Tin mới Xem thêm

  • Doãn Minh Trịnh cay mờ khoé mắt tuổi thơ

    Tuổi thơ con/ ấm ngọt tiếng đàn/ cha rót vào những đêm trăng sáng/ tiếng hát bản Mường "cô gái vót chông"/ Tuổi thơ con/ vọng mãi tiếng kèn dân tộc/ bằng lá hái trong sân/ cha thổi bài ca "cô gái gọi bạn tình"/ Tuổi thơ con/ thuộc hết bài thơ cha viết tặng/ dạy con biết về mình/ nhớ đinh

  • Công lý rủi ro

    Toà án có vai trò rất lớn trong xã hội. Người dân khi gặp bất công, bị chèn ép bởi hệ thống công quyền muốn được bảo vệ thì kiện ra toà án…

  • Việt Nga - Hoa phượng trắng

    Một trưa mùa hạ, tôi nhận được tin nhắn của em: Cô ơi! Em muốn chết! Tôi vội vã lấy xe, phóng đến chỗ em. Tôi biết tính cô học trò cũ của mình

  • Đổi mới trại sáng tác VHNT cho hiệu quả

    Theo số liệu vừa được công bố bởi Trung tâm Hỗ trợ sáng tác văn học nghệ thuật (Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch), với 6 nhà sáng tác ở các địa điểm nghỉ dưỡng lý tưởng trên cả nước là Đại Lải (Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt (Lâm Đồng), Vũng Tàu, chỉ tính riêng trong năm 2016 đã có tới 66 trại sáng tác văn học nghệ thuật được tổ chức

  • Đòn giáng phủ đầu của Biệt động Sài Gòn

    Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đi qua vừa đúng 50 năm. Giờ đây khi nghiên cứu về Mậu Thân, ta không thể không

  • Trần Thị Kim Nhiên & Xóm Cù Lao

    Út có người yêu. Tin đó bay khắp cái Xóm Cù Lao nhanh như vận động viên marathon chạy nước rút. “Chuyện, con bé dễ thương, học giỏi lại hiền lành, đi học xa nhà nữa, có khối anh chàng ở phố mê mẩn”. Có người than: “Xóm Cù Lao mình hết hi vọng rồi, nó lấy chồng ở phố rồi mất luôn...”. Lời than ấy không phải là không có lý

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tiểu Thuyết

Thập khúc của Nguyên Tùng - Kỳ 2

07.02.2016-10:20

Nhà văn Nguyên Tùng

>> Thập khúc - Kỳ 1 

 

Thập khúc

(Kỳ 2)

 

 

TRUYỆN VỪA CỦA NGUYÊN TÙNG

 

3

 

NVTPHCM- Giấc ngủ không đến với chị. Dù đã đóng kín cửa ngoài, cửa buồng cũng được khép chặt nhưng những âm thanh hỗn tạp ở quán bia trước nhà vẫn dội đến nhức óc. Thật ra tiếng nhạc phát ra từ hai chiếc loa bây giờ phần nào êm dịu hơn. Có lẽ Thái - em trai chị đã lắp những đĩa nhạc không lời thay cho âm thanh cuồng nộ vì đêm đã về khuya. Chính vì vậy mà nó không át được cái âm lượng the thé, mỏng vánh của cô tiếp viên lẫn trong tiếng lè nhè, ưa bứa cùng tiếng gõ lanh canh của những chiếc đũa vào chén dĩa được những thực khách biểu diễn. Đúng ra tất cả những âm thanh ấy đêm nay không phải là nguyên cớ đuổi xua giấc ngủ đến với chị. Cứ nhắm mắt lại là hình ảnh ông Tư Mạnh hiện đến. Choáng ngợp trong tâm trí chị vẫn là cái dáng vẻ gầy gò, lặng lẽ như chiếc bóng. Dân làng từ lâu đã quên ông. Nói quên không có nghĩa tất cả hình dáng, tên tuổi, hành động ở một con người nào đó đã hoàn toàn tuột khỏi bộ nhớ hay nó đã bị nhốt kín trong cái ngăn kéo của tiềm thức mà khi gặp lại ta không hề nhận ra. Đối với ông lão, thái độ của họ chỉ là sự lơ đễnh. Họ xem cái việc quì lạy cầu mặt trời lên mỗi sáng của ông là gàn dỡ không mảy may ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm hay mọi sự sinh hoạt liên quan đến cuộc sống của họ. Có ông hay không có ông thì mặt trời mỗi sáng vẫn mọc lên, và tâm hồn họ cũng không vì thế mà cảm thấy vui hơn hay buồn hơn. Nhưng với chị cái chết của ông lão là nỗi mất mát quá lớn. Hình ảnh ông đêm đêm xách chiếc đèn lồng đi ra giếng hộc sau đình, rồi cái tư thế chết của ông lúc sáng luôn chập chờn trong đầu chị. Chị hiểu nó sẽ là hình ảnh ám ảnh chị suốt đời. Chị cảm thấy có lỗi với vong linh ông nội khi tâm trạng hôm nay không hề có trong chị lúc ông mất. Điều đó chị cũng không hiểu tại sao!

