Tin mới Xem thêm

  • Khánh thành cột cờ Lũng Pô

    Cột cờ Lũng Pô tại xã A Mú Sung, huyện Bát Xát, Lào Cai đã được Tỉnh đoàn Lào Cai khánh thành ngày 16-12 với sự tham dự của hàng ngàn đoàn viên

  • Đôi dòng về Mặc nhiên của Dung Thị Vân

    Đọc bằng hết cả một tập thơ với cả năm bảy chục bài (kể cả thơ của mình) trong một lần là một điều “phi thường”. Tất nhiên, tôi cũng chẳng hề

  • Khởi nghĩa Yên Báy: Một trang sử không thể...

    Nguyễn Thái Học là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Yên Báy/Bái. Ông hi sinh ở tuổi còn rất trẻ, chưa đầy 28 tuổi, song ông sẽ sống mãi và trẻ mãi trong lịch sử cận đại của chúng ta. Vì vậy bài này sẽ xin dành đại danh từ “anh” cho ông để tuổi trẻ hôm nay nhìn thấy ở ông một thanh niên trẻ trung, quả cảm, yêu nước nồng nàn và đáng ngưỡng phục

  • Xuân Trường nghe lòng mình lờ lợ biển trong...

    Chiều Bến Thủy tựa vào em câu con cá chốt/ nghe lòng mình lờ lợ biển trong sông,/ đêm núi Nhạn trăng rằm treo đỉnh Tháp/ những nụ cười leo dốc hụt hơi nhau,/ tiếng thơ bay dìu dặt phố Tuy Hòa/ rồi chót vót tận cung hằng thăm thẳm./ Nay em có về, hãy ghé qua đập Đồng Cam, nghe dòng kênh xưa/ thủ thỉ với con đường, chuyện bao mùa vàng còn thơm rơm rạ Phú Yên

  • Lê Đạt độc thoại đoạn trường xanh

    Em vụt đến như mảnh tinh cầu vỡ/ Ơi con chim ức lửa môi đòng/ Thả đỏ đốt xứ đồng không anh nhớ/ Một thoáng đào nhen mấy độ hồng

  • Ðừng lạm dụng hình ảnh cá nhân

    Ngoài việc "lấn sân" sang lĩnh vực hoạt động mới thì việc kinh doanh tên tuổi, hình ảnh cá nhân cũng đem lại nguồn thu nhập lớn cho không ít nghệ sĩ. Tuy nhiên, việc một bộ phận nghệ sĩ, người nổi tiếng lạm dụng hình ảnh bản thân khi tham gia quảng cáo cho nhiều sản phẩm, văn hóa phẩm kém chất lượng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tiểu Thuyết

Thập khúc của Nguyên Tùng - Kỳ 1

05.02.2016-22:10

Nhà văn Nguyên Tùng

 

Thập khúc

 

TRUYỆN VỪA CỦA NGUYÊN TÙNG

 

1

 

NVTPHCM- Chị và bé Trâm là những người cuối cùng rời khỏi nấm đất mà vừa đây người ta đã vùi lấp đi hình hài còm cõi của ông lão dở điên dở tỉnh. Chị sẽ còn ngồi lại rất lâu nếu như con bé không chạy đến lay chị sau khi nghịch cát chán chê. "Cô ơi, mình về đi cô. Con đói bụng!". Chị giật mình nhận ra chiều đã xuống thật sâu. Mảnh trăng liềm mùng bốn mỏng như dấu móng tay ai vừa bấm để lại trên nền trời. Sương bắt đầu xuống vì chị nghe lành lạnh ở bả vai. Chị vốc thêm mấy vốc cát đắp lên ngôi mộ rồi uể oải đứng dậy. Bé Trâm cũng chạy đến chắp đôi bàn tay bé xíu xá nấm đất mấy xá rồi hai cô cháu dắt tay nhau đi trên con đường đất mập mờ. Bất chợt, con bé hỏi:

 

- Cô ơi, ông Tư nằm dưới đất rồi, không còn ai lạy mặt trời, vậy ngày mai trời có mọc không cô?

