Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tiểu Thuyết

Thy Ngọc - Lời hứa với ngày mai

25.12.2012-12:30

 

Nhà văn Thy Ngọc tặng sách cho độc giả nhí - Ảnh: Cao Xuân Sơn

 

>> “Ông Ngoại” Thy Ngọc mãi mãi ra đi

 

Lời hứa với ngày mai

 

 

NVTPHCM- Nhà văn - nhà thơ - hoạ sĩ Thy Ngọc vừa đi vào cõi vĩnh hằng. Tập hồi ký Lời hứa với ngày mai của ông như một tổng kết hành trình đời văn 66 năm phong phú với hàng trăm tác phẩm thuộc nhiều thể loại viết cho thế giới tuổi thơ. Tưởng nhớ ông, NVTPHCM xin trích một phần tập hồi ký độc đáo này trân trọng giới thiệu đến bạn đọc.

 

 

CHƯƠNG MỘT

- Tôi

- Phim mỗi chặng đường

 

TÔI

 

Thuở nhỏ, tôi không có góc học tập riêng. Góc học tập là một cái bàn chung của cả nhà, lúc là nơi tiếp khách, lúc là chỗ ăn cơm. Đến giờ học bài, mấy anh em xúm vào, chụm đầu dưới ánh đèn, ai xong trước thì đi ngủ.

Ban ngày, tôi thường ngồi đọc sách, báo chỗ có đặt chiếc chõng tre thấp, nhỏ ở hiên sân, lối xuống bếp. Quanh quẩn chỉ mấy cuốn sách cũ. Báo của các anh lớn, cũng chẳng mấy khi có số mới. Ngoài hiên sân thoáng mát, dễ buồn ngủ, tôi thường đánh một giấc ngon, dậy tắm rồi ăn bữa chiều.

Cuốn sách đọc mãi đến thuộc, là cuốn Vô gia đình dày cộm, bìa vừa sờn vừa rách, được dán những mảnh giấy cuộn thuốc lá bôi nước cháo, khô rồi vẫn nhìn lờ mờ hình in phía dưới. Tối nào tôi cũng xuống bếp với mẹ tôi, ngồi trên chõng tre, đọc mẹ nghe những trang tiếp nối từ hôm trước. Cả hai mẹ con lúc thì thương nhân vật Khả Dân, cậu bé mồ côi và bà mẹ nuôi tên là Tư đế mẫu, thương cả con chó theo gánh xiếc, nhớ cả tên nó là Khai Tị, thương đến nỗi hai mẹ con tôi đều ràn rụa nước mắt…

Những năm sau đó, lớn lên, học tiếng Pháp, đọc bản chính cuốn Sans famille của nhà văn Hector Malot, tôi mới biết tên chính “Khả Dân” là Rémi, con chó Khai Tị là Capi, bà Tư đế mẫu là Barbarin… Và mẹ tôi còn sống đến những ngày có bản dịch thật công phu của giáo sư Huỳnh Lý, một trong những cuốn sách dịch được tái bản nhiều lần. Tuy đã đi làm, thời giờ đâu rảnh rỗi như hồi còn là chú bé học trò xuống bếp đọc cho mẹ tôi nghe những trang Vô gia đình, nhưng thỉnh thoảng hai mẹ con tôi lại sống những giờ phút đọc và nghe sách như bao năm đã qua quá lâu. Tôi đặt lên bàn tay khô nhám của mẹ cuốn sách Không gia đình mới tái bản lần nữa, cuốn sách thơm mùi giấy mực mới xuống khuôn, bìa dày, màu sắc tươi sáng, khoe mẹ, hồn nhiên như tôi đang là đứa bé tiểu học: “Con vẽ đấy mẹ ạ!”. Rồi tôi đọc đoạn hai mẹ con biệt ly nhau. Mẹ tôi lại ngẩn ngơ như đang chứng kiến cảnh chia tay não lòng đó.

Riêng tôi, im lặng với một suy nghĩ khác về nghề nghiệp. Bao giờ mình viết được một cuốn truyện xúc động lòng người như vậy, in đi in lại như vậy, không riêng in ở trong nước mà còn xuất bản ở nhiều nước khác? Lúc bấy giờ, tôi tin cả số lượng lẫn chất lượng các cuốn sách viết cho thiếu nhi đều tăng gấp bội, nhất là cá nhân tôi cũng có thể có phần đóng góp.

Từ ngày có sách Kim Đồng, các cháu thiếu nhi có thói quen hỏi thăm các cuốn mới đọc từ phần giới thiệu những cuốn in lần trước. Chỉ nghe những lời hỏi đó, tôi tin các cây bút đang viết những trang dở dang phải nóng lòng sốt ruột muốn hoàn thành tác phẩm, đem đến ngay nơi xuất bản.

Nhà xuất bản Kim Đồng như được động viên, từ công tác bản thảo đến khâu in, phát hành đều tăng tốc độ.

Công đoạn nào để làm thành một cuốn truyện in cũng đều cần và quan trọng cả, nhưng nhà xuất bản chính là bộ óc tổ chức, đứng mũi chịu sào, cần thiết bậc nhất. Vui sao, bây giờ đã có thêm những tờ báo, những nhà xuất bản quy mô phục vụ nhu cầu đọc của trẻ em.

Tập hồi ký của tôi chỉ là một sản phẩm bình thường, nhưng tôi phải vượt nhiều khó khăn mới viết nổi từ đầu đến cuối. Đó là kết quả của một sự cố gắng cá nhân. Tôi có được niềm vui của người sản xuất chân chính chứ không chỉ đợi đi mua, đi kiếm tìm, như hồi còn nhỏ.

Do đã có thời gian làm việc ở nhà xuất bản Kim Đồng nên tôi thường nhắc đến một “thương hiệu” đã quen, dù trong lòng thấy càng có nhiều đơn vị sản xuất, càng mừng.

Nói về mình là điều tối kỵ - lại nói về mình ở trường hợp phải nói như tôi - thật là không dễ chút nào. Tôi cứ ngồi xuống, đứng lên ở bàn viết của mình. Cũng giống nhiều lần sáng tác khác thôi, nhưng lần này, ở trước mặt tôi là cuốn truyện đồng thoại Lớp học của anh bồ câu trắng, phần lưu chiểu có ghi: “Xong ngày 08/08/57. Nộp lưu chiểu tháng 08/57”. Đó chính là một trong 8 cuốn mà Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành đầu tiên sau ngày ra mắt, 17 tháng 6 năm 1957. Nghĩa là, cuốn sách này của tôi được Kim Đồng phát hành chỉ sau 52 ngày kể từ ngày thành lập. Căn cứ ở phần lưu chiểu thì biết vậy cho đúng nguyên tắc, còn cuốn mà tôi đang có đây, của chính tôi ghi “Hà nội, 12 - VIII - 1957”, có chữ ký của tôi và đóng dấu chữ “nho” tên tôi - một kiểu lưu niệm thời đó, nay chẳng mấy ai dùng. Cuốn này có đóng dấu “Bản đặc biệt số 1 TTTN”, do nhà in xuất giấy “croquis” in riêng cho tôi (nói cho chính xác là do hai anh có tên là Đang, là Thanh, công nhân nhà in Lê Cường, phố Hàng Bồ, tặng cho tôi làm kỷ niệm giữa nhà in và khách hàng có quen biết từ những lần in tác phẩm của tôi khi chưa có Nhà xuất bản Kim Đồng).

Sau 50 năm với biết bao biến chuyển, trải bao mưa bom, bão đạn khốc liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ, cuốn sách nhỏ xíu, mỏng mảnh với 48 trang khổ 13x19cm vẫn còn đây, khiến tôi ngồi thần thừ, với bao cảm xúc. Lần lượt, hình ảnh các anh Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng… hiện lên trên trang sách, cùng bao anh chị có mặt ở Nhà xuất bản Kim Đồng, lúc đó và sau này.

Các kỷ niệm cứ lần lượt lướt qua như một cuốn phim...

 

 

PHIM

Những hình 1

 

Đó là cuốn Vỡ đê, truyện viết cho thiếu nhi, do Nhà xuất bản Cộng Lực, số 6 phố Hàng Cót, Hà Nội, in và bán năm 1943, khuôn khổ tương đương 13x19cm. Tôi không nhớ thật chi tiết, nhưng khoảng cỡ đó. Bìa và minh họa Vỡ đê là của Vân Sơn, người bạn cùng phố của tôi. Anh vẽ vài cuốn nữa, rồi bẵng hẳn, cả người và nét vẽ.

Đó là cuốn truyện đầu tiên của tôi, viết xong là được nhà xuất bản in liền, khiến tôi không kịp sững sờ, ngồi trong lớp học cứ ngượng nghịu với các bạn.

Sau này, nghĩ lại, nếu tôi mắc cỡ, thì nên nghĩ tới một bút danh, chỉ hơn tôi có một tuổi, hồi đó đã có sách bày ở các tủ kính hiệu sách gần trường tôi học: Nguyễn Đình Thi có tên ở các cuốn triết học, bàn về triết học của Kant, của Nietzche… mà tôi chẳng hiểu nổi nội dung.

Bởi vậy, mười bảy, mưới tám tuổi như tôi, in được cuốn truyện thiếu nhi, đâu có điều gì phải lạ lùng, ngạc nhiên? Nhưng các bạn thì trầm trồ khen ngợi.

Tôi kể lại việc được in cuốn truyện thiếu nhi đầu tiên vào những năm 42, 43, khi tôi mười bảy, mười tám tuổi, là để nhớ tới hai nhà văn ảnh hưởng đến tôi từ thuở đó: nhà văn Tô Hoài và nhà văn Nam Cao.

Tại sao vậy? Những năm đó, tôi đang học ban Thành Chung, tương đương cấp trung học cơ sở bây giờ. Gần trường tôi học, có nhà xuất bản Tân Dân, in các loại sách báo văn học như Phổ thông bán nguyệt san - như tên gọi, nửa tháng ra mắt một cuốn khoảng 100 trang, rồi Những tác phẩm hay, công phu hơn, dày dặn hơn. Nhà Tân Dân còn phát hành cả một tờ tuần báo, có tên Tiểu thuyết thứ Bảy và loại trruyện cho thiếu nhi có tên sách Truyền Bá.

Hai nhà văn Tô Hoài, Nam Cao có các truyện ngắn in ở báo Tiểu thuyết thứ Bảy, có truyện cho người lớn, lại viết cả cho thiếu nhi nữa. Cuốn của Tô Hoài được bạn đọc nhớ tới bây giờ, được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài là cuốn Dế mèn phiêu lưu ký, bấy giờ in đợt đầu có có tên là “Con dế mèn”, vài chục trang, do họa sĩ Nguyệt Hồ - Vũ Tiến Đa vẽ bìa.

Chúng tôi thường đi học sớm để còn tranh thủ đến Nhà in Tân Dân, số 93 Hàng Bông, “coi cọp” mấy tấm bảng chăng lưới sắt đủ đọc được, các trang báo Tiểu thuyết thứ Bảy, do đọc luôn mà nhớ được một số tên của các tác giả có bài đăng. Những tác giả trước cả Tô Hoài, Nam Cao, kể ra thì rất nhiều, như Thanh Châu, Vũ Bằng, Trúc Khê, Lan Khai, Ngọc Giao, Vũ Trọng Phụng, Thâm Tâm… người đã qua đời, người đã ngưng viết vì lý do nào đó. Tôi còn nhớ cuốn Cún số 5 của Thanh Châu, cuốn truyện thiếu nhi in lại năm 1957 (do Thy Ngọc vẽ bìa).

Thời điểm năm 1957, mới thành lập, nhà xuất bản Kim Đồng đã in cỡ nằm ngang tập truyện nhỏ xinh đó. Tôi nghĩ thật ấm áp biết bao mối duyên văn học này. Những tập sách viết cho thiếu nhi, dù chỉ viết về một chú chó có tên là “Cún số 5” hoặc về một chú dế mèn, chú dế trũi… thôi, tưởng là nhỏ bé, nhưng vẫn sống đời đời với tầng tầng, lớp lớp độc giả.

Nếu từ người viết, người biên tập đến người đọc…đều có cảm nhận đó, thì sáng tác cho thiếu nhi càng có một cái nền vững chãi, các phụ huynh khỏi lo thiếu thời gian đi chọn sách đọc ngoài giờ cho con em mình.

Tôi phải cảm ơn rất nhiều khi nhắc đến Nhà xuất bản Cộng Lực đã nghĩ tới việc in loại sách văn học cho tuổi nhỏ, có tên Sách Hoa Mai. Từ loại sách văn học nhỏ này mà tôi được biết, được gặp hai nhà văn Tô Hoài, Nam Cao - hai cây bút có ảnh hưởng tới tôi suốt cuộc đời sáng tác văn chương.

Tôi gặp nhà văn Tô Hoài lần đầu khi tới Nhà xuất bản Cộng Lực để nhận nhuận bút cuốn Vỡ đê nhỏ bé của tôi. Một người gầy gò, có nét môi cười mỉm, gật đầu chào lại khi đang bước ra cổng; lúc tôi được ông Lê Roãn Riệu - Tổng biên tập trả lời câu hỏi: “Ai đó?” - “Ông Tô Hoài!”. Tôi quay nhìn theo chỉ còn bóng lưng khuất hẳn bờ tường.