 

Hồi sáng thằng bé chăn trâu kể với chị rằng: Bởi tối qua nó lén ba nó đi hát karaoké về khuya, sáng ra sợ bị đánh đòn nên nó lùa trâu ra đồng ăn sớm. Qua nổng cát nó thấy ông lão đầu tóc xõa tung, mặt quay về phía cánh rừng sát mé biển, nơi mà lát nữa mặt trời sẽ mọc lên, đang quì lạy. Đây không phải là lần đầu thấy ông ở dáng điệu ấy nên nó không hề ngạc nhiên hay sợ hãi. Nó chỉ cảm thấy ngồ ngộ và lòng dậy lên sự thích thú giống như nó đang xem một tiết mục xiếc trong ti-vi. Nó chợt nảy ra ý định chọc ông lão, chỉ là để tăng thêm sự khoái chí chứ không hề có ác ý. Ngồi trên lưng con trâu cổ, nó lấy hết sức bình sinh, đến mức gập cong người lại mà la:

 

- Mặt trời là của tui!... Mặt trời là của tui!

 

Ông lão giật bắn mình, toàn thân ông run rẩy. Ông quay mặt lại phía nó. Nó nhận ra gương mặt ông như choắt lại, méo mó. Tiếng ông lão khàn đi, dường như thanh quản phải chịu bất lực trước ý muốn của ông.

 

- Mặt trời là của tao!... Mặt trời là của tao!... Mặt trời là của tao!...

 

4

 

Từ xa chị đã thấy những chiếc xe bò chở đầy cát, đá đổ thành đống ở bên hông nhà từ đường. Chẳng lẽ Thái định mở rộng quán bia?

 

Những năm gần đây bộ mặt làng quê của chị thay đổi rất nhanh. Đường sá được mở rộng, thông thoáng. Điện về phủ khắp thôn xóm. Những ngôi nhà tường với nhiều kiểu kiến trúc hiện đại liên tiếp mọc lên rút ngắn dần cái khoảng cách giữa nông thôn với thành thị. Điều này bỗng dưng gợi chị nhớ đến cái đêm ông nội chị trút hơi thở cuối cùng. Đó là đêm trong chiến tranh, làng quê chị như oằn xuống bởi những tiếng pháo đề-pa âm âm xa vắng  mà mục tiêu của nó mang đến tiếng nổ hủy diệt luôn là sự bất ngờ. Nó oằn xuống bởi ánh trăng hạ huyền nhàn nhạt phủ lên những ngôi nhà đổ nát, những cây dừa cụt đọt, những bụi tre trốc gốc đổ nghiêng. Và trong cảnh hiu hắt hoang tàn đó cứ chốc chốc tiếng con chim heo kêu thét giống như tiếng la riết róng của chú heo con bất ngờ bị mũi dao của tên đồ tể thọc huyết. Ông nội chị đã ra đi trong một đêm như thế trong ngôi nhà ba căn mà hôm nay ngập tràn ánh điện, nhưng lúc ấy chỉ là một quầng sáng lờ mờ của chiếc đèn bong bóng. Có lẽ cả đời ông chưa lần nào tưởng tượng được làng xóm này, ngôi nhà này rực lên bởi thứ ánh sáng điện khí mà lúc ấy nó là biểu trưng của chốn đô thành.

 

Nỗi buồn ngấm ngầm như chất cường toan ăn mòn càng lúc càng khuyết sâu trong lòng chị kể từ khi đứa em trai dựng lên quán bia nơi khoảng sân trước nhà. Đó là một khoảng đất rộng, phía bên trái có đặt chiếc bàn hình chữ nhật được ghép bằng những tảng đá ong. Đây là di vật của ông cố chị. Mưa nắng hơn một trăm năm qua đã xói mòn mặt đá loang lổ giống như tổ hà trong thân gỗ bị ngâm lâu. Màu đá đã chuyển sang màu gạch nung già lửa. Dưới chân hai phiến đá trụ rêu bám một lớp khá dày, màu đen xỉn. Ông nội chị lúc còn sống quí chiếc bàn này lắm tuy rằng lúc ấy nó cũng đã trở nên vô dụng rồi. Ông nói rằng đó là nơi ông cố ngày xưa vào những đêm trăng sáng đã cùng những nhân sĩ thưởng hoa, vịnh nguyệt và bàn thế sự. Nó cũng là chứng tích cuộc hội kiến của ông với vị chủ tướng nghĩa quân chống Pháp nổi tiếng lúc bấy giờ. Vị này từ tỉnh khác bí mật đến thăm ông trong lớp áo của một vị đạo sĩ.

 

Ngay lúc khởi công dựng quán Thái định đập bỏ. Nó nói:

 

- Thời buổi mà mỗi thước vuông đất mặt tiền có thể đẻ ra vàng cây, còn để cái bàn đá loang lổ này ở đây là một sự lãng phí.

 

- Nhưng đó là di tích của ông cố. Không những nó có giá trị đối với chị em mình thôi mà nó còn là vật quí của họ tộc.

 

- Không thể ôm giữ khư khư cái vật rêu phong cổ lổ ấy trong lúc bụng đói meo, nó réo sôi lên đòi hỏi phải có thịt, có cá. Chị có đủ dũng cảm chấp nhận khi sống trong một quần thể mà mọi người xung quanh ai cũng cơm no áo ấm, hưởng đủ mọi lạc thú trên đời còn chỉ có gia đình chị, trong đó có bản thân chị dù có lao động cật lực thì cơm thôi cũng không đủ no bụng huống hồ chi nói tới những nhu cầu khác. Vậy mà với mọi người chị phải nén đi cái đau có thật ấy để nở nụ cười dương dương tự đắc, chỉ vào cái bàn ấy mà nói với mọi người: "Tôi vô cùng hạnh phúc vì tôi có nó. Tôi khinh bỉ cái vỏ giàu sang hào nhoáng của các người". Chị có đủ can đảm chấp nhận điều đó không?

 

Chị nhìn Thái sửng sốt và lạ lẫm như chưa từng biết nó. Đứa em trai của chị đây sao? Thằng bé cút côi, đầu khét nắng, đôi mắt lúc nào cũng nặng trĩu nỗi buồn pha lẫn nét sợ hãi, sống lủi thủi với ông nội từ thuở lên ba đây sao? Chị cố hình dung để hy vọng bắt gặp mối liên hệ giữa gương mặt ấy, ánh mắt ấy với sắc mặt, ánh nhìn của Thái - chàng kỹ sư pha chế thuốc trừ sâu đứng trước chị bây giờ, nhưng bất lực. Bất chợt chị nhận ra nó chỉ đọng lại phảng phất không phải trong nguyên bản mà là ở bé Trâm, một sinh linh bé bỏng tiếp nối sự sống và thừa hưởng gien di truyền kia.

 

Chị nói mà nghe cổ họng mình khô đắng:

 

- Chị không hề có ý phản đối em kinh doanh mua bán để làm giàu. Chị chỉ không hài lòng khi em mở nhà hàng bia ôm và vì nó mà em phá bỏ cái bàn đá ấy. Là con cháu của ông cụ em nghĩ sao khi đó là nơi từng tạo nguồn cảm hứng để ông viết nên những vần thơ đầy khí khái, những câu thơ thấm đẫm đạo lý làm người bây giờ trở thành chỗ ăn chơi, mua bán khóe mắt, làn môi, những cái vuốt ve thô lỗ, tục tĩu của thực khách. Phải chi em dựng lên cửa hàng bán thuốc trừ sâu, phân bón thì vừa phù hợp với nghề nghiệp của em vừa không phải phá bỏ cái bàn đá của ông cố.

 

Thái cười nhạt, cái cười làm chị gai lạnh sống lưng.

 

- Chị nói rập khuôn giọng điệu của các nhà mô phạm thích "lập ngôn". Nhưng dù chị có uốn giọng cách mấy thì nó cũng chỉ vừa tầm sự sướt mướt của một cô giáo đứng trên bục giảng nói với lũ học trò chưa hề biết động cỡn là gì! Nó có thật lòng không khi mà chính chị đã từng muốn chối bỏ nó, thậm chí lên án nó là một nền đạo lý quá khắt khe và cũ kỹ. Chị đã vượt rào trước chứ nào phải tôi. Còn chuyện kinh doanh tôi cho rằng giữa bia ôm với thuốc trừ sâu không có gì khác nhau cả. Chung qui chỉ là phục vụ theo cái nhu cầu mà từng loại khách hàng cần có, khác chăng chỉ là nguồn lợi do nó đem lại. Và tôi chọn cái sẽ đem lại nguồn lợi nhiều và nhanh nhứt. Việc tôi định phá bỏ cái bàn đá rêu phong ấy chị hãy thử liên tưởng: Nếu có một phép thần thông nào làm ông cố sống dậy, ông nói rằng: "Các cháu hãy ráng nhịn đói chứ đừng nên phá bỏ cái bàn đá của ta, cho dù nó trở nên vô dụng và mất vẻ mỹ quan. Những gì của ta đều là bất khả xâm phạm, các cháu  có thể rũ chết nhưng ta phải tồn tại!". Chị nghĩ sao nếu ông nói như vậy? Nhưng thôi, tôi sẽ không tự ý nữa vì dù sao cũng còn anh Hai. Là thành viên của gia đình tôi sẽ tôn trọng ý kiến biểu quyết của số đông.

 

Cảm giác thảng thốt của người đi trên cầu bất ngờ hụt chân rơi xuống khoảng không sâu hút của lòng sông mà nó thường đến trong mơ lúc này ùa đến với chị. Bàng hoàng như vừa tỉnh cơn ác mộng, làm chị nghẹn ứ trong cổ. Chị không muốn khóc nhưng sao nước mắt cứ chực trào ra. Không để ý tới người anh đang gật gù, lảm nhảm những lời gì đó bên bàn rượu, chị chạy biến vào buồng khóa trái cửa. Đã từ lâu chị không muốn để ai thấy nước mắt của mình.

 

*

*     *

 

"Chị đã vượt rào trước chứ nào phải tôi". Như vậy chị chính là kẻ chủ mưu trong sự biến đổi nền nếp gia phong này? Điều mà Thái nói và làm là sự đảo lộn chứ đâu còn là sự biến đổi! Phải chăng trong nhận thức của Thái nó thật sự vô tư và nhiệt tình dấn bước trên con đường mà chị là người khai mở? Hay đó chỉ là sự ngụy biện của kẻ ý thức quá rõ hành động của mình, dựa vào chủ trương của người khác, lợi dụng và bóp méo nó để chống đỡ. Dù cố huy động hết khả năng của lý trí lẫn tâm hồn của một người chị để hiểu đứa em cùng chung huyết thống chị cũng không thể hiểu được Thái thuộc diện nào giữa chú nai tơ và lão cáo già. Những lời nó nói ra vừa là sự biện hộ cho nó vừa là sự nhục mạ đối với chị không làm chị đau mà nó giống như một chất men làm nồng thêm nỗi cô đơn. Cảm giác rã rời và trống rỗng ấy hơn một lần chị đã trải qua.

 

Đó là lúc Phú trở về tìm chị sau gần hai năm kể từ ngày anh bị bắt. Khoảng thời gian ấy ngoại trừ mấy lần chị đi thăm anh ở trại giam sau đó thì chị không biết gì về tin tức của anh nữa. Lần đi thăm cuối cùng người ta từ chối nhận quà chị gởi, họ báo là anh được thả hôm thứ Ba tuần trước. Linh tính báo cho chị biết một điềm gì đó không lành bởi nếu được thả sao Phú không về quê tìm chị, cũng không một dòng thư. Chị hốt hoảng tìm đến nhà gặp cha mẹ anh và được họ trả lời "không biết" với thái độ nửa thờ ơ nửa tỏ ra bí hiểm. Chị thất thểu quay về trong nỗi tuyệt vọng lẫn hoài nghi. Lẽ nào anh đã bị họ bí mật chuyển trại và biệt giam như những tù nhân chính trị quan trọng? Lẽ nào ba anh lại phó mặc trong tình huống như vậy cho dù cơn giận anh vẫn chưa nguôi và trước đó ông đã đăng báo từ anh? Lẽ nào ông coi chiếc ghế nghị sĩ Thượng nghị viện cao hơn cả sinh mệnh đứa con trai duy nhất của ông. Hùm dữ còn không nỡ ăn thịt con nữa là... Hay Phú đã được thả và trong chuyện này có điều gì bí ẩn mà chị không thể nào hiểu nổi? Những câu hỏi cứ quay cuồng trong đầu càng lúc càng trở nên rối rắm bởi chị không tìm được sự lý giải nào khả dĩ làm chị yên tâm. Điều mà chị cần biết lúc này là tính mạng của Phú. Chị chỉ cầu mong cho anh được bình yên, còn tất cả chị đều có thể chấp nhận được bởi chị tin ở tình yêu của anh. Chị tin anh như tin ở tình yêu của chị vậy.

 

Gần hai năm chị sống trong nỗi khắc khoải chờ đợi Phú, cũng là khoảng thời gian chị lao vào thực hiện một kế hoạch mà từ lâu hai người đã vạch sẵn. Chị đã tìm được gần hết những tài liệu cần tham khảo để khi về anh có thể bắt tay vào viết quyển sách mà anh hằng ấp ủ. Trong danh mục ấy có những quyển của Nietzsche, của Kant, Freud và cả của Marx.

 

Rồi tất cả đã sụp đổ đến mức nghiệt ngã khi Phú quay về gặp chị trong bộ quân phục sĩ quan quân đội Sài Gòn mang quân hàm trung úy. Anh giải thích rằng sở dĩ anh không gởi cho chị một dòng tin tức nào vì anh muốn gây cho chị sự bất ngờ thú vị, giống như sự bất ngờ anh gặp phải, mà chính nó đã làm thay đổi đời anh.

 

- Em biết không, một cú sốc bất ngờ, đau đớn đối với anh là thằng thượng sĩ trực tiếp thẩm vấn anh không ai khác hơn là thằng Đẹt - Phú thì thầm vào tai chị sau một trận hôn tới tấp, ướt át và bây giờ anh vẫn đang siết chặt chị vào lòng. Bàn tay phải của anh vẫn say sưa trên ngực trái chị - Nó là thằng học chung với anh hồi tiểu học, dốt như bò luôn bị thầy bắt thụt cá kèo. Ông già nó là trưởng chi cảnh sát quận, chắc là chạy chọt lắm mới đưa nó vào được đó. Anh không trách nó làm mặt lạ, chỉ ghét cái thói hống hách, hoạnh hẹ, kẻ cả của nó khi hỏi cung anh. Anh tức điên lên. Nó là hạng gì mà lên mặt...

 

Tai chị ù đi, không nghe được gì nữa. Cái cảm giác người bị hụt chân giữa cầu đang rơi xuống mặt sông trong những giấc mơ lại đến trong chị. Mắt chị mở to và ráo hoảnh trong đêm tối. Phú trườn lên người chị với vẻ khát khao, cuồng nhiệt nhưng nó giống như những lượn sóng ào ạt chồm lên bãi đá trơ lì.

 

Chưa lúc nào chị cảm thấy nỗi cô đơn trĩu nặng đến như vậy. Chị không biết cái giá mình trả là cho sự bồng bột hay cho niềm tin của mình bị lợi dụng. Nhưng cho dù nhẹ dạ hay cả tin thì chị cũng không hối hận. Bởi chị đã sống thật lòng mình, và sự  mất mát có giá trị như cuộc đánh đổi để chị nhận chân sự thật.

 

Cuộc ái ân với Phú lần này chị bỗng nhận ra anh không còn lại gì trong chị nữa.

 

 

5

 

Bước những bước nhẹ nhàng để không gây tiếng động, chị vượt qua khỏi bộ ván nơi phát ra tiếng ngáy vang to cùng với vùng không khí nặc nồng mùi rượu trộn lẫn thức ăn đang được tiêu hóa thoát ra từ những tuyến bài tiết của người anh, chị rón rén mở cửa. Làn không khí mát rượi, trong lành tràn vào người làm chị thấy dễ chịu. Chị nhận ra trong đó thoang thoảng mùi hương dạ lý. A, chậu hoa của lão Mạnh tặng chị mấy hôm trước được đặt nơi góc phải hiên nhà đây mà! Chị hít thật sâu. Cảm giác buồn nôn khi nãy biến mất. Chị đi về phía ngôi đình. Trăng thật sáng. Giờ này chắc ông lão còn thức. Mà có lúc nào lão ngủ vào ban đêm đâu. Lâu lắm rồi. Vào những đêm nỗi buồn dâng đầy và cái bóng tối của gian buồng như đồng lõa làm chị thấy ngạt thở như đêm nay chị hay đến với ông. Có khi chỉ là ngồi im lặng trong bóng đêm ngoài mé hiên đình. Cũng có lúc ông kể cho chị nghe những câu chuyện rời rạc, không đầu không cuối, lâu ngày nối kết lại chị mới vỡ ra được nhiều điều. Vậy mà thật kỳ lạ, những giờ phút ngồi bên ông lòng chị cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản hơn. Còn ông những đêm có chị, nhất là đêm có kể chuyện gương mặt cũng bớt phần căng thẳng. Vào những đêm ấy ông ít cầm đèn đi ra giếng hộc sau đình hơn.

 

- Cô giáo không ngủ à?

 

Tiếng ông lão vọng ra từ trong vườn kiểng giữa sân đình khi thấy chị bước vô cổng. Chị hơi ngạc nhiên vì thấy ông khác lạ hơn mọi đêm. Thường ông không hề nghe thấy cả lúc chị tới gần. Ngồi thu lu bên chiếc đèn lồng (loại đèn trứng vịt được đặt trong chiếc lồng treo hình trụ bốn mặt được lắp kiếng) trong gian nhà nhỏ ở bên hông đình, ông bất động như pho tượng. Đêm nay ông ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh chậu hoa, chiếc đèn được đặt trên thành chậu.

 

- Sao bác không ở trong nhà. Sương xuống lạnh lắm!

 

- Hoa quỳnh sắp nở - Ông lão chỉ vào nụ hoa căng phồng màu sẫm mọc ra từ một ngấn ngoài biên lá quỳnh.

 

Chậu hoa lọt thỏm giữa khu vườn. Xung quanh nó là những gốc mai chiếu thủy, sung, bồ đề... sần sùi, vặn vẹo nhưng cành lá được tỉa tót cẩn thận. Ở vạt đất phía trái được ông lão xếp thành dãy dài là những chậu cúc vàng, cẩm nhung, tường vi, thược dược, mãn đình hồng... dịu dàng như cô gái dậy thì đầy vẻ tự tin khoe nhan sắc của mình và vô tư trước thời gian. Tất cả cái dáng vẻ phong trần lẫn mơn mởn đó được đẫm trong ánh trăng tạo nên vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa mềm mại.

 

Có lẽ chính vẻ đẹp đó làm tăng thêm nỗi háo hức chờ đợi cái khoảnh khắc hoa quỳnh nở trong lòng ông lão. Khoảnh khắc huyền diệu của cái đẹp sắp bùng vỡ trong sự tĩnh lặng. Chị hiểu ra khoảnh khắc ấy thiêng liêng với ông lão vô cùng. Nhờ nó mà ông có những phút giây thanh thản, dìm khuất được dù trong chốc lát nỗi ám ảnh khủng khiếp của chiến tranh cứ thường trực hiện đến giày vò ông. Chị không có quyền phá vỡ nó dù hơn ai hết lúc này chị cần ông san sẻ. Từ trong sâu kín của tâm hồn từ lâu chị xem ông là hiện thân của ông nội, bởi dù không nói ra nhưng chị hiểu là ông cảm thông được nỗi buồn của chị. Đối với ông nội, khi chị nhận ra điều này thì đã muộn màng.

 

Đêm nay chị muốn nói với ông sự việc vừa mới xảy ra trong ngôi từ đường của gia tộc chị. Vẫn biết rằng chị sẽ nhận từ ông lão thái độ im lặng trong dáng ngồi bất động nhưng nói với ông là chị cảm thấy vơi được phần nào. Bây giờ chứng kiến nỗi đam mê quá thuần khiết của ông chị phải cố kìm nén lòng mình để không vì sự vô tình mà phá vỡ hạnh phúc hiếm hoi ấy.

 

... Thái đã đóng vách be ngăn đôi ngôi nhà, mỗi bên một căn rưỡi. Vợ chồng con cái nó ở một bên, còn chị với người anh một bên. Sự việc tiến hành sau cuộc họp gia đình trưng cầu ý kiến, nó được một phiếu thuận của người anh. Giống như lần cãi nhau với chị về việc phá bỏ chiếc bàn đá anh Hai chị cũng dành phiếu cho nó sau một chầu nhậu thỏa thuê. Từ khi đi học tập cải tạo về anh đã đắm mình trong men rượu. Anh thờ ơ với tất cả chỉ trừ mỗi việc là háo hức trông chờ ngày đi Mỹ theo diện H.O. Ý thức được rằng mình chỉ là kẻ ở tạm nên anh đã phó mặc và sẵn sàng chấp nhận yêu cầu của Thái để được nó cung phụng đầy đủ theo nhu cầu của cơ thể anh đòi hỏi. Thái thì vin vào sự biểu quyết ấy và yên tâm làm theo ý muốn vì đó là sự biểu hiện của tính công bằng. Nó nói: "Chân lý là ở số đông và số đông thể hiện quyền dân chủ. Tôi chỉ là người thực thi quyền dân chủ đó".

 

Dù trong đầu đầy ắp những suy nghĩ ấy nhưng chị lại hỏi ông lão một câu chẳng ăn nhập gì khi chợt thấy chậu cây xanh đặt ở hốc trũng luôn ẩm ướt mà dưới ánh trăng chị chỉ thấy lờ mờ:

 

- Bác không đem cây đó ra ngoài này thoáng hơn?

 

Lão Mạnh thoáng nhìn theo tay chị rồi lại quay về với nụ quỳnh.

 

- Mỗi loài cây có chỗ sống phù hợp với nó. Với loại gừa hay cây xanh đó chỉ tốt tươi nơi ẩm thấp, đem nó ra chỗ khô ráo sẽ bị còi cọc ngay, có khi không sống được. Giống như loài chùm gởi cháu có thấy khi nào bám rễ được trong đất đâu? Cũng như hoa quỳnh đây nó chỉ nở lúc giữa đêm thôi!

 

Ôi, ông lão vẫn không bứt khỏi nỗi đam mê chờ hoa quỳnh nở. Còn chị vẫn không buông bỏ được hình ảnh tấm vách ngăn cùng tiếng búa đóng đinh chan chát lúc sáng. Chị cũng không buông được hình ảnh chiếc bàn đá mà em trai chị, gọi là tận dụng chứ không phá bỏ như ý định ban đầu, đã cạy lên sắp thành bệ che chắn thêm cho chỗ khách tháo trong người ra thứ chất lỏng mà vừa nãy họ uống vào nhưng giờ đã biến chất cần thoát bớt để còn chỗ chứa thêm.

 

Nghĩ vậy nhưng chị lại hỏi ông lão:

- Sao bác biết đêm nay hoa nở?

 

- Tất cả đều có sự báo trước. Đây cháu coi - ông xách chiếc đèn lồng rọi gần nụ hoa - Nụ nó căng phồng hết mức, đường viền giữa những cánh hoa lộ rõ, còn ở đầu hoa đã hé. Chỉ cần để ý là sẽ thấy. Vậy mà có người cả đời cũng chưa hề thấy hoa quỳnh nở. Họ chỉ thấy nó đang búp rồi sáng hôm sau đã thấy nó tàn. Thật là bất hạnh!

 

Ông lão đêm nay lạ quá. Chị không ngờ.

- Bất hạnh cho ai, cho người hay cho hoa hả bác?

- Cả hai! Ờ, mà có khi đó là sự bất hạnh cho hoa thôi!

 

Có lẽ câu hỏi ngây ngô của chị vừa rồi vô tình chạm đến nỗi niềm sâu kín nào trong lòng, ông lão bỗng im lặng. Ông chăm chú vào nụ hoa trong dáng ngồi bất động. Chị cũng không dám hỏi thêm. Một lúc lâu sau ông ngước nhìn chị, mặt lộ vẻ căng thẳng:

 

- Hồi sáng bác nghe bên nhà có tiếng gì như là tiếng súng nổ?

 

Thốt ra mấy tiếng đó chợt tay ông lão run bần bật. Ông xách vội chiếc đèn lồng dò dẫm đi về phía sau đình.

 

*

*     *

 

Chuyện xảy đến với ông lão từ lâu lắm. Năm ấy làng quê chị luôn bị đe dọa bởi những tiếng súng nổ rộ. Thường sau những tiếng nổ là có người chết mà một lúc sau bọn công an Ngô quyền lôi xác về phơi giữa chợ. Có khi ông chứng kiến cảnh chúng lôi xềnh xệch những thân người đầy thương tích mà còn bị còng tay, bịt mắt. Rồi một ngày chúng chở máy chém về đặt tại ngôi đình nơi ông lão ngày đêm hương khói cho các vị thần. Đình làng biến thành nhà giam và pháp trường. Đêm đêm tiếng kêu gào bị tắt nghẹn giữa chừng bởi tiếng "phập" khô khan. Cứ mỗi lần như thế khoảng năm, mười phút sau là có hai thằng mang súng qua nhà bắt ông Mạnh. Chúng dẫn ông qua bên đình chỉ vào cái xác đã bị lìa đầu bảo ông vác. Một tên tay cầm đèn, tay kia xách chiếc đầu bằng nhúm tóc, một tên bồng súng phía sau ông đi ra phía sau đình, ra hiệu bảo ông quăng xác ấy xuống giếng hộc. Và khi cái thây người nhầy nhụa tuột khỏi tay ông rơi huỵch xuống đáy giếng, tiếp sau là tiếng "bụp" vang âm của xương sọ va vào thành xi măng thì ông không còn đứng vững nữa.

 

Việc ấy cứ lặp đi lặp lại từ đêm này sang đêm khác. Nỗi kinh hoàng càng lúc càng làm tứ chi ông rũ riệt. Phải uống vào mấy ly rượu ông mới có đủ can đảm bắt tay vào việc. Vậy mà tim ông cứ giật bắn lên mỗi lần nghe tiếng đập cửa rầm rầm cùng tiếng kêu: "Ông Mạnh... Ông Mạnh...". Tay ông bỗng run bần bật, cầm chai rượu rót tràn cả ngoài ly, có khi rớt xuống đất.

 

Đêm sao mà dài ghê gớm. Đã bao đêm rồi ông không hề chợp mắt. Những hình ảnh vừa qua cứ hiển hiện, quay cuồng. Điều duy nhất của ông lúc này là mong trời sáng. Chỉ khi mặt trời hé mọc lên thì thảm cảnh kia mới ngừng lại. "Ừ, bóng tối là của chúng bây, còn mặt trời là của tao! Mặt trời là của tao!" - Ông luôn lẩm nhẩm như vậy.

 

Những cái xác lìa đầu chất chồng dưới giếng. Ban ngày người thân đến nhận moi lên để rồi đêm đến nó lại chứa thêm những xác mới. Cũng do chính đôi tay ông lão quăng xuống... Như ngây dại, cứ chốc chốc ông xách đèn lồng đi ra giếng rọi xuống. Sự thật mà! Xác họ còn đó. Chính ông vác họ quăng xuống lúc nãy... Phải rồi, chuyện vừa qua đâu phải là giấc chiêm bao.

 

(Còn tiếp)

 

 

>> XEM TIỂU THUYẾT - HỒI KÝ CỦA TÁC GIẢ KHÁC  

 

 

 

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.