 

Chị gật đầu như một cái máy để trấn an nỗi lo sợ thánh thiện trong lòng con bé. Nhưng với chị, câu hỏi ngây thơ của đứa cháu lên bảy đã khoét sâu thêm nỗi trống vắng trong tâm hồn kể từ lúc chị nghe tin ông lão chết. Từ nhiều năm nay cứ tang tảng sáng là người ta thấy ông lão có mặt trên  nổng cát, mặt quay về hướng đông quì xuống và lạy. Ông quì lạy như vậy cho đến lúc mặt trời mọc lên đỏ ối rồi lấp lóa một màu sáng chói mới thôi. Thường trong thời điểm ấy dáng điệu ông lão thật trịnh trọng, mặt căng thẳng đến kỳ lạ. "Mặt trời là của tao! Mặt trời là của tao!". Ông gào lên như vậy nếu ai đó tỏ ý châm chọc hay giành phần. Cái thói quen kỳ quặc của ông lão có lúc làm trò cười, cũng có khi làm gai mắt cho một số người trong làng nhưng đó là hình ảnh không thể thiếu đối với chị trong những năm gần đây. Rất nhiều lần đi đến trường dạy học ngang qua nổng cát chị phải sựng lại nhìn ông lão trong dáng dấp khẩn cầu ấy. Chị nghe lòng dâng lên nỗi thương cảm đến xót xa. Không hẳn cho ông mà cho cả chị. Trong tận cùng của tâm hồn chị thầm cảm ơn ông đã cụ thể hóa, dù bằng những động tác  ngô nghê trong trạng thái bất bình thường điều mơ ước mà từ lâu trĩu nặng lòng chị: Mong mỏi mặt trời lên. Chính vì vậy mà càng lúc chị càng thân thiết với ông lão. Và chị biết, những lúc tỉnh, chỉ một mình ông là hiểu nỗi buồn của chị cũng như chị đã thấu hiểu nỗi đau tận cùng của ông. Nhưng bây giờ... Cũng là xong một kiếp người.

 

*

*     *

 

Dấu móng tay in trên nền trời chếch thấp về hướng Tây, bị che khuất bởi làn mây màu chì mỏng. Con đường đất mấp mô có lúc hẫng hụt dưới chân chị.

 

- Cô ơi, ông Tư chết rồi không còn ai kể chuyện đời xưa cho con nghe nữa! - Con bé nói như mếu.

 

- Từ nay cô sẽ  kể cho con nghe.

 

- Cô kể đi, chứ con mỏi chân rồi nè. Bữa hổm ông Tư dẫn con lên đền thờ ông sơ, dọc đường ông Tư kể chuyện đời xưa hay lắm làm con quên mỏi chân.

 

- Ngày xửa, ngày xưa có hai chị em cùng cha khác mẹ, người chị tên là Tấm...

 

Bé Trâm đứng lại, bàn tay bé xíu của nó đang nắm tay chị vung vung, nung nẩy:

 

- Hổng phải chuyện đó. Ông Tư kể vầy nè: Ngày xưa nơi đây toàn là rừng. Ông sơ nhà mình tới dọn cây dựng nhà, rồi làm gì mà có đánh cọp nữa. Mà cô ơi, ông Tư kể ông sơ làm thơ hay lắm. Thơ là gì mà đánh ăn cướp  được hả cô?

 

Một cơn gió lướt qua làm chị rùng mình. Tiếng con vạc kêu lên thảng thốt như xé tan cái u tịch của bóng chiều nhá nhem. Đây là khoảng thời gian sau một ngày lặn lội đồng xa cò trở về tổ để vạc bắt đầu cuộc mưu sinh trong đêm tối. Một cuộc "giao ban" mang thuộc tính của loài nhưng nó diễn ra quyết liệt, dứt khoát. Lại một lần nữa chất hồn nhiên của đứa bé đã dồn chị vào thế không thể trả lời.