Tôi gặp nhà văn Nam Cao thuận lợi hơn, cũng tại phòng làm việc kiêm nơi tiếp khách của Tổng biên tập. Khi tôi đang ngồi nói chuyện với ông Riệu thì một vị khách bước nhẹ, đứng lại ngoài bậc cửa. Ông Riệu mừng rỡ, xin lỗi tôi, rồi nhanh nhẹn ra tận cửa, cầm tay người khách dẫn vào.

Lời giới thiệu rõ ràng, làm tôi bối rối:

- Tôi xin giới thiệu, đây là bác Nam Cao, tác giả cuốn Người thợ rèn và đây là bác Nguyễn Ngọc, tác giả cuốn Vỡ đê…

Tôi bối rối, bởi bàn tay ấm áp của nhà văn Nam Cao, người mà trước khi gặp, tôi đã được ông Riệu viết thư, có đoạn nói rằng: “Có nhà văn tên là Nam Cao khen ngợi cuốn Vỡ đê của bác. Ông Nam Cao thích cốt truyện và những những nhân vật nghèo khổ đó, gửi lời mong bác viết đều và viết nhiều về các tầng lớp cùng khổ, nghèo nàn…”.

Tuy năm đó, tôi mười bảy, mười tám, nhưng Tổng biên tập cứ gọi là “bác” - chẳng lẽ trông tôi già thật vậy ư? Nay, đứng trước nhà văn Nam Cao, bậc đàn anh, tôi vẫn là “bác”, khó nghe quá. Tôi ngượng mãi, cho đến khi chuyện trò đã êm quen, khi ông Riệu nhờ tôi làm người dẫn đường, đưa nhà văn Nam Cao đến gặp nhà văn Lê Văn Trương tại nơi ở riêng, tôi tự nhiên hẳn. Lúc ấy tôi mới biết nhà văn Nam Cao từ Phủ Lý lên lần này là đã có thư trước, nhờ ông Riệu dẫn tới gặp nhà văn Lê Văn Trương để cảm ơn sự giúp đỡ rất văn học của một nhà văn lớp trước đối với một nhà văn đi sau, qua cuốn Đôi lứa xứng đôi - đó là tác phẩm Chí Phèo, in đúng tên năm 1957. Nhà văn Lê Văn Trương đã viết lời tựa cho tập truyện ngắn của Nam Cao và đem tới Nhà xuất bản Đời Mới cũng ở phố Hàng Cót, Hà Nội, xuất bản lần đầu. Nhà xuất bản rất mừng vì có cuốn sách do nhà văn “bậc nhất” lúc bấy giờ giới thiệu, nhất định là bán chạy. Còn đối với một nhà văn đang cần nhiều độc giả như Nam Cao, vừa mới mẻ, lại vừa nghèo, thì việc in được một cuốn sẽ bán được, sẽ có nhiều người biết đến, vui lắm chứ!

Nhưng tôi mới là người vui nhất. Tôi dẫn Nam Cao ra bến đỗ của chuyến tàu điện từ phía Hàng Đậu chạy tới chợ Đồng Xuân, để tới bến đỗ ngã tư Trung Hiền; sau đó đi chặng chợ Bạch Mai. Thật ra, nếu con đường không xa và nếu nhà văn Nam Cao còn nhiều thời giờ thì chúng tôi lội bộ, nói được nhiều điều. Nhưng có thể Nam Cao giải quyết xong mọi việc thì sẽ trở về Phủ Lý ngay, nên đi tàu điện nhanh hơn, lại chỉ tiêu mất vài ba xu.

Tiếng tàu điện ồn ào, từ bánh sắt rít trên đường ray, từ tiếng chuông leng keng liên hồi dưới chân người lái… và các chặng khách lên, khách xuống, làm câu chuyện của chúng tôi luôn luôn phải chắp nối, vá víu. Dù sao, với tôi, trước khi cùng xuống ở bến tàu điện ngã tư Trung Hiền để từ đó đi ngược trở lại một quãng là tới chỗ rẽ về phố Chùa Vua có nhà số 38, nơi ở của nhà văn Lê Văn Trương, thì tôi đã nhớ được vài tên của các con nhỏ của anh bấy giờ là cái Hồng, bé Thiên…, biết được cái áo sơ mi Nam Cao đang mặc là mượn của người bạn dạy học, gần nhà, mỗi khi có việc cần phải đi Hà Nội…

 

 

Những hình 2

- Cách mạng tháng Tám và quốc khánh 2-9-1945

- Nam bộ kháng chiến 23-9-1945

- Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946

- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 7-5-1954

 

…Năm 1945, tôi vừa tròn 20 tuổi, vẫn còn được đến trường. Nhưng ngoài sách vở, một số học sinh chúng tôi còn có tờ báo Cứu Quốc trao tay bí mật, đọc lén cách nào thì tùy sáng kiến mỗi người, miễn là đừng để “thộp ngực”. Các cuộc diễn thuyết chớp nhoáng ở Hồ Gươm, trên các chuyến tàu điện, trong các sạp bán hàng các chợ. Luôn luôn có các tờ giấy to dán ở các khoảng tường rộng, hoặc các băng vải chăng từ cột điện này sang cột điện kia dòng chữ đủ kiểu, đủ cỡ: “ỦNG HỘ VIỆT MINH”.

Chúng tôi bớt túm tụm coi cọp tờ Tiểu thuyết thứ Bảy như trước đó nữa. Như tôi, không phải do đã ngán theo bước các nhà văn như Tô Hoài, Nam Cao… mà tôi đã mượn được để đọc ở nhà, tuy có chậm, nhưng rất đều, từng số báo đủ trang hẳn hoi, tờ báo có các bút danh quen thuộc đó, từ người bạn thật đặc biệt: cậu Nguyễn Tuấn San, em ruột nhà thơ Thâm Tâm, ở gần nhà tôi, lại cũng có sách in, chẳng kém gì nhau đâu. Cậu San lấy bút danh là Thệ Thủy. Tôi mến cậu không phải vì cái tên sặc mùi “con gái” ấy, mà thân với Thệ Thủy do chính cậu là tổ trưởng tổ học sinh Cứu Quốc khu vực Bạch Mai, vẫn thường trao lén các tờ báo Cứu Quốc cho tôi đọc và tôi chuyền tay cho các bạn tin cậy khác ở trường tôi học. Cậu San đã nghỉ học lâu rồi.

Thế rồi cách mạng tháng Tám! Chúng tôi đã hoạt động bí mật trong đoàn thể Cứu Quốc, cũng đã hiểu đôi chút những gì sẽ xảy ra, nhưng sáng ngày 17 tháng 8 năm 1945 ấy cũng làm chúng tôi như ở trên trời rơi xuống: Mặt trận Việt Minh đã biến cuộc mít tinh thanh niên do chính quyền hồi ấy tổ chức tại quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội thành một cuộc biểu tình rầm rộ, sau khi đã chủ động đăng đàn diễn thuyết động viên bà con tham gia, chăng cờ thật lớn phủ trên phía mặt tiền nơi mít tinh. Cờ đỏ sao vàng bỗng rực lên từ trong quảng đại quần chúng. Người ta công kênh nhau cho cao hơn và rầm rập từng đội ngũ tỏa ra khắp ngả…

Tôi giơ thẳng hai tay, vài bước đi lại nhảy vọt lên cho cao hơn, cao nữa, lá cờ không cán, có ngôi sao năm cánh mập, may tay chứ không bằng máy khâu. Lá cờ do cậu Thệ Thủy đưa cho, trước đó được cậu giấu sẵn trong áo có thắt lưng quần nịt chặt từ nhà. Trận mưa bất thường của tháng tám ào xuống. Chỉ một lúc sau, mặt tôi nhuốm màu đỏ của phẩm nhuộm cờ giỏ xuống, rồi áo ròng ròng như máu thấm.

…Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước.

Súng ngoài xa vang khúc quân hành ca…

Lần đầu tiên chúng tôi hát bài Tiến quân ca, cứ dựa tiếng nhau mà hát. Chặng đường từ Nhà hát Lớn qua hồ Gươm, theo đường tàu điện, chen chân chật ních khu Hàng Đào, Hàng Ngang vốn xưa nay chưa bao giờ rộng, thẳng đường Quán Thánh, ra hồ Trúc Bạch, vòng Ba Đình, trở về Tràng Thi, rồi từ đó từng đoàn theo khu cư trú mà về.

Chúng tôi xuôi theo phố Huế, chợ Hôm, chia tay ở khu Bạch Mai, từng nhóm rỉ tai nhau: “Vẫn phải hết sức bí mật. Tối nay họp tổ. Chuẩn bị sẳn sàng…”.

Chỉ một ngày sau đó, ngày 19 tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân thủ đô Hà Nội đã giành được chính quyền. Khí thế hào hùng, quyết liệt nhưng tránh được những cuộc đụng độ vũ trang.

Tổ học sinh Cứu Quốc khu Bạch Mai được chỉ định canh giữ khu có Sở Liêm Phóng thành phố, đường Trần Hưng Đạo. Tôi rất mừng được làm việc với cậu San. Chúng tôi giúp các cán bộ có trách nhiệm gói ghém, bảo quản các tài liệu địch chưa kịp phân tán. Chúng tôi được dịp biết tới hồ sơ về các nhà hoạt động chính trị, cách mạng; những ảnh chụp chân dung có đeo áo số, chụp thẳng, chụp nghiêng, chụp sau với đủ con số về kích thước…

Việc làm mê mải, túi bụi, đến độ phải bình chọn xem ai sẽ được đi dự Lễ Quốc Khánh tiến hành ngày mùng 2 tháng 9, bởi nhất định ngày ấy sẽ có mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa từ chiến khu Việt Bắc về tới…

… Tôi không nhớ thật kỹ ngày tôi đến nhận nhiệm vụ làm thư ký riêng cho Bộ trưởng Bộ Thanh Niên Dương Đức Hiền trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như thế nào, chỉ biết một số học sinh Cứu Quốc chúng tôi được lựa chọn, phân công, mỗi người một nhiệm vụ gì đó, tương tự như tôi vậy.

Tôi muốn nhắc việc này không phải để khai một bản lý lịch, mà từ việc tôi làm thư ký cho Bộ trưởng Bộ Thanh Niên, lại là một điều lý thú cho sau này, mỗi khi mở trong lưu chiểu một cuốn sách nào đó của Nhà xuất bản Kim Đồng có dòng địa chỉ “… 55 Quang Trung - Hà Nội …”. Tôi lại nhớ như mới đâu đây, tôi ở một không gian “phòng” như hồi năm 1945 cùng gia đình Bộ trưởng, gồm vỏn vẹn có hai người.

Hàng ngày, Anh Dương Đức Hiền và chị Thanh Thủy, mỗi người đến nơi làm việc ở chỗ khác. Anh dùng cơm trưa ở bếp tập thể Bắc Bộ phủ, bữa chiều mới có mặt ở 55 Quang Trung. Tôi cũng theo anh, sinh hoạt như thế.

Khu nhà 55 Quang Trung hồi 1945 ấy, trước đó đã có thời gian do quân ô hợp của Tàu Tưởng đến trú, ăn ở bẩn thỉu, rác rưởi đến khiếp.

Khi chúng tôi tới, phải tổng vệ sinh nhiều buổi. Những mảng tường phía 15 Hồ Xuân Hương bị phá nham nhở, rào qua loa bằng dây thép gai.

Ngoài anh chị Bộ trưởng, chỉ còn chú nấu bếp và tôi, muốn làm một việc gì đó, quanh đi quẩn lại vẫn chỉ có hai người “nam nhi chí khí” ấy. Thời gian ấy là phải canh phòng cho cẩn thận. Cũng may, chiếc ô tô mượn được để Bộ trưởng dùng, cứ chiều về là anh lái xe lại cho chạy về gara nhà chủ, đỡ lo.

Chú nấu bếp và tôi bỗng nhiên trở thành hai chiến sĩ tự vệ thật đặc biệt. Ăn xong bữa tối, thường là tôi đeo khẩu súng trường, không biết Bộ trưởng mượn được ở đâu, đi đi, lại lại từ trong sân ra hè đường, từ cổng lên các bậc thềm, từ phòng giữa xuống bếp. Súng không lắp đạn. Bắn ai cơ chứ? Cách đây mấy biệt thự, tuy vẫn còn lính Tàu, nhưng khí thế cách mạng những ngày qua cũng có ảnh hưởng. Tôi đứng ngắm cảnh hồ Ha-le là chính, cho đến chín, mười giờ tối là lên phòng riêng, phía phải, tầng hai, bật đèn, đọc lại tờ báo hàng ngày.

Thêm một lý do tại sao phải canh gác như vậy, là vì tin chiến sự miền Nam. Quân đội Anh, Ấn ở Sài Gòn đã hỗ trợ quân Pháp âm mưu chiếm lại miền Nam, chống phá chính quyền cách mạng non trẻ.

…Tiếng súng vang sông núi miền Nam

Ấm đất nước Việt Nam

Ta muốn băng mình tới phương Nam

Quyết giết quân tham tàn…

Và thế là tôi băng mình tới phương Nam… cùng anh bạn Tuấn San – người có bút danh Thệ Thủy khi anh in cuốn sách thứ nhất hồi chưa Cách mạng tháng Tám. Anh viết về một con vịt - chẳng biết có như con vịt xấu xí của Andersen sau này tôi mới đọc không - chỉ biết người em tài hoa của nhà thơ Thâm Tâm mà tôi vẫn coi cọp báo Tiểu thuyết thứ Bảy để được thuộc cả mấy bút danh khác là Tô Hoài, Nam Cao,… người em ấy đến năm 1958 đã trao cho nhà xuất bản Kim Đồng một bản thảo thật là đặc sắc. Cuốn sách sau đó được in đi in lại nhiều lần, có tựa đề mà nhắc tới, bạn đọc đều công nhận là hay, cuốn Hai làng Tà Pình và Động Hía. Cuốn sách có 36 trang thôi, nhưng là một trong số không nhiều cuốn viết về miền núi rất thành công của văn học thiếu nhi. Tuấn San không ký tên là Thệ Thủy như ngày nào mà đổi hẳn thành bút danh mộc mạc, khô khan: Bắc Thôn. Hỏi anh tại sao, anh cười: “Tại sao? Biết làm sao bây giờ?”.

Bắc Thôn còn có cuốn Vượt suối nâu, cũng in lần thứ nhất năm 1958. Cuốn sách đó, tôi có đề nghị vẽ bìa, vẽ minh họa để làm kỷ niệm với người bạn nhiều kỷ niệm thời học sinh, thời hoạt động cách mạng, thời viết văn, nhất là những ngày ở chiến trường phía nam. Những đêm văn nghệ phục vụ chiến sĩ, anh ngâm thơ, giọng vang và ấm, nét mặt thật truyền cảm:

…Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Khán giả nín lặng hồi lâu rồi tiếng vỗ tay trào lên như sóng biển xô bờ. Từ Thiếu tướng Tổng tư lệnh Nguyễn Sơn - con người của Vạn lý trường chinh, có tiếng là nghiêm nhưng lại rất chăm chút phong trào văn nghệ - đến “ba quân” đang ngồi bệt trên cỏ cũng đứng hẳn lên, hoan nghênh chàng Thệ Thủy, lúc này đứng cúi đầu khiêm tốn.

Chúng tôi bất ngờ được quay lại miền Bắc do Hiệp định mùng 6 tháng 3 năm 1946.

Anh Đỗ Trọng Giang từ tòa soạn báo Dân Chủ - tờ nhật báo miền duyên hải của mặt trận Việt Minh ở đường Lạch Tray, Hải Phòng - lên tận Hà Nội xin tôi về với mong muốn đào tạo tôi thành một phóng viên báo chí thực thụ. Khi ấy, tôi mới hơn hai mươi tuổi, đang sung sức. Tình hình lại đang rất cần những bài báo nóng hổi, phù hợp với mong muốn của độc giả. Những ngày ấy, xe liên kiểm Việt Pháp rú còi liên tục trên các ngả đường, báo trước ngòi lửa có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Rõ ràng là như vậy. Tòa soạn báo Dân Chủ bị cài bom, nổ tung vào một buổi gần giờ nghỉ trưa. Chỉ sập có gian nhà chính, mất hết loạt bài vở đang lên khuôn cho số báo hôm sau và các tư liệu nghề nghiệp. Tầng dưới là phòng cơm nước. Có nghĩa là bữa cơm trưa ấy, chúng tôi nhịn. Nhưng may thay, cả tòa báo không một ai bị thương tích. Những bài mất rồi được phân công nhanh, viết lại, còn nóng hổi hơn bài bị vùi trong gạch vữa. Cả Hải Phòng và các vùng lân cận như Đồ Sơn, Quảng Ninh, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông, xa hơn nữa là Móng Cái, phía trong là Thủy Nguyên... sáng hôm sau đã có báo Dân Chủ như mọi sáng bình thường.

Nhưng đến tháng 11 năm ấy, giặc Pháp đã thực sự khiêu khích, nói thật chính xác, chúng đã nổ súng...

Một tháng sau, ngày 19 tháng 12 năm 1946. Sẩm tối, cả Hà Nội ầm ầm những loạt đại bác ngay ở nội thành.

Cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp của dân tộc Việt Nam thắng lợi với trận Điện Biên Phủ vĩ đại vang dội năm châu bốn biển, kết thúc ngày 7 tháng 5 năm 1954.

 

 

Những hình 3

- Gặp anh Nguyễn Huy Tưởng trên quê hương cách mạng

- Chiến sĩ lục quân khóa 5

- Nếu không phải là hai năm ấy

- Lại mưa về nguồn

 

Tôi không nhớ rõ ngày tháng, nhưng lần gặp anh Nguyễn Huy Tưởng ở mạn Thái Nguyên, trong phố Đu. Tôi nghĩ mình lại nhầm nếu gọi bản ấy là phố, nhưng lúc gặp là buổi tối trong gian nhà tre nứa miền núi, không phải là nhà sàn. Trong nhà không thắp đèn, nhìn quen mắt mà nhận ra nhau.

Bấy giờ, tôi là biên tập báo Quân Du Kích, tờ báo có anh chủ nhiệm tên là Đào Phan - rồi tôi mới biết tên thật anh là Đào Duy Dếnh, em ruột nhà sử học Đào Duy Anh. Anh Đào Phan nhỏ, gầy, mắt hiếng, mỗi buổi chào cờ nói thao thao, quyết đoán, dứt khoát. (Sau này, anh có tới chơi ở nhà 268 Nguyễn Đình Chiểu, TP.HCM, lại thấy anh dí dỏm, có duyên, bàn chuyện văn chương thấu đáo).

Nhà báo Pháp Léo Figuères sang Việt Nam để viết bài về cuộc chiến chống Pháp. Đồng chí Tố Hữu tiếp đón. Trước buổi đó, có một số văn nghệ sĩ và cán bộ đến chuẩn bị. Lúc ấy chưa thắp đèn. Và có lẽ cũng không phải đấy là địa điểm chính. Tôi chợt nhận thấy một người khá quen, khi cả hai cùng nhìn rõ nhau thì cùng “a” lên nho nhỏ:

- Anh Nguyễn Huy Tưởng!

- Ô! Tống Ngọc! Cơ quan nào vậy?

- Dạ! Quân Du Kích!

- Chỗ Đào Phan?

- Vâng!

Anh nắm nắm cánh tay tôi. Nhưng cả hai anh em chưa nói thêm được gì thì anh Tố Hữu cùng vài người khác đã vào gian nhà. Các anh đã trao đổi ngay những gì tôi không rõ nữa. Tôi chỉ còn biết lảng ra chỗ khác, và suốt từ đấy, tôi có ý tìm, cũng không thấy anh Tưởng đâu nữa.

Dù sao, tôi cho thế là may mắn. Đấy là lần gặp thứ hai. Tôi nhớ lần thứ nhất là hồi Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi tôi còn làm thư ký riêng cho anh Bộ trưởng Dương Đức Hiền. Một buổi cùng đi công tác, anh Hiền cho xe ô tô đến đón một vị khách mà trên chặng đường từ 55 Quang Trung đến đó, anh Hiền cứ cười bảo tôi:

- Em sẽ vừa ý đấy. Một nhà văn!

Khi người lái xe mở cửa xe phía sau, đã có anh Hiền, người khách tươi cười nhưng thật khẽ khàng chào tất cả mọi người, cảm ơn anh lái xe, rồi ngồi ngay bên anh Hiền sau khi bắt tay nhau. Anh Dương Đức Hiền nói ngay với tôi:

- Giới thiệu với em, đây là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Hôm nay, chúng ta sẽ đi Bắc Ninh để bà con cử tri tiếp xúc với ứng cử viên vào Quốc hội là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, đại biểu Bắc Ninh.

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng đưa tay bắt tay tôi làm tôi lúng túng, lí nhí thưa:

- Em chào anh ạ!

Đấy là lần gặp thứ nhất. Hai anh rì rầm nói chuyện. Tôi chỉ ngắm nhìn các nhịp cầu Long Biên và mặt nước sông Hồng như thoáng có sương bay nhè nhẹ.

Lần gặp thứ hai đột ngột và không lâu bằng. Các văn nghệ sĩ nào có dịp ghé qua báo Quân Du Kích đều “được” tôi hỏi thăm, nhưng không ai rõ anh Nguyễn Huy Tưởng ở địa điểm nào.

Tôi thường gặp họa sĩ Nguyễn Bích, thời gian ấy là họa sĩ của báo Quân Du Kich, tờ báo mà tôi đang làm việc. Tôi đoán chắc anh biết chỗ anh Nguyễn Huy Tưởng ở, nhưng anh rủ rỉ trả lời:

- Làm sao mà chỉ đường được. Chả có phố, cũng chả có số nhà. Chưa kể phải “bem1“!

Vui vậy thôi, chứ anh Bích cũng không biết, dù ở đây lâu rồi.

Rồi trôi qua mọi điều.

Chiến dịch biên giới. Phải chia nhỏ cơ quan.

Lãnh đạo thuận cho gia đình tôi, gồm vợ chồng và đứa con hơn ba tuổi vào khu bốn. Phương tiện: đi chân băng rừng.

Hiển nhiên tôi là chủ gia đình phải gánh mọi trách nhiệm. Tôi không hình dung nổi con lạc đà chuyên chở mấy tấn, mấy tạ mỗi chuyến vượt sa mạc nóng rang, cát bụi mịt mù. Tôi cũng chẳng nghĩ tới con vật tôi dễ gặp là con lừa, cứ lầm lũi cắm đầu chuyển tất cả các đồ đạc người ta chất lên tấm lưng có chừng mực của nó. Tôi mở mấy số báo có ảnh chiếc xe đạp thồ, để tự cảm thấy mình là chiếc xe đạp thồ, là sát thực tế nhất. Nào có nhiều đồ đạc gì, nhưng cũng phải một ba lô đầy chất trên lưng mình, một ruột tượng đầy gạo, tính toán sao cho đủ những ngày đường rừng núi chẳng có hàng quán gì đâu. Vợ tôi gầy yếu, đeo một túi dết đựng các thứ lặt vặt và cái xoong thổi cơm, vài ba cái bát, đũa, thìa, bao diêm. Củi và lá rụng thì rừng núi cho không rồi, chỉ lo mưa liên miên thì đói thật chứ sao.

Một cái ba lô nữa, vợ tôi thử đeo nhưng không được. Đó là thằng con lên ba. Thử mãi, cuối cùng chỉ còn cách làm cái địu, tôi đeo nó ở phía trước bụng; bụng con áp sát bụng bố, chân thòng sang hai bên. Có lúc nó muốn tiểu, không kịp tháo địu, nó đái luôn vào bụng bố, nóng như nước trà pha ủ trong giành. Những lúc ấy, nếu gặp suối thì giặt rồi phơi lên nón lá của mẹ nó, nếu không chỉ vắt khô treo lồng vào một cành cây gánh vai, hong gió…Vợ tôi lại không đi được dép, dù là kiểu gì và làm bằng gì; chỉ quen lê đôi guốc mộc quai ngang, liệu tính toán sao cho vừa chặng đường để kịp thay đổi, còn khó hơn so với chiếc xe đạp hay ô tô thay săm lốp.

Vậy mà, cứ thế, bộ ba dìu, cõng nhau đi từ rừng núi Thái Nguyên tới rừng núi Thanh Hóa. Và từ Quân Du Kích lại nhập lán trại của những người lính trường Lục Quân đang khóa đào tạo sĩ quan khóa 5 ở mạn Núi Nưa - mỗi khi mưa to, sét nổ long trời hơn giặc phóng rốc két.

Có lẽ những điều nhắc lại trong những ngày ở trường Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 5 là những buổi trình diễn kịch nói mà vợ tôi cũng đảm nhiệm một vai nữ không thể thiếu ở “đội kịch” này, lý do chỉ vì là một nữ diễn viên duy nhất. Tôi viết kịch bản từ gợi ý của nhà đạo diễn Lộng Chương; thêm các trao đổi của nhà thơ Nguyễn Xuân Huy, tác giả tập Nắng đào, Thềm nhà cũ một thời được ca ngợi, nhất là qua những nhận xét tinh tế của nhà văn Hoài Thanh, Hoài Chân - tác giả tập Thi nhân Việt Nam, mái nhà của các nhà thơ Việt Nam từ những năm 40; ý kiến của anh Hoàng Linh, người có công kiếm tìm chúng tôi tại khu rừng thông Thanh Hóa. Đội kịch có vài ba cậu lính trẻ của trường Lục Quân nữa, trong số đó có cậu Bá, một “đối tượng” của nhà thơ Xuân Diệu khi đoàn công tác văn nghệ đến thành nhà Hồ mở một lớp huấn luyện văn nghệ cho trường, chúng tôi đều được dự. Thêm nhạc sĩ Tô Hải lúc đó là lính trơn nhưng có mấy ca khúc vui nhộn được anh em lính hát say sưa: “Bà ba không chồng mà đông con…”. Tới dự lớp còn có nhạc sĩ Trần Hoàn bấy giờ cũng mang áo lính.

Ban huấn luyện do các nhà văn Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Đồ Phồn, Trương Tửu phụ trách. Có một họa sĩ tôi chỉ còn nhớ tên là Cát, gầy gầy, có ria mép, lém lỉnh.

Không hiểu thế nào, trại văn nghệ này lại có một học viên thanh mảnh, trắng trẻo, cao cao, ở đơn vị cử tới hay tự ghi tên, cũng chẳng ai hỏi nhau, biết vậy thôi. Chàng học viên này được chú ý tới sau sự kiện một đám cháy nhỏ bùng lên trong xóm, anh chạy tới cứu chữa tận tình. Nhưng sự chú ý bộc lộ khi ban phụ trách trại đọc bài văn của anh. Đến phiên kiểm tra, nhà văn Nguyễn Tuân khen là “cây bút có triển vọng”. Bấy giờ, chúng tôi mới biết tên anh là Nguyễn Khải, hình như quê mạn Hưng Yên…

Còn cậu Bá ở Lục Quân, trắng, má còn lông tơ mịn, được mọi người chú ý ngay là vì chiều chiều thấy cậu được nhà thơ Xuân Diệu lững thững đi bên, nhẹ bước trên những lối lót đá của khu thành nhà Hồ. Đến học, tôi thoát khỏi cái nạn “được” cậu Bá này thổi còi giục dậy lúc bốn giờ sáng để tập thể dục, khi con trai nhỏ của tôi mới bốn tuổi đang ngủ ngon giật mình thức giấc, hoảng hốt như vừa qua cơn ác mộng. Tôi rất bực, khi nhớ tới mỗi bữa cơm đựng trong cái nắp tròn gọi là “gầu mên” có gờ cao 3 cm, bữa nào thức ăn cũng chỉ có con cá khô, mặn mòi, thô lố hai con mắt hạt đỗ. Món ăn hai vợ chồng tôi mua thêm cho cháu thường là đậu phụ, đem về luộc cho chóng được ăn, chấm muối trắng… Dù sao, đó là thời gian mà tôi được sống với các văn nghệ sĩ hàng đầu của Việt Nam, được học hỏi bao điều hay bổ sung cho vốn sống hạn hẹp của cá nhân mình. Sau này, khi nhà xuất bản Kim Đồng in cuốn Trung Thu, Trung Thu, tôi có một bài nho nhỏ được đăng, chính là nhà văn Nguyễn Tuân đã động viên tôi “ …viết cho bọn nhỏ đọc là như thế…” là đã có so sánh những gì tôi được ông đọc hồi ở thành nhà Hồ. Tôi cũng xúc động không kém, khi quân ta vào tiếp quản Thủ đô mùng 10 tháng 10 năm 1954, sau đó ít lâu, nhà thơ Xuân Diệu có đến nơi tôi ở, số 146 phố Huế, lúc tôi vắng nhà đâu đó, có gửi lại một mảnh giấy gỡ vội ở sổ tay, viết để lại mấy dòng, đại ý: “… Mình và Nguyễn Xuân Sanh đến thăm, nhưng Tống Ngọc vắng nhà.. Hẹn gặp…”, ký tên Xuân Diệu.

Tôi tiếc ngẩn ngơ, ân hận vì đã không có mặt để có dịp nhắc lại những ngày tôi được các anh hướng dẫn chỉ bảo ở thành nhà Hồ này.

 

 

Những hình 4

- “Người muôn năm cũ…”

- Từ thầy giáo dạy văn đến cây bút chuyên văn

- Nổi nênh con thuyền đã gặp nơi bến đậu.

 

Tổ công tác văn học ở nội thành Hà Nội những ngày trước chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 gồm một số anh em có những nghề không phải là viên chức ăn lương, hạn chế sự biết rõ nhau là ai dù người này cũng từng biết người nọ.

Tôi và anh Hoài Việt quen nhau từ những bài thơ đăng báo, rồi tôi mới biết anh là một nhà giáo dạy tư một vài môn xã hội. Có những lúc tôi đến nhà anh ở phố Hàm Long, có những lúc chúng tôi gặp nhau ở đâu đó trên đường phố. Cả hai cùng ít nói nhưng tôi ít nói hơn. Nhưng rồi chúng tôi thật hiểu nhau: “Phải làm gì đó cho Hà Nội yêu dấu của chúng ta… Những tin tức của Điện Biên Phủ đã càng rõ rồi đấy…”.

Chúng tôi có thêm những anh em khác qua các cuộc gặp nhau khác, các tín hiệu khác. Cuộc triển lãm tranh của Bùi Xuân Phái “bày chơi mời vài bạn hữu…”. Cuốn lý luận mới in của Hoàng Công Khanh từ nhà xuất bản Kuy Sơn mà ra… rồi dồn dập các cuộc triển lãm cá nhân của Văn Xương, của Đinh Minh, của Nguyễn Văn Bổng, của nhóm học trò họa sĩ Nguyễn Tiến Chung… như hẹn nhau, như được dịp gặp nhau tâm sự… Nói vậy thôi, phải rất thận trọng. Đưa hình của Bùi Xuân Phái vào đây.

Anh Hoài Việt có trách nhiệm về tôi, mách tôi một cách che mắt địch: ‘‘Có thể lọt vào hàng ngũ bọn nó, làm giáo viên văn học. Ngọc biết vẽ, kiêm luôn giảng viên hội họa, từ đó, ta giữ được học sinh. Bọn nó thất bại ở chiến trường, hẳn sẽ tìm cách lùa người đi di cư càng nhiều càng có lợi cho chúng ta. Ta phải giữ người của ta, giữ được các em học sinh là giữ được cả phụ huynh các em…’’.

Tôi hiểu ra điều đó.

Thế là tôi trở thành giáo viên môn văn các lớp cấp hai, ở một vài trường mà tôi có quen người này, người nọ.

- Thầy Ngọc có cuốn Cu Tý hay lắm!

- Thầy Ngọc làm thơ nữa cơ. Đã đọc tập Khúc ca thơ ấu của thầy chưa?

Học sinh của tôi kháo nhau. Những điều tôi nghe được về các cuốn sách in của mình, không phải chỉ làm tôi vui, mà cho tôi một điều yên lòng lớn. Các học sinh sẽ nghe tôi và sẽ che chở cho tôi nếu có địch dòm ngó. Thật ra, cuốn Cu Tý gặt hái được dư luận tốt. Các báo nội thành đăng nhiều bài ký tên của nhiều bè bạn văn nghệ, của các phụ huynh gần xa, hoan nghênh về tính giáo dục của cuốn truyện đang còn rất hiếm hoi trong môi trường xã hội loạn ly lúc đó. Thơ viết cho tuổi nhỏ càng thêm hiếm hoi. Có những bài viết từ Sài Gòn, cho tôi hiểu ở đâu đồng bào cũng hướng về chính nghĩa.

Riêng về nghề “thầy giáo” của tôi, nhờ đi dạy, tôi lại được thêm nhiều trường mời nhận giờ. Có trường níu vào giờ làm giáo viên chủ nhiệm. Đồng tiền kiếm được vẫn chật vật cho một gia đình có mẹ già, vợ là nội trợ và ba cháu lít nhít, nhưng tôi vui vì đã làm tốt nhiệm vụ.

Tin tức tôi vẫn nhận được đều qua tổ công tác, cho tới ngày cùng đồng bào Thủ đô đón mừng đoàn quân chiến thắng tiến vào tiếp quản Hà Nội. Có lẽ trong tiếng reo hả lòng hả dạ của muôn người, cũng có âm vang của cả gia đình tôi lúc đó.

Hoài Việt và tôi cũng như bao anh em văn nghệ sĩ khác luôn luôn tới các cuộc họp của ngành. Tôi được anh Hồ Dzếnh mời dự ở ngành văn cùng lúc với anh Lê Quốc Lộc mời dự ở ngành họa, thật là nhộn nhịp.

Nhưng lạ nhất là lúc tôi gặp anh Hồ Thiện Ngôn từ trụ sở Đoàn Thanh niên Lao động, số 60 Bà Triệu, sang trụ sở 51 Trần Hưng Đạo của Hội Văn Nghệ Việt Nam gần đó, tìm gặp. Anh là cán bộ Trung ương Đoàn lúc đó. Câu đầu, anh Ngôn nói:

- Tôi đã xin phép anh Tô Hoài để nói chuyện với anh hôm nay…

Anh Ngôn nói gì thêm lúc ấy tôi nghe câu được câu chăng do giọng miền Nam, nhưng nhắc đến anh Tô Hoài, tôi thật sự hồi hộp. “Người muôn năm cũ”, tôi chợt nghĩ vậy và nhớ những ngày “ coi cọp” báo Tiểu thuyết thứ Bảy phố Hàng Bông, ngày gặp nhà văn Nam Cao ở trụ sở sách Hoa Mai - Cộng Lực, thời gian mà các bút danh Tô Hoài, Nam Cao luôn luôn hiện trước mắt tôi và trong lòng tôi. Bây giờ lại được nghe có người nhắc đến tên nhà văn Tô Hoài - “người muôn năm cũ”, tôi sao xuyến, nôn nao.

- Vâng, tôi rất muốn gặp anh Tô Hoài.

- Tôi cũng đang định hỏi anh sẽ hẹn gặp anh Tô Hoài vào lúc nào và địa chỉ nhà anh ở đâu?

- Anh có thể cho tôi biết qua nội dung cuộc gặp đó. Còn tôi, tôi rất sung sướng nếu gặp được anh Tô Hoài.

Các buổi ban ngày tôi vẫn đi dạy học đều. Cứ mười phút của giờ ra chơi, trong khi học sinh nô đùa, thư giãn, thì những ai dạy học có giờ ở nhiều trường tận dụng mười phút đáng lẽ được nghỉ, mà cắm đầu cắm cổ đạp trọn quãng đường nối hai trường. Chỉ có giờ nghỉ lúc chín giờ sáng thì các trường thống nhất dành hai mươi phút cho chuyển dịch, có đỡ hơn một chút. Anh của nhà báo Đào Phan (tức Đào Duy Dểnh, em nhà học giả Đào Duy Anh, tôi đã viết ở phần trên) lại có người anh nữa mở trưởng tư thục, trường Long Biên, cách Nhà xuất bản Kim Đồng - 55 Quang Trung hiện nay - khoảng dăm nhà, cũng ở mé đường đó đi về phía Tràng Thi. Anh này tên là Đào Duy Phiên. Anh rất chiều tôi, xếp giờ sao cho phù hợp để mười phút đủ cho tôi còn thở ít giây, tiện nhất là giờ chuyển đến trường Tây Sơn của anh Trương Văn Minh ở đường Trần Nhân Tông, lối đi ngang qua Kim Đồng 55 Quang Trung; hoặc là giờ chuyển đến trường Tân Trào ngay góc Hỏa Lò, Hàng Bông Nhuộm. Khi khoảng nghỉ có được hai mươi phút, tôi chuyển từ Long Biên đến trường Thăng Long ngay giữa quãng Nguyễn Thái Học và Cửa Nam. Ôi, tha hồ mà thở. Dù sao, tôi vẫn nới cravate, rất bình tĩnh, nhìn các học sinh, vẫy tay thật nghiêm chỉnh:

- Các em ngồi!

Rồi giở vở soạn bài, lướt nhanh mấy dòng đầu gợi nhớ toàn bài, nhập tâm giảng thật thấm thía. Nếu là bài của một tác giả nhà văn, nhà thơ nào mà tôi có chân dung in ở báo hay sách, tôi đều vẽ to ở nhà, lúc giảng treo luôn lên bảng để học sinh ít ra cũng hình dung được đôi nét về tác giả. Cách dạy này của tôi được cả các thầy khác cổ vũ, nhưng đều kết luận: “Anh là họa sĩ mà. Ai làm thế được!”.

Các buổi ban ngày không phải hôm nào cũng kín giờ, nhưng hẹn gặp anh Tô Hoài với anh Hồ Thiện Ngôn thì không hẹn buổi ban ngày được. Nhưng riêng anh Ngôn lại đến tôi vào buổi ban ngày. Anh đến một mình, nói trước những dự kiến để anh Tô Hoài nếu có gặp khỏi phải nói những chi tiết đó. Chỉ biết, khi chia tay, anh Ngôn có vẻ quan trọng:

- Nhớ nha! Cần chuẩn bị để trường bố trí giảng viên khác. Thành lập cơ quan mới, phải có người đảm nhiệm việc này việc nọ, mà “ông” là một đó.

Nhà văn Tô Hoài không đến tôi một mình. Anh cùng đi với nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Tôi mừng đến nghẹn ngào. Hai anh hỏi tôi về các sáng tác đã in. Tôi e dè bày mấy cuốn của tôi đang có ở nhà. Các anh cầm lên khen đôi ba câu, so sánh giữa hình thức các cuốn in ngoài chiến khu và in trong Hà Nội.

Còn tôi, chỉ ngắm nhìn hai nhà văn, nhà thơ bấy lâu mình ngưỡng mộ, lúc ấy lại có thể lại ngồi gần mình như vậy sao? Anh Tô Hoài thì tôi đã đọc nhiều do luôn luôn đến nhà in Tân Dân “coi cọp” hồi còn đi học. Thơ anh Nguyễn Xuân Sanh thì quả là mới đọc rất ít, lại cách quãng, chỉ nghe những người am tường kể lại, nhưng nhớ mãi một câu thật khó hiểu là: “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”.

Anh Nguyễn Xuân Sanh nghe tôi nói, chỉ mỉm cười. Giọng miền Trung của anh như gió nhẹ, có nhạc, nhưng tôi phải thật lắng nghe mới rõ lời.

Các anh đến rất nhanh. Xuống cầu thang, ra đến vỉa hè, anh Tô Hoài nói thêm:

- Mình sẽ đến nữa đấy. Những gì mà Ngôn nói, bọn mình đang tiến hành, đang chuẩn bị. Sẽ bận lắm đấy. Ngọc gắng nhé.

Đúng là tôi phải cố gắng rất nhiều.

Gần cuối năm 56 ấy, gia đình tôi lại có thêm một cháu nữa. Sắp sửa chuyển từ nhà giáo sang nghề xuất bản sách, tôi cùng gia đình đặt tên cho cháu trai thứ tư này là “VĂN”. Riêng thâm tâm tôi, đó là lời hứa: “Từ nay cho đến cuối đời chỉ đeo đuổi nghiệp văn chương”. Lời hứa thật thầm kín, thật thiêng liêng, vì điều thiết thân, thực tế nhất là việc tới các trường đề nghị được giảm giờ lên lớp dần dần và nếu được chấp nhận thôi hẳn, tôi cũng thấy cần dứt khoát. Tôi vẫn soạn bài giảng thật kỹ, nhưng những lúc cả lớp cặm cụi làm bài tập, tôi không khỏi nghẹn ngào, đưa ngón tay gạt màng nước đang dâng lên khóe mắt. Với tôi, các em đều chịu khó nghe lời giảng dạy, có trường hợp thường hỏi thêm ngoài bài học. Dù sao, muốn chia tay được, phải là hết niên khóa, nghĩa là tới kỳ nghỉ hè này. Nghỉ dạy học là “ nghỉ” cả khoản tiền nuôi vợ con.

Tôi hiểu là nhà văn Tô Hoài còn đang giải quyết nhiều khúc mắc, đi lại như con thoi giữa cơ quan Hội Nhà Văn (lúc đó đang là Hội Văn Nghệ nói chung) và các cán bộ của Trung Ương Đoàn. Anh Hồ Thiện Ngôn đôi lúc lại nói một tin, có vẻ để tôi yên tâm, khuyến khích tôi nghiêng về phía xuất bản, nhưng cũng chưa dám thúc việc thôi các giờ dạy học. Gia đình thì tùy tôi, quyết định thế nào thì vẫn tôi là người đứng mũi chịu sào, trăm dâu đổ vào đầu tằm, chứ còn sao nữa.

Các anh, các chị tôi, mỗi người ở mỗi nơi, chẳng ai có thể giúp được gì cả, thư từ chỉ quanh quẩn những dòng hỏi thăm sức khỏe và mong cháu “hay ăn, chóng lớn’’.

Qua cái Tết cổ truyền, đầu tháng ba năm 1957, một buổi tối rét đậm, tôi đang chấm bài thì nghe tiếng cọt kẹt ở cầu thang gỗ. Tiếng động có vẻ người đang bước cố không để chủ nhân phiền lòng. Tôi vội ra mở cửa, dù chưa có tiếng gõ. Khách chính là nhà văn Tô Hoài. Tôi ngỡ ngàng một thoáng rồi reo lên như đúa trẻ đang mong đón mẹ về chợ.

- Thưa... Anh!

Đội mũ bê rê nhưng cứ nhấc khỏi đầu, anh Tô Hoài cười tủm tỉm như nụ cười tôi vẫn thường nhận khi gặp anh ít lâu nay. Anh cho mũ vào cái túi rộng của áo khoác, đứng trong bóng tối, chỉ còn là màu đen, anh nói khẽ:

- Mình đây! Có làm phiền Ngọc nhiều không? Cả nhà đã ngủ chưa? Cháu bé có bị mình đánh thức không nhỉ?

- Thưa, mời anh vào, kẻo lạnh.

Nhà văn Tô Hoài toan cởi áo khoác, nhưng còn lúng túng trả lời tiếng chào của mẹ tôi và vợ tôi, rồi cả các cháu nói ran đồng loạt “Chào bác ạ!”, làm anh lại choàng áo lạnh vào, tiến đến bàn, vừa là nơi tiếp khách, vừa đầy các bài vở của học sinh, nói khẽ:

- Để đây được không?

Ôi! Tôi nhìn anh móc ở túi trong của áo khoác một chai nhỏ, nói là một cút cũng đúng, đựng nước trắng, chỉ nhìn cái nút bấc đã biết ngay là rượu.

- Lạnh quá.

Chưa hết. Túi còn có cả một chùm quả nem, túm tụm vào nhau, các dây lạt đỏ chằng chịt.

- Không biết Ngọc có thích không? Cho vui thôi. Hôm nay có tin vui đây.

Gia đình tôi đã sang phòng bên. Chỉ còn tôi tiếp anh. Ấm trà pha sẵn để trong giành cho tôi dùng trong ngày lại được anh ưa hơn. Cho đến lúc anh về, rượu và nem anh mang tới vẫn còn nguyên trên bàn.

Hai anh em kéo ghế ngồi gần liền kề. Anh nói nhỏ nhưng nghe rất rõ:

- Có thể sau đây mươi lăm ngày, một cuộc họp liên tịch giữa ba cơ quan gồm Hội Nhà văn Việt Nam, Trung Ương Đoàn Thanh Niên và Bộ Giáo dục sẽ được tổ chức tại Hà Nội. Cuộc họp bàn đến việc thành lập một nhà xuất bản sách văn học cho trẻ em cả nước. Từ buổi họp liên tịch này, chúng ta mới có cơ sở sáng tác và in ấn cho thiếu nhi. Ngọc có thấy vui không?

- Đúng như anh thường nói...

- Không phải thế, mà đúng như ước vọng của tất cả những ai muốn chăm sóc đời sống tinh thần cho con em cả nước mình.

Tôi đếm từng ngày.

Và đó là ngày 16 tháng 3 năm 1957, thứ bảy.

Tại trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, số 51 Trần Hưng Đạo.

Tôi không thể nào để mình chậm trễ khi nhiều người khác đã lần lượt tới. Tuy nhiên, điều tôi không hiểu là không phải ai có mặt lúc ấy đều là tới dự buổi họp bàn về thành lập một nhà xuất bản sách cho trẻ em. Vì còn các cán bộ, nhân viên làm các việc khác ở số nhà ấy.

Rất mừng cho tôi là cả nhà văn Tô Hoài và anh Hồ Thiện Ngôn đều đã tới. Có hai anh cùng đi đi, lại lại với anh Ngôn lúc mới vào rồi cùng bắt tay anh Tô Hoài.

Đấy là anh Hồ Trúc, người đậm, có nụ cười hiền hậu, niềm nở và anh Cao Ngọc Thọ, gầy gầy, hơi đen, thật nhã nhặn. Qua anh Ngôn, tôi hiểu là các anh ấy đại diện cho Ban Bí thư Trung ương Đoàn ở cuộc họp.

Ở ngả cửa khác dẫn tới phòng họp, mọi người lần lượt tới. Tôi thật bất ngờ nhìn ra nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đang gật gật chào mọi người. Mãi mới đến lượt tôi nắm bàn tay anh, nói đúng một tiếng: “Anh!”. Từ hồi ở Việt Bắc, bây giờ không ngờ lại gặp anh ở đây. Chẳng kịp nói thêm gì. Nhiều người khác đã hỏi chuyện anh. Có một anh kéo tôi ngồi vào ghế cạnh, có lẽ muốn có người để nói chuyện vì cả hai bên ghế ngồi phía anh chưa có ai.

- Tôi là Nguyễn Văn Phú, công tác ở Bộ Giáo dục. Còn anh công tác ở đâu?

- Thưa anh tôi là Ngọc, hiện đang dạy học...

- Hay lắm, cùng họ cả đấy.

Chúng tôi quen nhau ngay, nhưng quả là chưa có chuyện gì đế kết dính thêm được.

May mà buổi họp đã bắt đầu khá đúng giờ. Anh Hồ Thiện Ngôn nói mấy lời giới thiệu gọn gàng và nhà văn Tô Hoài đứng tiếp ngay, chìa tay về phía từng người:

- Chúng ta đã biết nhau cả, tôi chỉ xin phép nói thêm thế này: buổi họp sẽ có ý kiến của tất cả chúng ta, đại diện cho ba đơn vị lớn là Trung ương Đoàn Thanh niên, Bộ Giáo dục và Hội Nhà văn Việt Nam.

Rồi anh cười, hướng về phía đối diện. Có một đại biểu trắng, mập và một đại biểu gầy hơn, cười rất tươi:

- Tuy ở đây có nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu nhưng hai anh hôm nay là các... nhà văn...

Cả phòng vỗ tay cười lớn.

Cuối cùng thì hóa ra ai cũng được nhắc tới một lần. Tôi được biết thêm anh Xuân Tửu, anh Phạm Hổ, ngồi gần các nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, nhà thơ Nguyên Xuân Sanh.

Ý kiến của mười hai đại biểu hầu như rất thống nhất. Ai cũng thấy đã đến lúc không chậm hơn được nữa, phải có một nhà xuất bản sách văn học cho tuổi nhỏ. Những cuốn gần đây đã xuất bản trước khi về tiếp quản thủ đô coi như mở đầu cho bước đi này.

Có đại biểu lo cho việc làm sao có bản thảo để xuất bản được đều đặn, không thể chỉ in được một đợt rồi lại nghỉ dài. Có mấy ý kiến trả lời ngay, thật sốt sắng: “Phải viết chứ! Chúng ta lúc này đã có mười hai cuốn rồi này! Chẳng lẽ thế rồi thôi không viết nữa sao?”.

Tôi nghe anh Cao Ngọc Thọ thì thầm với anh Ngôn:

- Này, tôi không phải là nhà văn đâu nhé!

Và cả hai anh cười che tay lên miệng.

Có ý kiến đi xa hơn:

- Phải có nhà in riêng. Phải có kho giấy, giấy thật tốt ấy. Còn nội dung phải thật hay, hình thức phải thật đẹp, xuất bản phải đúng kỳ và không được bán giá cao. Đừng có in ra để các cháu đứng ngó...

Tất cả đều được mọi người nhất trí và nhắc lại nhiều lần.

Sang phần đặt tên cho nhà xuất bản. Phòng họp im lặng hồi lâu. Những tên gì liên quan đến trẻ em đều được đề ra:

- NHÀ XUẤT BẢN THIẾU NHI VIỆT NAM - Hơi dài.

- NHÀ XUẤT BẢN SÁCH CHO TRẺ EM - Thật thà quá!

- NHÀ XUẤT BẢN MĂNG MỌC THẮNG - Em nào là đội viên chắc tán thành.

- NHÀ XUẤT BẢN TUỔI NHỎ - Là bao nhiêu tuổi?

- NHÀ XUẤT BẢN THÁNH DÓNG - Hợp với lịch sử nhiều hơn

- NHÀ XUẤT BẢN THIẾU NIÊN TIỀN PHONG - Lại trùng với báo rồi.

- NHÀ XUẤT BẢN CHÁU BÁC HỒ - Người lớn cũng là cháu Bác chứ!

- ...

Tôi nhìn sang phía anh Tô Hoài. Anh đứng lên, im lặng mãi mới nói. Ai nấy lắng nghe như biết trước điều anh nói ra sẽ có điều thật mới.

- Các anh đã góp rất nhiều tên thật hợp, thật sát, nhiều ý nghĩa. Trên cơ sở này, các đồng chí có trách nhiệm sẽ nghiên cứu và cân nhắc để chọn ra một tên nhà xuất bản mà chúng ta mong đợi nhất.

- Chưa thấy anh Tô Hoài đề xuất tên do anh chọn?

- Vâng. Tôi cũng có ý đưa ra đây để các anh cho ý kiến.

Anh Tô Hoài dừng lại, nhìn xuống tờ giấy để ở mặt bàn rồi cầm lên, đọc to: NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỒNG!

Phòng họp bỗng nhiên yên ắng, không ra tán thành, không ra phản đối và anh Tô Hoài ngồi xuống.

Mấy ý bàn bạc lào xào:”Kim Đồng, Ngọc Nữ” phải không?

Nhưng thấy nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đứng lên. Anh nói rất rõ nhưng nhỏ, giọng trầm:

- Ở chiến khu, khi in đợt sách cho thiếu nhi, chúng tôi đã dùng tên: “Sách Kim Đồng”. Vậy tên này được nhắc lại hôm nay thật ra không có gì mới lạ, tôi đã được biết. Tôi xin trình bày lai lịch hai chữ tên riêng “Kim Đồng” mà vừa rồi có đồng chí nhắc Kim Dồng, Ngọc Nữ. Có thể là Kim Đồng ấy chăng? Tên trùng nhau, cũng là lẽ thường. Nhưng tôi biết Kim Đồng mà anh Tô Hoài nói đây là một người bằng xương bằng thịt hẳn hoi. Đó là bí danh của em Nông Văn Dền, dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã Xuân Hòa, thuộc huyện Hà Quảng, trên Cao Bằng. Quê hương Kim Đồng là một trong những nơi được giác ngộ cách mạng trước nhất. Nhờ vậy Kim Đồng đã sớm được các cán bộ dìu dắt và kết nạp vào Đội Nhi đồng Cứu quốc đầu tiên...

Anh Nguyễn Huy Tưởng cười cười, nói với anh Tô Hoài:

- Nếu không phiền gì, anh cho tôi nói vài câu nữa được chứ ạ?

Anh Tô Hoài chìa tay như ra hiệu “xin mời”.

- Tôi chỉ tóm tắt vài ý thôi, các anh tìm bài báo của anh Tô Hoài đăng ở báo Cứu Quốc để biết tiểu sử Kim Đồng đầy đủ hơn. Chỉ biết là Kim Đồng đã hy sinh giữa một buổi đang canh gác cho một cuộc họp. Giặc đến bất thình lình. Kim Đồng cử bạn đi tắt về báo, còn mình thì đi ra phía giặc để đánh lạc hướng. Chúng đã bắn Kim Đồng. Chính tiếng súng của chúng đã báo động cho cán bộ tránh.

Anh Tưởng kết luận:

- Kim Đồng, người thiếu niên dũng cảm của núi rừng đã nêu một gương sáng cho thiếu nhi chúng ta về lòng yêu nước, yêu cách mạng. Nếu lấy tên một liệt sĩ thiếu nhi như vậy đặt tên cho nhà xuất bản sách cho thiếu nhi Việt Nam - NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỒNG - vừa ý nghĩa, vừa rất đặc biệt, chưa chắc thế giới đã có một tên nhà xuất bản sách cho trẻ em như ở nước ta đâu.

Tôi đoán mọi người sẽ tán đồng ý kiến dài của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và quả là như thế. Tiếng vỗ tay vang lên như không chỉ của mười hai đại biểu có mặt lúc ấy. Tôi thấy ở mấy lối ra vào phòng họp, cũng có vài anh, chị từ đâu ghé nhìn vào và lạ nhất là cũng vỗ tay!

Buổi họp lịch sử ấy diễn ra vào thứ bảy 16 tháng 3 năm 1957.

Ba tháng sau, chênh một ngày, ngày 17 tháng 6 năm 1957, vào tối thứ hai, đúng ra là 19 giờ thứ hai 17-6-1957, tại Câu lạc bộ Đoàn Kết, hai Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Hội Nhà văn phối hợp tổ chức ngày ra mắt của hai nhà xuất bản. Buổi lễ vừa trang trọng như một Đại hội Văn nghệ toàn quốc, vừa thân tình ấm cúng như cuộc họp mặt đại gia đình, gần như đầy đủ các nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ, đủ các lứa tuổi. Hội trường đông nghịt, nhưng không ai muốn đứng ngoài dù chỉ vài bước chân là có không gian mát mẻ thoáng đãng.

Tối đó, buổi chiếu phim chiêu đãi lại được phép mang trình chiếu lần đầu tiên bộ phim Ruồi trâu. Tan giờ vẫn còn nhiều người nấn ná muốn gặp trực tiếp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng để chúc mừng và chung vui với sự kiện văn học thật là mới lạ và đáng tự hào khi đánh dấu bước hình thành và phát triển của nền văn học cho thiếu nhi từ nay và mai sau. Mọi người cũng muốn gặp nhà văn Tô Hoài vừa nhận trách nhiệm Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn cùng hôm ấy, muốn vui thêm với nhà văn Tô Hoài về cái tên anh đặt cho Nhà xuất bản Kim Đồng...

Cũng từ ngày 17 tháng 6 năm 1957 lịch sử ấy của nền văn học cho thiếu nhi, cá nhân nhỏ bé là tôi chính thức là một thành viên của Nhà xuất bản Kim Đồng.

Tôi tự ví mình là một con thuyền nổi nênh mãi, từ nay đã có bến đậu.

Cuộc sống là một thử thách, một cuộc rèn luyện liên tục. “Bến đậu” không phải là một nơi nghỉ ngơi. Đó là một nơi để thử thách khả năng cống hiến và tình thương yêu người với người. Đó chính là “LỜI HỨA VỚI NGÀY MAI”.

Kết quả như thế nào phải được kiểm nghiệm.

Điều này, cần nhiều thời gian, nhưng rất cần có những con mắt tinh đời và những tấm lòng cao cả.

.......

(Còn nữa)

 

 >> XEM TIỂU THUYẾT - HỒI KÝ CỦA TÁC GIẢ KHÁC

 

Lệnh in

Lời hứa với ngày mai

(Trích)

24-12-2012 11:09:10 AM

http://vanvn.net/upload/news/admin/logo.pngVanVN.Net – Nhà văn Thy Ngọc là một trong số những người đầy tâm huyết, dành trọn cuộc đời mình cho văn học thiếu nhi và công việc biên tập sách, báo cho trẻ em. Ngay từ những năm còn rất trẻ, ông đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn học thiếu nhi của nước nhà. Với tấm lòng nhân hậu, với đôi mắt nhìn cuộc đời một cách trong trẻo đầy yêu thương của trẻ thơ, ông đã không ngừng sáng tạo nên những trang văn đẹp, những câu thơ, ý thơ giàu lòng nhân ái, rất được trẻ em yêu thích. Lời hứa với ngày mai là tập hồi ký của nhà văn - nhà thơ - họa sĩ Thy Ngọc, một cuộc đời đã được thử thách qua 66 năm với hàng trăm cuốn sách thuộc nhiều thể loại - như một vườn hoa có nhiều thứ hoa, nhưng chỉ cho một đối tượng chính là tuổi thơ. Trong những ngày tiễn biệt nhà văn Thy Ngọc, VanVN.Net xin trích đăng một phần tác phẩm Lời hứa với ngày mai như một nén tâm hương tưởng nhớ ông...

http://vanvn.net/upload/news/Anh_Tac_Pham/NhaVanThyNgocTangSachChoDocGiaNhiTaiNhaVanHoaThieuNhiQuanGoVapTPHCM.jpg

Nhà văn Thy Ngọc tặng sách cho độc giả nhí. Ảnh: Cao Xuân Sơn

CHƯƠNG MỘT

- Tôi

- Phim mỗi chặng đường

TÔI

Thuở nhỏ, tôi không có góc học tập riêng. Góc học tập là một cái bàn chung của cả nhà, lúc là nơi tiếp khách, lúc là chỗ ăn cơm. Đến giờ học bài, mấy anh em xúm vào, chụm đầu dưới ánh đèn, ai xong trước thì đi ngủ.

Ban ngày, tôi thường ngồi đọc sách, báo chỗ có đặt chiếc chõng tre thấp, nhỏ ở hiên sân, lối xuống bếp. Quanh quẩn chỉ mấy cuốn sách cũ. Báo của các anh lớn, cũng chẳng mấy khi có số mới. Ngoài hiên sân thoáng mát, dễ buồn ngủ, tôi thường đánh một giấc ngon, dậy tắm rồi ăn bữa chiều.

Cuốn sách đọc mãi đến thuộc, là cuốn Vô gia đình dày cộm, bìa vừa sờn vừa rách, được dán những mảnh giấy cuộn thuốc lá bôi nước cháo, khô rồi vẫn nhìn lờ mờ hình in phía dưới. Tối nào tôi cũng xuống bếp với mẹ tôi, ngồi trên chõng tre, đọc mẹ nghe những trang tiếp nối từ hôm trước. Cả hai mẹ con lúc thì thương nhân vật Khả Dân, cậu bé mồ côi và bà mẹ nuôi tên là Tư đế mẫu, thương cả con chó theo gánh xiếc, nhớ cả tên nó là Khai Tị, thương đến nỗi hai mẹ con tôi đều ràn rụa nước mắt…

Những năm sau đó, lớn lên, học tiếng Pháp, đọc bản chính cuốn Sans famille của nhà văn Hector Malot, tôi mới biết tên chính “Khả Dân” là Rémi, con chó Khai Tị là Capi, bà Tư đế mẫu là Barbarin… Và mẹ tôi còn sống đến những ngày có bản dịch thật công phu của giáo sư Huỳnh Lý, một trong những cuốn sách dịch được tái bản nhiều lần. Tuy đã đi làm, thời giờ đâu rảnh rỗi như hồi còn là chú bé học trò xuống bếp đọc cho mẹ tôi nghe những trang Vô gia đình, nhưng thỉnh thoảng hai mẹ con tôi lại sống những giờ phút đọc và nghe sách như bao năm đã qua quá lâu. Tôi đặt lên bàn tay khô nhám của mẹ cuốn sách Không gia đình mới tái bản lần nữa, cuốn sách thơm mùi giấy mực mới xuống khuôn, bìa dày, màu sắc tươi sáng, khoe mẹ, hồn nhiên như tôi đang là đứa bé tiểu học: “Con vẽ đấy mẹ ạ!”. Rồi tôi đọc đoạn hai mẹ con biệt ly nhau. Mẹ tôi lại ngẩn ngơ như đang chứng kiến cảnh chia tay não lòng đó.

Riêng tôi, im lặng với một suy nghĩ khác về nghề nghiệp. Bao giờ mình viết được một cuốn truyện xúc động lòng người như vậy, in đi in lại như vậy, không riêng in ở trong nước mà còn xuất bản ở nhiều nước khác? Lúc bấy giờ, tôi tin cả số lượng lẫn chất lượng các cuốn sách viết cho thiếu nhi đều tăng gấp bội, nhất là cá nhân tôi cũng có thể có phần đóng góp.

Từ ngày có sách Kim Đồng, các cháu thiếu nhi có thói quen hỏi thăm các cuốn mới đọc từ phần giới thiệu những cuốn in lần trước. Chỉ nghe những lời hỏi đó, tôi tin các cây bút đang viết những trang dở dang phải nóng lòng sốt ruột muốn hoàn thành tác phẩm, đem đến ngay nơi xuất bản.

Nhà xuất bản Kim Đồng như được động viên, từ công tác bản thảo đến khâu in, phát hành đều tăng tốc độ.

Công đoạn nào để làm thành một cuốn truyện in cũng đều cần và quan trọng cả, nhưng nhà xuất bản chính là bộ óc tổ chức, đứng mũi chịu sào, cần thiết bậc nhất. Vui sao, bây giờ đã có thêm những tờ báo, những nhà xuất bản quy mô phục vụ nhu cầu đọc của trẻ em.

Tập hồi ký của tôi chỉ là một sản phẩm bình thường, nhưng tôi phải vượt nhiều khó khăn mới viết nổi từ đầu đến cuối. Đó là kết quả của một sự cố gắng cá nhân. Tôi có được niềm vui của người sản xuất chân chính chứ không chỉ đợi đi mua, đi kiếm tìm, như hồi còn nhỏ.

Do đã có thời gian làm việc ở nhà xuất bản Kim Đồng nên tôi thường nhắc đến một “thương hiệu” đã quen, dù trong lòng thấy càng có nhiều đơn vị sản xuất, càng mừng.

Nói về mình là điều tối kỵ - lại nói về mình ở trường hợp phải nói như tôi - thật là không dễ chút nào. Tôi cứ ngồi xuống, đứng lên ở bàn viết của mình. Cũng giống nhiều lần sáng tác khác thôi, nhưng lần này, ở trước mặt tôi là cuốn truyện đồng thoại Lớp học của anh bồ câu trắng, phần lưu chiểu có ghi: “Xong ngày 08/08/57. Nộp lưu chiểu tháng 08/57”. Đó chính là một trong 8 cuốn mà Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành đầu tiên sau ngày ra mắt, 17 tháng 6 năm 1957. Nghĩa là, cuốn sách này của tôi được Kim Đồng phát hành chỉ sau 52 ngày kể từ ngày thành lập. Căn cứ ở phần lưu chiểu thì biết vậy cho đúng nguyên tắc, còn cuốn mà tôi đang có đây, của chính tôi ghi “Hà nội, 12 - VIII - 1957”, có chữ ký của tôi và đóng dấu chữ “nho” tên tôi - một kiểu lưu niệm thời đó, nay chẳng mấy ai dùng. Cuốn này có đóng dấu “Bản đặc biệt số 1 TTTN”, do nhà in xuất giấy “croquis” in riêng cho tôi (nói cho chính xác là do hai anh có tên là Đang, là Thanh, công nhân nhà in Lê Cường, phố Hàng Bồ, tặng cho tôi làm kỷ niệm giữa nhà in và khách hàng có quen biết từ những lần in tác phẩm của tôi khi chưa có Nhà xuất bản Kim Đồng).

Sau 50 năm với biết bao biến chuyển, trải bao mưa bom, bão đạn khốc liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ, cuốn sách nhỏ xíu, mỏng mảnh với 48 trang khổ 13x19cm vẫn còn đây, khiến tôi ngồi thần thừ, với bao cảm xúc. Lần lượt, hình ảnh các anh Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng… hiện lên trên trang sách, cùng bao anh chị có mặt ở Nhà xuất bản Kim Đồng, lúc đó và sau này.

Các kỷ niệm cứ lần lượt lướt qua như một cuốn phim...

PHIM

Những hình 1

Đó là cuốn Vỡ đê, truyện viết cho thiếu nhi, do Nhà xuất bản Cộng Lực, số 6 phố Hàng Cót, Hà Nội, in và bán năm 1943, khuôn khổ tương đương 13x19cm. Tôi không nhớ thật chi tiết, nhưng khoảng cỡ đó. Bìa và minh họa Vỡ đê là của Vân Sơn, người bạn cùng phố của tôi. Anh vẽ vài cuốn nữa, rồi bẵng hẳn, cả người và nét vẽ.

Đó là cuốn truyện đầu tiên của tôi, viết xong là được nhà xuất bản in liền, khiến tôi không kịp sững sờ, ngồi trong lớp học cứ ngượng nghịu với các bạn.

Sau này, nghĩ lại, nếu tôi mắc cỡ, thì nên nghĩ tới một bút danh, chỉ hơn tôi có một tuổi, hồi đó đã có sách bày ở các tủ kính hiệu sách gần trường tôi học: Nguyễn Đình Thi có tên ở các cuốn triết học, bàn về triết học của Kant, của Nietzche… mà tôi chẳng hiểu nổi nội dung.

Bởi vậy, mười bảy, mưới tám tuổi như tôi, in được cuốn truyện thiếu nhi, đâu có điều gì phải lạ lùng, ngạc nhiên? Nhưng các bạn thì trầm trồ khen ngợi.

Tôi kể lại việc được in cuốn truyện thiếu nhi đầu tiên vào những năm 42, 43, khi tôi mười bảy, mười tám tuổi, là để nhớ tới hai nhà văn ảnh hưởng đến tôi từ thuở đó: nhà văn Tô Hoài và nhà văn Nam Cao.

Tại sao vậy? Những năm đó, tôi đang học ban Thành Chung, tương đương cấp trung học cơ sở bây giờ. Gần trường tôi học, có nhà xuất bản Tân Dân, in các loại sách báo văn học như Phổ thông bán nguyệt san - như tên gọi, nửa tháng ra mắt một cuốn khoảng 100 trang, rồi Những tác phẩm hay, công phu hơn, dày dặn hơn. Nhà Tân Dân còn phát hành cả một tờ tuần báo, có tên Tiểu thuyết thứ Bảy và loại trruyện cho thiếu nhi có tên sách Truyền Bá.

Hai nhà văn Tô Hoài, Nam Cao có các truyện ngắn in ở báo Tiểu thuyết thứ Bảy, có truyện cho người lớn, lại viết cả cho thiếu nhi nữa. Cuốn của Tô Hoài được bạn đọc nhớ tới bây giờ, được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài là cuốn Dế mèn phiêu lưu ký, bấy giờ in đợt đầu có có tên là “Con dế mèn”, vài chục trang, do họa sĩ Nguyệt Hồ - Vũ Tiến Đa vẽ bìa.

Chúng tôi thường đi học sớm để còn tranh thủ đến Nhà in Tân Dân, số 93 Hàng Bông, “coi cọp” mấy tấm bảng chăng lưới sắt đủ đọc được, các trang báo Tiểu thuyết thứ Bảy, do đọc luôn mà nhớ được một số tên của các tác giả có bài đăng. Những tác giả trước cả Tô Hoài, Nam Cao, kể ra thì rất nhiều, như Thanh Châu, Vũ Bằng, Trúc Khê, Lan Khai, Ngọc Giao, Vũ Trọng Phụng, Thâm Tâm… người đã qua đời, người đã ngưng viết vì lý do nào đó. Tôi còn nhớ cuốn Cún số 5 của Thanh Châu, cuốn truyện thiếu nhi in lại năm 1957 (do Thy Ngọc vẽ bìa).

Thời điểm năm 1957, mới thành lập, nhà xuất bản Kim Đồng đã in cỡ nằm ngang tập truyện nhỏ xinh đó. Tôi nghĩ thật ấm áp biết bao mối duyên văn học này. Những tập sách viết cho thiếu nhi, dù chỉ viết về một chú chó có tên là “Cún số 5” hoặc về một chú dế mèn, chú dế trũi… thôi, tưởng là nhỏ bé, nhưng vẫn sống đời đời với tầng tầng, lớp lớp độc giả.

Nếu từ người viết, người biên tập đến người đọc…đều có cảm nhận đó, thì sáng tác cho thiếu nhi càng có một cái nền vững chãi, các phụ huynh khỏi lo thiếu thời gian đi chọn sách đọc ngoài giờ cho con em mình.

Tôi phải cảm ơn rất nhiều khi nhắc đến Nhà xuất bản Cộng Lực đã nghĩ tới việc in loại sách văn học cho tuổi nhỏ, có tên Sách Hoa Mai. Từ loại sách văn học nhỏ này mà tôi được biết, được gặp hai nhà văn Tô Hoài, Nam Cao - hai cây bút có ảnh hưởng tới tôi suốt cuộc đời sáng tác văn chương.

Tôi gặp nhà văn Tô Hoài lần đầu khi tới Nhà xuất bản Cộng Lực để nhận nhuận bút cuốn Vỡ đê nhỏ bé của tôi. Một người gầy gò, có nét môi cười mỉm, gật đầu chào lại khi đang bước ra cổng; lúc tôi được ông Lê Roãn Riệu - Tổng biên tập trả lời câu hỏi: “Ai đó?” - “Ông Tô Hoài!”. Tôi quay nhìn theo chỉ còn bóng lưng khuất hẳn bờ tường.

Tôi gặp nhà văn Nam Cao thuận lợi hơn, cũng tại phòng làm việc kiêm nơi tiếp khách của Tổng biên tập. Khi tôi đang ngồi nói chuyện với ông Riệu thì một vị khách bước nhẹ, đứng lại ngoài bậc cửa. Ông Riệu mừng rỡ, xin lỗi tôi, rồi nhanh nhẹn ra tận cửa, cầm tay người khách dẫn vào.

Lời giới thiệu rõ ràng, làm tôi bối rối:

- Tôi xin giới thiệu, đây là bác Nam Cao, tác giả cuốn Người thợ rèn và đây là bác Nguyễn Ngọc, tác giả cuốn Vỡ đê…

Tôi bối rối, bởi bàn tay ấm áp của nhà văn Nam Cao, người mà trước khi gặp, tôi đã được ông Riệu viết thư, có đoạn nói rằng: “Có nhà văn tên là Nam Cao khen ngợi cuốn Vỡ đê của bác. Ông Nam Cao thích cốt truyện và những những nhân vật nghèo khổ đó, gửi lời mong bác viết đều và viết nhiều về các tầng lớp cùng khổ, nghèo nàn…”.

Tuy năm đó, tôi mười bảy, mười tám, nhưng Tổng biên tập cứ gọi là “bác” - chẳng lẽ trông tôi già thật vậy ư? Nay, đứng trước nhà văn Nam Cao, bậc đàn anh, tôi vẫn là “bác”, khó nghe quá. Tôi ngượng mãi, cho đến khi chuyện trò đã êm quen, khi ông Riệu nhờ tôi làm người dẫn đường, đưa nhà văn Nam Cao đến gặp nhà văn Lê Văn Trương tại nơi ở riêng, tôi tự nhiên hẳn. Lúc ấy tôi mới biết nhà văn Nam Cao từ Phủ Lý lên lần này là đã có thư trước, nhờ ông Riệu dẫn tới gặp nhà văn Lê Văn Trương để cảm ơn sự giúp đỡ rất văn học của một nhà văn lớp trước đối với một nhà văn đi sau, qua cuốn Đôi lứa xứng đôi - đó là tác phẩm Chí Phèo, in đúng tên năm 1957. Nhà văn Lê Văn Trương đã viết lời tựa cho tập truyện ngắn của Nam Cao và đem tới Nhà xuất bản Đời Mới cũng ở phố Hàng Cót, Hà Nội, xuất bản lần đầu. Nhà xuất bản rất mừng vì có cuốn sách do nhà văn “bậc nhất” lúc bấy giờ giới thiệu, nhất định là bán chạy. Còn đối với một nhà văn đang cần nhiều độc giả như Nam Cao, vừa mới mẻ, lại vừa nghèo, thì việc in được một cuốn sẽ bán được, sẽ có nhiều người biết đến, vui lắm chứ!

Nhưng tôi mới là người vui nhất. Tôi dẫn Nam Cao ra bến đỗ của chuyến tàu điện từ phía Hàng Đậu chạy tới chợ Đồng Xuân, để tới bến đỗ ngã tư Trung Hiền; sau đó đi chặng chợ Bạch Mai. Thật ra, nếu con đường không xa và nếu nhà văn Nam Cao còn nhiều thời giờ thì chúng tôi lội bộ, nói được nhiều điều. Nhưng có thể Nam Cao giải quyết xong mọi việc thì sẽ trở về Phủ Lý ngay, nên đi tàu điện nhanh hơn, lại chỉ tiêu mất vài ba xu.

Tiếng tàu điện ồn ào, từ bánh sắt rít trên đường ray, từ tiếng chuông leng keng liên hồi dưới chân người lái… và các chặng khách lên, khách xuống, làm câu chuyện của chúng tôi luôn luôn phải chắp nối, vá víu. Dù sao, với tôi, trước khi cùng xuống ở bến tàu điện ngã tư Trung Hiền để từ đó đi ngược trở lại một quãng là tới chỗ rẽ về phố Chùa Vua có nhà số 38, nơi ở của nhà văn Lê Văn Trương, thì tôi đã nhớ được vài tên của các con nhỏ của anh bấy giờ là cái Hồng, bé Thiên…, biết được cái áo sơ mi Nam Cao đang mặc là mượn của người bạn dạy học, gần nhà, mỗi khi có việc cần phải đi Hà Nội…

Những hình 2

- Cách mạng tháng Tám và quốc khánh 2-9-1945

- Nam bộ kháng chiến 23-9-1945

- Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946

- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 7-5-1954

…Năm 1945, tôi vừa tròn 20 tuổi, vẫn còn được đến trường. Nhưng ngoài sách vở, một số học sinh chúng tôi còn có tờ báo Cứu Quốc trao tay bí mật, đọc lén cách nào thì tùy sáng kiến mỗi người, miễn là đừng để “thộp ngực”. Các cuộc diễn thuyết chớp nhoáng ở Hồ Gươm, trên các chuyến tàu điện, trong các sạp bán hàng các chợ. Luôn luôn có các tờ giấy to dán ở các khoảng tường rộng, hoặc các băng vải chăng từ cột điện này sang cột điện kia dòng chữ đủ kiểu, đủ cỡ: “ỦNG HỘ VIỆT MINH”.

Chúng tôi bớt túm tụm coi cọp tờ Tiểu thuyết thứ Bảy như trước đó nữa. Như tôi, không phải do đã ngán theo bước các nhà văn như Tô Hoài, Nam Cao… mà tôi đã mượn được để đọc ở nhà, tuy có chậm, nhưng rất đều, từng số báo đủ trang hẳn hoi, tờ báo có các bút danh quen thuộc đó, từ người bạn thật đặc biệt: cậu Nguyễn Tuấn San, em ruột nhà thơ Thâm Tâm, ở gần nhà tôi, lại cũng có sách in, chẳng kém gì nhau đâu. Cậu San lấy bút danh là Thệ Thủy. Tôi mến cậu không phải vì cái tên sặc mùi “con gái” ấy, mà thân với Thệ Thủy do chính cậu là tổ trưởng tổ học sinh Cứu Quốc khu vực Bạch Mai, vẫn thường trao lén các tờ báo Cứu Quốc cho tôi đọc và tôi chuyền tay cho các bạn tin cậy khác ở trường tôi học. Cậu San đã nghỉ học lâu rồi.

Thế rồi cách mạng tháng Tám! Chúng tôi đã hoạt động bí mật trong đoàn thể Cứu Quốc, cũng đã hiểu đôi chút những gì sẽ xảy ra, nhưng sáng ngày 17 tháng 8 năm 1945 ấy cũng làm chúng tôi như ở trên trời rơi xuống: Mặt trận Việt Minh đã biến cuộc mít tinh thanh niên do chính quyền hồi ấy tổ chức tại quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội thành một cuộc biểu tình rầm rộ, sau khi đã chủ động đăng đàn diễn thuyết động viên bà con tham gia, chăng cờ thật lớn phủ trên phía mặt tiền nơi mít tinh. Cờ đỏ sao vàng bỗng rực lên từ trong quảng đại quần chúng. Người ta công kênh nhau cho cao hơn và rầm rập từng đội ngũ tỏa ra khắp ngả…

Tôi giơ thẳng hai tay, vài bước đi lại nhảy vọt lên cho cao hơn, cao nữa, lá cờ không cán, có ngôi sao năm cánh mập, may tay chứ không bằng máy khâu. Lá cờ do cậu Thệ Thủy đưa cho, trước đó được cậu giấu sẵn trong áo có thắt lưng quần nịt chặt từ nhà. Trận mưa bất thường của tháng tám ào xuống. Chỉ một lúc sau, mặt tôi nhuốm màu đỏ của phẩm nhuộm cờ giỏ xuống, rồi áo ròng ròng như máu thấm.

…Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước.

Súng ngoài xa vang khúc quân hành ca…

Lần đầu tiên chúng tôi hát bài Tiến quân ca, cứ dựa tiếng nhau mà hát. Chặng đường từ Nhà hát Lớn qua hồ Gươm, theo đường tàu điện, chen chân chật ních khu Hàng Đào, Hàng Ngang vốn xưa nay chưa bao giờ rộng, thẳng đường Quán Thánh, ra hồ Trúc Bạch, vòng Ba Đình, trở về Tràng Thi, rồi từ đó từng đoàn theo khu cư trú mà về.

Chúng tôi xuôi theo phố Huế, chợ Hôm, chia tay ở khu Bạch Mai, từng nhóm rỉ tai nhau: “Vẫn phải hết sức bí mật. Tối nay họp tổ. Chuẩn bị sẳn sàng…”.

Chỉ một ngày sau đó, ngày 19 tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân thủ đô Hà Nội đã giành được chính quyền. Khí thế hào hùng, quyết liệt nhưng tránh được những cuộc đụng độ vũ trang.

Tổ học sinh Cứu Quốc khu Bạch Mai được chỉ định canh giữ khu có Sở Liêm Phóng thành phố, đường Trần Hưng Đạo. Tôi rất mừng được làm việc với cậu San. Chúng tôi giúp các cán bộ có trách nhiệm gói ghém, bảo quản các tài liệu địch chưa kịp phân tán. Chúng tôi được dịp biết tới hồ sơ về các nhà hoạt động chính trị, cách mạng; những ảnh chụp chân dung có đeo áo số, chụp thẳng, chụp nghiêng, chụp sau với đủ con số về kích thước…

Việc làm mê mải, túi bụi, đến độ phải bình chọn xem ai sẽ được đi dự Lễ Quốc Khánh tiến hành ngày mùng 2 tháng 9, bởi nhất định ngày ấy sẽ có mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa từ chiến khu Việt Bắc về tới…

… Tôi không nhớ thật kỹ ngày tôi đến nhận nhiệm vụ làm thư ký riêng cho Bộ trưởng Bộ Thanh Niên Dương Đức Hiền trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như thế nào, chỉ biết một số học sinh Cứu Quốc chúng tôi được lựa chọn, phân công, mỗi người một nhiệm vụ gì đó, tương tự như tôi vậy.

Tôi muốn nhắc việc này không phải để khai một bản lý lịch, mà từ việc tôi làm thư ký cho Bộ trưởng Bộ Thanh Niên, lại là một điều lý thú cho sau này, mỗi khi mở trong lưu chiểu một cuốn sách nào đó của Nhà xuất bản Kim Đồng có dòng địa chỉ “… 55 Quang Trung - Hà Nội …”. Tôi lại nhớ như mới đâu đây, tôi ở một không gian “phòng” như hồi năm 1945 cùng gia đình Bộ trưởng, gồm vỏn vẹn có hai người.

Hàng ngày, Anh Dương Đức Hiền và chị Thanh Thủy, mỗi người đến nơi làm việc ở chỗ khác. Anh dùng cơm trưa ở bếp tập thể Bắc Bộ phủ, bữa chiều mới có mặt ở 55 Quang Trung. Tôi cũng theo anh, sinh hoạt như thế.

Khu nhà 55 Quang Trung hồi 1945 ấy, trước đó đã có thời gian do quân ô hợp của Tàu Tưởng đến trú, ăn ở bẩn thỉu, rác rưởi đến khiếp.

Khi chúng tôi tới, phải tổng vệ sinh nhiều buổi. Những mảng tường phía 15 Hồ Xuân Hương bị phá nham nhở, rào qua loa bằng dây thép gai.

Ngoài anh chị Bộ trưởng, chỉ còn chú nấu bếp và tôi, muốn làm một việc gì đó, quanh đi quẩn lại vẫn chỉ có hai người “nam nhi chí khí” ấy. Thời gian ấy là phải canh phòng cho cẩn thận. Cũng may, chiếc ô tô mượn được để Bộ trưởng dùng, cứ chiều về là anh lái xe lại cho chạy về gara nhà chủ, đỡ lo.

Chú nấu bếp và tôi bỗng nhiên trở thành hai chiến sĩ tự vệ thật đặc biệt. Ăn xong bữa tối, thường là tôi đeo khẩu súng trường, không biết Bộ trưởng mượn được ở đâu, đi đi, lại lại từ trong sân ra hè đường, từ cổng lên các bậc thềm, từ phòng giữa xuống bếp. Súng không lắp đạn. Bắn ai cơ chứ? Cách đây mấy biệt thự, tuy vẫn còn lính Tàu, nhưng khí thế cách mạng những ngày qua cũng có ảnh hưởng. Tôi đứng ngắm cảnh hồ Ha-le là chính, cho đến chín, mười giờ tối là lên phòng riêng, phía phải, tầng hai, bật đèn, đọc lại tờ báo hàng ngày.

Thêm một lý do tại sao phải canh gác như vậy, là vì tin chiến sự miền Nam. Quân đội Anh, Ấn ở Sài Gòn đã hỗ trợ quân Pháp âm mưu chiếm lại miền Nam, chống phá chính quyền cách mạng non trẻ.

…Tiếng súng vang sông núi miền Nam

Ấm đất nước Việt Nam

Ta muốn băng mình tới phương Nam

Quyết giết quân tham tàn…

Và thế là tôi băng mình tới phương Nam… cùng anh bạn Tuấn San – người có bút danh Thệ Thủy khi anh in cuốn sách thứ nhất hồi chưa Cách mạng tháng Tám. Anh viết về một con vịt - chẳng biết có như con vịt xấu xí của Andersen sau này tôi mới đọc không - chỉ biết người em tài hoa của nhà thơ Thâm Tâm mà tôi vẫn coi cọp báo Tiểu thuyết thứ Bảy để được thuộc cả mấy bút danh khác là Tô Hoài, Nam Cao,… người em ấy đến năm 1958 đã trao cho nhà xuất bản Kim Đồng một bản thảo thật là đặc sắc. Cuốn sách sau đó được in đi in lại nhiều lần, có tựa đề mà nhắc tới, bạn đọc đều công nhận là hay, cuốn Hai làng Tà Pình và Động Hía. Cuốn sách có 36 trang thôi, nhưng là một trong số không nhiều cuốn viết về miền núi rất thành công của văn học thiếu nhi. Tuấn San không ký tên là Thệ Thủy như ngày nào mà đổi hẳn thành bút danh mộc mạc, khô khan: Bắc Thôn. Hỏi anh tại sao, anh cười: “Tại sao? Biết làm sao bây giờ?”.

Bắc Thôn còn có cuốn Vượt suối nâu, cũng in lần thứ nhất năm 1958. Cuốn sách đó, tôi có đề nghị vẽ bìa, vẽ minh họa để làm kỷ niệm với người bạn nhiều kỷ niệm thời học sinh, thời hoạt động cách mạng, thời viết văn, nhất là những ngày ở chiến trường phía nam. Những đêm văn nghệ phục vụ chiến sĩ, anh ngâm thơ, giọng vang và ấm, nét mặt thật truyền cảm:

…Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Khán giả nín lặng hồi lâu rồi tiếng vỗ tay trào lên như sóng biển xô bờ. Từ Thiếu tướng Tổng tư lệnh Nguyễn Sơn - con người của Vạn lý trường chinh, có tiếng là nghiêm nhưng lại rất chăm chút phong trào văn nghệ - đến “ba quân” đang ngồi bệt trên cỏ cũng đứng hẳn lên, hoan nghênh chàng Thệ Thủy, lúc này đứng cúi đầu khiêm tốn.

Chúng tôi bất ngờ được quay lại miền Bắc do Hiệp định mùng 6 tháng 3 năm 1946.

Anh Đỗ Trọng Giang từ tòa soạn báo Dân Chủ - tờ nhật báo miền duyên hải của mặt trận Việt Minh ở đường Lạch Tray, Hải Phòng - lên tận Hà Nội xin tôi về với mong muốn đào tạo tôi thành một phóng viên báo chí thực thụ. Khi ấy, tôi mới hơn hai mươi tuổi, đang sung sức. Tình hình lại đang rất cần những bài báo nóng hổi, phù hợp với mong muốn của độc giả. Những ngày ấy, xe liên kiểm Việt Pháp rú còi liên tục trên các ngả đường, báo trước ngòi lửa có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Rõ ràng là như vậy. Tòa soạn báo Dân Chủ bị cài bom, nổ tung vào một buổi gần giờ nghỉ trưa. Chỉ sập có gian nhà chính, mất hết loạt bài vở đang lên khuôn cho số báo hôm sau và các tư liệu nghề nghiệp. Tầng dưới là phòng cơm nước. Có nghĩa là bữa cơm trưa ấy, chúng tôi nhịn. Nhưng may thay, cả tòa báo không một ai bị thương tích. Những bài mất rồi được phân công nhanh, viết lại, còn nóng hổi hơn bài bị vùi trong gạch vữa. Cả Hải Phòng và các vùng lân cận như Đồ Sơn, Quảng Ninh, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông, xa hơn nữa là Móng Cái, phía trong là Thủy Nguyên... sáng hôm sau đã có báo Dân Chủ như mọi sáng bình thường.

Nhưng đến tháng 11 năm ấy, giặc Pháp đã thực sự khiêu khích, nói thật chính xác, chúng đã nổ súng...

Một tháng sau, ngày 19 tháng 12 năm 1946. Sẩm tối, cả Hà Nội ầm ầm những loạt đại bác ngay ở nội thành.

Cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp của dân tộc Việt Nam thắng lợi với trận Điện Biên Phủ vĩ đại vang dội năm châu bốn biển, kết thúc ngày 7 tháng 5 năm 1954.

Những hình 3

- Gặp anh Nguyễn Huy Tưởng trên quê hương cách mạng

- Chiến sĩ lục quân khóa 5

- Nếu không phải là hai năm ấy

- Lại mưa về nguồn

Tôi không nhớ rõ ngày tháng, nhưng lần gặp anh Nguyễn Huy Tưởng ở mạn Thái Nguyên, trong phố Đu. Tôi nghĩ mình lại nhầm nếu gọi bản ấy là phố, nhưng lúc gặp là buổi tối trong gian nhà tre nứa miền núi, không phải là nhà sàn. Trong nhà không thắp đèn, nhìn quen mắt mà nhận ra nhau.

Bấy giờ, tôi là biên tập báo Quân Du Kích, tờ báo có anh chủ nhiệm tên là Đào Phan - rồi tôi mới biết tên thật anh là Đào Duy Dếnh, em ruột nhà sử học Đào Duy Anh. Anh Đào Phan nhỏ, gầy, mắt hiếng, mỗi buổi chào cờ nói thao thao, quyết đoán, dứt khoát. (Sau này, anh có tới chơi ở nhà 268 Nguyễn Đình Chiểu, TP.HCM, lại thấy anh dí dỏm, có duyên, bàn chuyện văn chương thấu đáo).

Nhà báo Pháp Léo Figuères sang Việt Nam để viết bài về cuộc chiến chống Pháp. Đồng chí Tố Hữu tiếp đón. Trước buổi đó, có một số văn nghệ sĩ và cán bộ đến chuẩn bị. Lúc ấy chưa thắp đèn. Và có lẽ cũng không phải đấy là địa điểm chính. Tôi chợt nhận thấy một người khá quen, khi cả hai cùng nhìn rõ nhau thì cùng “a” lên nho nhỏ:

- Anh Nguyễn Huy Tưởng!

- Ô! Tống Ngọc! Cơ quan nào vậy?

- Dạ! Quân Du Kích!

- Chỗ Đào Phan?

- Vâng!

Anh nắm nắm cánh tay tôi. Nhưng cả hai anh em chưa nói thêm được gì thì anh Tố Hữu cùng vài người khác đã vào gian nhà. Các anh đã trao đổi ngay những gì tôi không rõ nữa. Tôi chỉ còn biết lảng ra chỗ khác, và suốt từ đấy, tôi có ý tìm, cũng không thấy anh Tưởng đâu nữa.

Dù sao, tôi cho thế là may mắn. Đấy là lần gặp thứ hai. Tôi nhớ lần thứ nhất là hồi Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi tôi còn làm thư ký riêng cho anh Bộ trưởng Dương Đức Hiền. Một buổi cùng đi công tác, anh Hiền cho xe ô tô đến đón một vị khách mà trên chặng đường từ 55 Quang Trung đến đó, anh Hiền cứ cười bảo tôi:

- Em sẽ vừa ý đấy. Một nhà văn!

Khi người lái xe mở cửa xe phía sau, đã có anh Hiền, người khách tươi cười nhưng thật khẽ khàng chào tất cả mọi người, cảm ơn anh lái xe, rồi ngồi ngay bên anh Hiền sau khi bắt tay nhau. Anh Dương Đức Hiền nói ngay với tôi:

- Giới thiệu với em, đây là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Hôm nay, chúng ta sẽ đi Bắc Ninh để bà con cử tri tiếp xúc với ứng cử viên vào Quốc hội là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, đại biểu Bắc Ninh.

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng đưa tay bắt tay tôi làm tôi lúng túng, lí nhí thưa:

- Em chào anh ạ!

Đấy là lần gặp thứ nhất. Hai anh rì rầm nói chuyện. Tôi chỉ ngắm nhìn các nhịp cầu Long Biên và mặt nước sông Hồng như thoáng có sương bay nhè nhẹ.

Lần gặp thứ hai đột ngột và không lâu bằng. Các văn nghệ sĩ nào có dịp ghé qua báo Quân Du Kích đều “được” tôi hỏi thăm, nhưng không ai rõ anh Nguyễn Huy Tưởng ở địa điểm nào.

Tôi thường gặp họa sĩ Nguyễn Bích, thời gian ấy là họa sĩ của báo Quân Du Kich, tờ báo mà tôi đang làm việc. Tôi đoán chắc anh biết chỗ anh Nguyễn Huy Tưởng ở, nhưng anh rủ rỉ trả lời:

- Làm sao mà chỉ đường được. Chả có phố, cũng chả có số nhà. Chưa kể phải “bem1“!

Vui vậy thôi, chứ anh Bích cũng không biết, dù ở đây lâu rồi.

Rồi trôi qua mọi điều.

Chiến dịch biên giới. Phải chia nhỏ cơ quan.

Lãnh đạo thuận cho gia đình tôi, gồm vợ chồng và đứa con hơn ba tuổi vào khu bốn. Phương tiện: đi chân băng rừng.

Hiển nhiên tôi là chủ gia đình phải gánh mọi trách nhiệm. