xoay lưng định chạy đi bỗng Tẻng quay lại, bối rối nhìn Năm Thắng:

-Anh Năm nè, lý do gì anh Năm tin cậy em?

-Tẻng là người có ý chí. Chỉ riêng chuyện Tẻng luyện giọng bớt cà lăm đã là việc làm đáng khen rồi. Anh Năm tin cậy Tẻng. 

Tẻng chạy một mạch thẳng ra rừng giá tỵ. Phải kể với Chiện và thằng  Chọn chuyện anh Năm Thắng khen Tẻng là người có ý chí. Tẻng ngâm nga câu thơ Nguyễn Công Trứ: ‘’Làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông Đông tĩnh. Lên  Đoài  Đoài tan...’’.  Lán trại đội sản xuất nằm giữa khu vườn xoài dưới chân núi, cạnh con đường mòn đi lên đỉnh núi Tô. Ngó ra ngoài cánh đồng rộng mênh mông là rừng thốt nốt. Khu nhà ở chia thành hai dãy riêng biệt dành cho cho phụ nữ và cánh thanh niên. Cùng có  chung dãy hàng ba nền đất đấp cao. Mỗi dãy nhà có nhiều căn phòng chứa hai ba người. Họ được phép chọn bạn ở chung phòng tùy thích. Sau giờ làm việc, cánh thanh niên giăng võng ngoài hàng ba, số khác xách võng giăng mắc dưới tán lá xoài đón làn gió núi. Căn phòng ở cuối lán trại dành cho Năm Thắng. Trong phòng có tủ sách nhỏ. Ban đêm Năm Thắng làm việc, đọc sách đến khuya. Mỗi sáng sớm Năm Thắng bước ra chiếc bàn trà đặt ngoài sân xem báo cũ của Chín Tài xế mang vào. Cánh thanh niên dậy muộn hơn rủ nhau tụ tập tại bàn trà, ngồi vây xung quanh Năm Thắng. Các cô gái thỉnh thoảng ghé vào ngồi trên bậc thềm hàng ba lán trại. Thằng Chọn thường lăng xăng đứng lên, giăng mấy chiếc võng ngoài hàng ba mời các cô ngồi võng nhóng mắt, chờ đợi Năm Thắng kể chuyện thời sự. Lúc Năm Thắng khoanh tay tằng hắng nhìn ngó xung quanh, mọi người hiểu anh sắp kể chuyện thời sự. Năm Thắng cũng thích bàn giao công việc bổi sáng tại bàn trà. Nhiều người ngạc nhiên khi thấy Tẻng bớt cà lăm. Chọn ở chung phòng với Tẻng nhưng không rõ lý do nào Tẻng nói chuyện khá trôi chảy như vậy. Chiện cũng thấy khó hiểu. Mãi đến lúc vô trại gà nòi vào những chiều gió thổi liu riu, nhìn thấy Tẻng đứng giữa khu vườn xoài bên bờ dòng suối chảy róc rách, âm thầm luyện giọng nói thì trái tim Chiện bỗng xốn xao. Trong buổi họp Năm Thắng hỏi:

-Ai trong mấy anh em tình nguyện ra rừng giá tỵ thay anh Tám Phến?

Chiện giơ tay, lúng búng nói:

-Hôm nọ anh Năm định phân công em.

-Em Chiện là cô gái gan dạ, nhưng anh nghĩ là cần có một cậu trai đi kèm. Chú nào xung phong đi gác rừng giá tỵ với Chiện?

Mọi cặp mắt đổ dồn về Tẻng. Nhưng Tẻng đỏ mặt quay sang ngó Chọn. Chọn hiểu ý cái nhìn của Tẻng liền hăng hái giơ tay. Năm Thắng tươi cười nhìn Tẻng:

-Tẻng thấy thế nào?

Tẻng nói mà không chút cà lăm:

-Em thích làm việc trong trại gà nòi. Thằng Chọn ra ngoài đó tốt hơn.

Lẽ ra Chiện sẽ giận nhưng cô đằm thắm nhìn Tẻng, khiến lòng dạ thằng Chọn chợt ngẩn ngơ.

-Thôi được, Tẻng sẽ phụ anh Năm trông coi trại gà nòi. Năm Thắng quay sang Chọn. Chiện chỉ làm việc ban ngày ngoài đó. Ban đêm  nhóm thanh niên sẽ thay phiên ra ngoài đó trực đêm. Lớn tuổi như anh Tám Phến sống một mình không sao nhưng Chọn mà sống một mình cũng khó khăn.

Chọn sung sướng bước đến bắt tay Tẻng:

-Cám ơn mầy nghen Tẻng. Mai mốt gài bẫy thú rừng, bẫy được con chồn, con nhím, tao  gởi về lán trại cho tụi bây cải thiện.

-Nhớ canh chừng heo rừng. Ngoài đó gần núi heo rừng thường kéo bầy về đó ..gặm ủi cây cỏ. Phải cẩn thận đó Chọn à. Tẻng vui vẻ.

-Ừ, tao chỉ lo cho nhỏ Chiện. Đêm mai mầy rủ thằng Dự tới ngủ chung phòng nghen Tẻng!

Chọn nghĩ Tẻng bớt cà lăm, giọng hát, tiếng ca Tẻng càng thêm sâu lắng, ngọt ngào. Ban đêm nhỏ Chiện quay về lán trại nghe Tẻng ca Vọng Cổ. Không ngờ  chiều hôm đó, Tẻng mang ba lô ra rừng giá tỵ. Hai anh em đốt lửa ngồi trên nhà sàn chòi gác, nằm trên võng tâm tình. Tẻng nói:

-Mầy đọc ‘’Chiều mưa biên giới ‘’ chưa Chọn?

-Rồi. Nhỏ Chiện chuyển cho tao, nói là của mầy đưa.

-Ừ. Có thắc mắc gì không?

-Tao có ông chú ruột đi tập kết. Ra Hà Nội hai năm là về thôi. Toàn quốc sẽ tổng tuyển cử tự do.

-Làm gì có chuyện đó?

-Mình là dân cắc ké. Suy nghĩ chuyện lớn lao làm gì?

-Mầy chưa đọc phần sau cuốn sách?

-Tao chỉ đọc hết phần một.

-Vậy rán đọc hết đi.

-Ra rừng giá tỵ vắng người. Tao rán đọc rút cho xong. Còn phải chuyển cho người khác đọc nữa. Nhỏ Chiện nói vậy.

-Cuốn sách mỏng dính, hơn chục trang  mầy đọc hoài chưa hết là sao?

-Bộ mầy tưởng tao học giỏi như mầy hả? Tao học chưa xong lớp ba trường làng. Mà phần sau cuốn sách nói gì?

-Vấn đề là có kẻ phá hoại Hiệp định Genève.

-Ai phá hoại? Họ phá hoại để làm gì?

-Họ không muốn hòa bình. Họ muốn kéo dài chiến tranh.

-Chuyện đó can dự gì tới tao?

-Mầy sẽ bị bắt lính.

-Tao sẽ trốn lên núi. Ở đây dễ trốn quá mà.

-Nói chuyện với mầy thật chán phèo!

Tẻng xoay mặt, nhắm mắt định ngủ. Chọn rón rén thò chân đụng người Tẻng. ‘’Tẻng nè.’’. Tẻng mở mắt nhìn bạn. Tiếng ve rừng kêu ran. Đom đóm bay lập lòe.

-Giả tỉ như chiến tranh xảy ra mầy làm gì?

-Tao  trốn lên núi.

-Như tao vậy hả?

-Ừ. Thôi rán đọc hết cuốn sách đi. Đêm mai nói chuyện tiếp.

-Đêm mai mầy ra đây nữa sao?

-Ừ. Anh Năm Thắng biểu tao ra đây ngủ với mầy là để coi mầy đọc quyển sách đó tới đâu. Khi nào tao kiểm tra xong thì mang luôn cuốn sách về.

-Mấy thứ này mầy lấy ở đâu?

-Bí mật. Nhỏ Chiện không dặn mầy điều đó sao?

-Có dặn mà tao quên.

-Vậy rán đọc cho hết. Cuốn sách mỏng dính hà.

Trong giấc ngủ chập chờn, Tẻng dần dần hiểu rõ thâm ý anh Năm Thắng. Thằng Chọn nhiệt tình, hăng hái nhưng rất dốt, nếu không nói là ngu ngơ về chánh trị nên Năm Thắng sai Tẻng ra rừng giá tỵ ngủ qua đêm với Chọn để Tẻng hướng dẫn xây dựng tinh thần, tư tưởng thằng Chọn. 

___________

* Garde de corps: Vệ sĩ.

* Pierre Tartare: Pierre Hung bạo.

(Còn tiếp)

>> Sài Gòn phố đông - tập I

>> Sài Gòn phố đông- tập II-p.2

 

Xem các tiểu thuyết khác...

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.