 

Thơ là gì? Nó là thực, là hư? Là cái tinh chất được cất ra từ niềm vui, nỗi buồn, từ máu và nước mắt, nhưng cũng có thể nó không là gì cả! Nó là ngọn lửa sưởi ấm ở người này nhưng lại là gáo nước lạnh tạt vào mặt người kia. Nó là niềm an ủi đối với anh nhưng lại là con số không to tướng, lạnh lùng và vô nghĩa đối với tôi... Tất cả những điều ấy làm sao chị có thể giải thích với con bé.

 

Những giọt nước mắt từ lâu chị đã cố kìm nén đến bây giờ như không chịu được nữa, chực trào ra. Chị nhận ra mình hiểu quá ít về ông lão, vậy mà từ lâu chị vẫn ngỡ đã thấu hiểu được lòng ông. Ngoài những thời khắc bất thường trong tâm trí, còn lại là một chuỗi dài trầm lặng của ông bên những gốc kiểng, chăm chút cho những cành hoa. Bàn tay gầy guộc, khẳng khiu nhưng khi chạm vào cành mai chiếu thủy, cần thăn hay mãn đình hồng thì nó trở nên thoăn thoắt, điêu luyện của một nghệ nhân. Chị ngỡ sự say mê chỉ là để giấu che, dìm khuất cái ám ảnh khủng khiếp của cuộc chiến tranh mà như số phận định sẵn buộc ông phải là nhân chứng. Cũng chính cái ám ảnh đó mà cứ đêm xuống là nó bám riết, vật vã, quay cuồng cho đến lúc buộc tâm trí ông ngã quỵ. Chính lúc ấy, ông băng trong đêm tối, dẫm đạp lên vạt cỏ ướt sương ra nổng cát quì lạy mặt trời lên. Chị đâu ngờ những biến thiên trong ngôi nhà từ đường, trong gia tộc chị cũng chính là cơn lốc xoáy trong tâm hồn vốn đã là cơn bão của ông.

 

Vậy là ông đã kể cho bé Trâm nghe cái lai lịch tỏa hào quang của ông cố chị. Thật ra ánh hào quang ấy đến nay vẫn còn tỏa sáng mà chính chị mặc nhiên thừa hưởng nhưng đã có lúc chị công khai chối bỏ.

 

Hơn một trăm năm trước ông cố chị là nhà thơ nổi tiếng cả vùng. Ông đã thiết lập trong thơ một nền luân lý dựa trên đạo đức Khổng - Mạnh kết hợp với tâm hồn nông dân Việt Nam để qua đó truyền giảng cái đạo lý làm người của thanh niên trong thời tao loạn. Không ai phủ nhận thơ ông đã tiếp thêm sức mạnh cho họ, những người nông dân chân chất đầu trần suốt đời lam lũ, nhưng sẵn sàng hiến dâng đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ từng tấc đất của ông cha mà giặc đã mưu toan xâm chiếm. Là nhà thơ của nông dân nhưng với một đất nước mà hết chín chục phần trăm dân số làm nông nghiệp này thì lẽ đương nhiên ông đã là nhà thơ của nhân dân. Họ tôn vinh ông. Đối với dân làng dù trải qua bao thế hệ nhưng cái nền tảng luân lý trong thơ ông đã chiếm ngự một góc nhỏ thiêng liêng trong đời sống tâm linh của họ. Họ góp sức lại dựng lên ngôi đền thờ Nhà-thơ-nhân-dân thật trang trọng. Bây giờ đối với gia tộc chị, ngôi từ đường nơi mà chị, người anh, và gia đình đứa em trai đang ở là chốn thiêng liêng nhất. Vậy mà có lần chị cương quyết từ bỏ nó, suýt chút nữa nó đã làm mồi lửa trong chiến tranh, nếu không có ông lão.

 

2

 

Chị rời khỏi làng quê giữa lúc tên tuổi ông cố chị rực sáng trên thi đàn hừng hực tư tưởng đấu tranh. Người ta đọc thơ ông trước giờ ra trận hay giữa lúc hoang mang chao đảo trước cuộc sống đầy khó khăn, nguy hiểm. Thơ ông cũng ngân nga trong tâm hồn những chàng trai khi đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời để chọn một hướng đi, hay cô gái trước nhiều cám dỗ của cái xã hội vừa nhiễu nhương vừa xa hoa, phù phiếm. Và chị bỗng nhận ra trong bầu trời thi ca lúc ấy ông là ngôi sao rực sáng vì sự rạch ròi trong cách truyền giảng Thiện - Ác, nhục - vinh. Dưới con mắt mọi người chị nhận được sự nể trọng mà chị linh cảm giống như sự quí trọng phiên bản của một cổ vật trong viện bảo tàng. Chị tự hào về ông nhưng trong thâm tâm chị thấy cái đạo lý được truyền giảng bằng ngôn ngữ thơ ca ấy đã quá lỗi thời. Nó chẳng khác nào buộc con người đang sống ở cuối thế kỷ XX này phải ăn mặc, để râu tóc giống như người của hơn một trăm năm trước. Chị tưởng tượng bây giờ nếu chị khoác lên người cái áo tứ thân, quần đáy xẹo thay cho chiếc áo bà ba tay ráp, quần đáy giữa ống 18, 20 phân chị đang mặc thì chắc trông buồn cười lắm. Ngay như cuộc chiến tranh hôm nay so với thời ông sống đã khác xa đến mức nào. Cho dù tính chất của nó vẫn là một nhưng hình thái, qui mô, kể cả thủ đoạn kẻ thù mà ở thời ông không thể nào tưởng tượng nổi. "Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy". Sự phân định rạch ròi ấy đã không còn rạch ròi nữa khi mà cái xã hội chị đang sống biết bao người đi với Phật vẫn ung dung khoác áo giấy và kẻ song hành với quỷ Sa tăng vẫn ngang nhiên mặc áo cà sa!

 

Ước muốn thoát khỏi cái vòng tròn luân lý mà càng lúc chị càng thấy nó nhỏ hẹp và bức bối ấy dâng lên mạnh mẽ trong chị. Trái với ý muốn của ông nội, sau khi đỗ bằng Cử nhân chị đã xin dạy ở một trường tỉnh. Tuy vậy ông vẫn tin cẩn trao chị tờ di chúc: Chị sẽ thay ông gìn giữ, coi sóc ngôi từ đường và những di vật mà ông cố chị để lại. Điều này đã gây cho chị sự ngạc nhiên mà mãi sau này chị mới vỡ ra và khâm phục ông như một vị tiên tri. Cha mẹ chết sớm bỏ lại ba anh em chị cho ông nuôi nấng, dạy dỗ từ lúc chị lên mười và đứa em trai mới tròn ba tuổi. Dù không nói ra nhưng chị hiểu gần đây sức khỏe ông xuống dốc trầm trọng vì việc anh Hai chị đã tự ý thi vào trường võ bị Đà Lạt. Biết được điều đó nên những lúc về thăm ông, chị không hề hé môi những tin tức chị biết được về anh và tuyệt nhiên ông cũng không nhắc đến. Không biết ông viết bản di chúc từ lúc nào, khi trao cho chị là lúc ông bệnh nằm liệt giường, chị đã xin nghỉ phép để về phụ đứa em chăm sóc cho ông. Đó là những ngày cuối cùng chị ở bên ông. Lúc ấy ông không nói được lời nào, chỉ những giọt nước mắt chảy xuống vành tai khô quắt. Chờ ông qua cơn xúc động chị hỏi sao ông không để lại cho cháu trai mà giao cho chị trong khi chị là "nữ nhân ngoại tộc". Và như vậy liệu sau này có sự rắc rối không? Hay có lẽ giải pháp ổn thỏa nhất là tương phân. Ông nói:

 

- Nội giao cho con là giao trách nhiệm. Quyền lợi thì có mà rất ít nhưng nếu nhìn cách nào đó thì nó là vô giá. Trách nhiệm rất lớn lao, quyền lợi vô giá! Đã vô giá thì làm sao có thể tương phân. Còn tại sao nội giao cho con thì sau này con tự hiểu. Nội tin là nội làm đúng.

 

- Nhưng con có ở đây đâu? Làm sao con có thể ở nơi khác mà chăm sóc ngôi từ đường, hương khói ông bà được?

 

Ông ngước nhìn chị, đôi mắt đã mờ đục. Một thoáng, ánh mắt mờ đục ấy lại hướng sang cái đèn bong bóng đang tỏa ra thứ ánh sáng leo lét trên bàn thờ. Chị quá ngạc nhiên và bất giác trong chị lóe lên một linh cảm không lành về sự tỉnh táo của ông.

 

- Rồi con cũng sẽ quay về thôi, khi mà điều con đang tìm càng lúc càng thấy xa.

 

Tờ di chúc ông viết bằng chữ Nôm, có đóng dấu triện son, dấu triện mà ngày xưa ông cố chị đóng trong mỗi bài thơ. Ông nội không làm thơ nhưng giữ dấu triện như một báu vật. Có lẽ đây là lần đầu tiên ông sử dụng nó. Chị hiểu tờ di chúc có đóng dấu triện son này đã trở nên hết sức thiêng liêng đối với ông. Nó biểu thị niềm tin tuyệt đối với người được chọn để giao bảo vệ, giữ gìn và lưu truyền truyền thống, đạo đức của tiền nhân.

 

Khó mà đoán được nét chữ trong bản di chúc là của một nông dân. Chân phương mà đẹp sắc sảo. Chị nhớ năm học lớp đệ nhị, khi xem thấy tập vở chị viết cẩu thả ông đã kể cho chị nghe bài học về nhân cách thể hiện qua nét chữ mà ông cố chị đã dạy ông. Từ lúc nhỏ ông đã được ông cố giao nhiệm vụ sao chép lại những bài thơ, bài phú mà ông cố đã sáng tác. Những bài ấy được viết từ những mảnh giấy rời với nhiều khổ khác nhau tùy ở mỗi hoàn cảnh, giờ sẽ được sao vào trong những quyển có cùng khuôn khổ, giấy mỏng và ở gáy được cặp bằng hai nan trúc. Việc sao chép này là nhằm lưu giữ, hạn chế khả năng thất lạc mà mỗi trước tác đều mang dấu ấn của lịch sử hay của cuộc đời ông, nhưng điều quan trọng là rèn luyện chữ viết cho con. Theo ông nét chữ có thể nói lên phần nào tính cách của người viết. Khuôn thước là người cứng nhắc, khô khan; cẩu thả, rối rắm biểu hiện sự nhỏ nhen, ti tiện; lả lướt, bay bướm là của kẻ tài hoa nhưng cao ngạo. Ông muốn con mình phải rạch ròi, dứt khoát trong từng nét sổ, nét ngang nhưng phải phóng túng, khoáng đạt chứ không phải là sự gò gẫm cố tạo. Một khi ý thức được điều này, chịu khó luyện rèn thì cũng chính là ta luyện rèn nhân cách vậy. Lúc ấy chị đã cười, cười thầm thôi, điều ông kể. Chị cho rằng cái quan niệm kia không đúng, hoặc nếu có đúng thì đã quá cũ, lỗi thời. Thời của chị chữ viết chỉ là phương tiện, là ký hiệu diễn đạt những điều mình cần biết hay cần nói với người khác. Tuy vậy bài học ấy đã để lại dấu ấn khó quên trong chị. Không đồng tình với lời khuyên của ông nhưng chị đã thức nhiều đêm cố gắng sửa lại nét chữ của mình, đơn giản chỉ là sự tôn trọng những  người đọc nó. Chị không thể chịu nổi hàng ngày báo đăng nhan nhãn bút tích của người này, người nọ toàn những vị có uy thế trong xã hội, biết nhiều thứ ngôn ngữ nhưng chính ngôn ngữ mẹ đẻ thì lại viết sai bét, tự tiện gạch xóa lung tung. Chị không nghĩ rằng họ không biết mình viết như vậy là sai, là cẩu thả nhưng đối với họ đó là sự tự biểu hiện quyền lực và tính lập dị của mình, để đập vào trí nhớ người đọc coi như một nét của tính cách.

 

Sau khi ông nội qua đời chị đã rời khỏi ngôi từ đường, dẫn đứa em trai lên tỉnh. Trách nhiệm trước mắt của chị là nuôi cho nó ăn học thành tài. Chị không nỡ để đứa em trai mới mười lăm tuổi sống một mình trong căn nhà cổ kính, tự bươn chải nuôi thân giữa lúc bom đạn có thể trút xuống bất cứ lúc nào. Chị gởi ngôi từ đường lại cho ông Tư Mạnh, ông từ của ngôi đình làng ở chếch phía bên kia lộ. Ông Tư Mạnh là người hàng xóm thân thiết, đúng hơn ông tự coi mình là con cháu của ông cố chị - Nhà-thơ-nhân-dân. Gởi chẳng qua là chỉ có tiếng nói cho phải phép chứ thời buổi chiến tranh nếu không may bom pháo nã trúng thì ông Tư cũng đành bất lực. Còn nạn trộm cắp hay quấy phá của bọn trẻ thì hầu như không thể xảy ra. Đối với người dân ở đây ngôi nhà này là chốn linh thiêng, bất khả xâm phạm, và mặc nhiên họ có ý thức giữ gìn. Và sự tự ý thức ấy cũng chính là niềm tự hào của họ.

 

Còn chị, chị có con đường riêng của chị. Chị muốn kiến tạo cho mình một nền tảng, một cách sống khác phù hợp với thời đại chị đang sống chứ không phải cái nền tảng được thiết lập từ thời ông cố chị. Chị không muốn mình cứ vin mãi vào cái vầng hào quang của ông. Chính từ ý thức đó chị đã đến với Phú.

 

*

*     *

 

Chị yêu Phú không phải vì Phú đẹp trai hơn những sinh viên cùng khóa đã từng đeo đuổi chị. Mặc dù với thân hình cân đối của một vận động viên cử tạ, đôi mắt sáng, mái tóc dài quăn tự nhiên Phú là mẫu người hấp dẫn nhiều cô gái. Cũng không phải vì Phú là con của một vị nghị sĩ nổi tiếng. Chị đến với anh chỉ vì anh dám từ bỏ cái vầng hào quang của người cha để đi theo con đường riêng rẽ, tự chọn. Năm học thứ ba đại học Phú là một trong những sinh viên xuống đường phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam hăng hái nhất. Đã nhiều lần anh bị bắt rồi được tha do sự bảo lãnh của cha. Nhưng sau những lần ấy anh lại tham gia hăng hái hơn ở mức độ tổ chức qui mô hơn. Hành động này nhằm chống lại chính sự bảo lãnh của cha anh. Anh muốn bứt khỏi bàn tay tỏa  hào quang ấy. Và cũng sau bao lần che chở cho con, bàn tay phù phép của người cha cũng mất đi ít nhiều linh nghiệm. Uy tín bị mất mát, địa vị ngày càng bị lung lay, ông từ mức dỗ dành, khuyên nhủ chuyển sang tuyên chiến, trút sự hằn học lên đầu đứa con trai độc nhất. Những trận khẩu chiến nảy lửa của hai thế hệ, hai quan niệm luôn xảy ra trong ngôi nhà ba tầng khi họ chạm mặt. Cuối cùng thì bàn tay phù phép phải biến hóa để vầng hào quang không bị lu mờ.  Ông viết bản từ con đăng trên báo, nhờ cơ quan ngôn luận bảo vệ uy tín cho mình. Dĩ nhiên đó chỉ là về mặt pháp lý, mang tính xã hội. Còn gia đình ông chẳng cấm anh đi về, ăn uống, sinh hoạt trong ngôi nhà ba tầng này. Với Phú, anh cũng thôi không đấu khẩu với cha nữa bằng cách tránh chạm mặt ông. Anh nghĩ rằng bản từ con được đăng trên báo kia chính là lời tuyên bố của một người tự biết rằng mình bất lực.

 

Chính trong những ngày ấy họ đã tìm đến nhau. Họ gắn bó bởi hai trái tim đồng cảm. Lúc ấy chị đã giấu ông nội. Chị biết việc chị tự quyết định đời mình là đi ngược lại, hay đúng hơn là phá vỡ cái đạo lý mà ông nội là người tử thủ. Chị không muốn thấy ông đau buồn trong đoạn cuối của cuộc đời. Nhưng với gia đình Phú thì không thể giấu được. Vả lại tính khí cũng như hoàn cảnh của Phú cũng khác chị. Ngài nghị sĩ đã cương quyết bỏ mặc cuộc đời anh, nhưng mẹ anh thì không thể. Trong việc bất đồng giữa hai cha con bà là người thứ ba, và là người duy nhất để rơi nước mắt vì không đủ khả năng hòa giải. Người đàn bà ở hai cương vị làm vợ và làm mẹ là hai đầu chiếc đòn gánh trĩu nặng. Bà âm thầm chịu đựng, chỉ mong trong mọi hành động chăm sóc, vỗ về của mình là nhịp cầu nối liền lại tình cha con. Vậy mà trong việc Phú chọn người bạn đời là chị bà không thể im lặng. Bà không giành quyền chọn vợ cho con nhưng bà không chấp nhận con dâu của mình đã "tiền dâm hậu thú". Tệ hại hơn, bà tỏ thái độ khinh bỉ ra mặt khi biết chị là con cháu của nhà thơ đạo lý mà bà vẫn luôn ngưỡng vọng. Chị cảm nhận nỗi đau như vết thương sâu hoắm chưa kịp kéo lớp da non đã bị bà dùng que chọc ngoáy vào nó không hề thương tiếc. Chị không ngờ rằng với vẻ bề ngoài của một gia đình ảnh hưởng nếp sống Tây phương này lại có môn đồ trung thành tuyệt đối đạo lý trong thơ ca của ông cố chị. Bà đã dùng chính nó để quật lại người mang huyết thống của ông nhưng muốn bứt khỏi cái vòng luân lý của ông. Chị tin đó không phải là sự giả dối, bà lợi dụng nó để chối bỏ chị vì một duyên cớ khác như thân phận của một con bé mồ côi, nhà nghèo. Nhưng dù là với động cơ nào đi nữa thì sự thật là chị đang đụng phải cái thành trì kiên cố mà từ lâu chị ước mong phá vỡ.

 

Phú lại bị bắt trong một cuộc xuống đường phản đối Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam, trước ngày ra trường một tháng. Lần này thì ông nghị sĩ đã làm ngơ. Vì là một trong những người cầm đầu nên Phú bị biệt giam để thẩm vấn. Chị quyết định về quê dạy học sau khi ra trường để chuẩn bị cho cuộc sống lứa đôi với nhiều dự định khi Phú được thả.

 

Sự thuận lợi đã đến với chị ngoài sự mong chờ. Ngành Giáo dục xem  việc ưu đãi đối với chị là niềm vinh dự không phải vì cái bằng Cử nhân hạng ưu mà chỉ vì chị là dòng dõi của nhà thơ tải đạo. Cuối cùng thì chị cũng dựa vào hào quang của ông cố! Dẫu chị có quyền thừa hưởng nhưng khi đối diện với chính lòng mình chị cảm thấy hổ thẹn, và bực tức. Tại sao điều mà chị muốn bứt khỏi lại càng lúc càng vây lấy chị? Phải chăng chị không đủ tài năng và bản lĩnh? Những câu hỏi cứ giày vò tâm trí để rồi cuối cùng chị phải vin vào điều an ủi là mình chưa có thời cơ. Và muốn tạo được thời cơ, bước đầu chị  phải chấp nhận cái di sản tinh thần mà ông cố để lại. Chị phải cố nén cái khó chịu khi mọi người xem mình là một phiên bản của ông. Chị hy vọng ở Phú. Ngày Phú ra tù cũng chính là lúc anh hoàn toàn không phụ thuộc vào vầng hào quang của người cha. Và anh cũng sẽ bứt khỏi sự ràng buộc về lễ giáo của mẹ. Khi ấy chị và Phú sẽ là hai kẻ song hành trên con đường từ lâu họ vạch sẵn.

 

*

*     *

 

Mảnh trăng liềm mùng bốn đã lặn. Khu xóm nhà chị hiện ra rực rỡ ánh điện. Ngay ở đầu làng chị đã thấy ánh lên những dãy đèn màu chớp tắt từng hồi ở trước ngôi nhà chị. Không biết sao cứ mỗi lần nhìn thấy nó  là chị liên tưởng đến nhịp đập của trái tim đang cơn hấp hối. Cố xua đi sự liên tưởng nhuốm màu đen tối ấy nhưng chỉ ít giây sau là nó lại hiện đến. Rồi tiếng nhạc Pop - Rook phương Tây được những chiếc  loa thùng khuếch đại mà âm sắc của nhiều loại nhạc cụ như muốn chọc thủng vào màng nhĩ mỏng manh, yếu ớt của chị. Trong rừng âm sắc ấy, đặc biệt tiếng trống bass như bàn tay vô hình cứ từng chặp, từng chặp bóp chặt trái tim, làm chị nghẹt thở. Đã từ lâu chị muốn thoát khỏi nó nhưng không sao thoát được khi tất cả những thứ ấy xuất phát ở chính trong ngôi từ đường của gia tộc chị. Người chủ xướng là đứa em trai, chủ nhân quán bia ôm đang hồi phát đạt.

 

Bé Trâm đã ngủ trên tay chị. Lời kể chuyện rời rạc, vô vị vì tâm trí chị ngoặt sang hướng khác làm nó không chống chọi được với cơn buồn ngủ. Nó đã ngủ gật trong lúc bước đi. Chị ẵm nó trên tay lúc gần tới đầu làng. Bây giờ tiếng nhạc càng lúc càng ầm ĩ cũng không làm nó thức giấc. Không hiểu trẻ con dễ ngủ say hay do tâm hồn nó đã quá quen với âm thanh cuồng nộ ấy giống như trẻ con thời trước quen với tiếng hát ru?

 

Lại một cơn gió lướt qua làm chị rùng mình.

 

Một trò chơi mới không kém phần thú vị! Thằng bé không ngờ ông lão đã hưởng ứng dễ dàng đến như vậy. Điều đó đã kích thích thêm sự hứng khởi, nótrâu lại, ngoặt sang chỗ ông lão đang quì miệng tiếp tục la: "Mặt trời là của tui...".

 

Đến bây giờ nó mới thấy mặt ông lão xanh tái như không còn chút máu, từng thớ thịt nhăn nheo trên đôi gò má giật giật, mắt long lên dữ dội, đỏ vằn những tia máu đỏ. (Sau này nó mới hiểu đó là biểu hiện của sự đau đớn tột cùng). Lúc ấy nó cảm thấy hoảng, vội giục trâu đi nhanh. Tiếng gào của ông lão như cứ rượt đuổi theo nó. Đi được một quãng nó quay lại thấy ông đang cúi rạp mình xuống đất, cùng lúc với hai tiếng "Mặt trời..." rồi không nghe tiếp và cũng không thấy ông lão ngóc đầu dậy nữa.

 

(Còn tiếp)

 

 

>> XEM TIỂU THUYẾT - HỒI KÝ CỦA TÁC GIẢ KHÁC  

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.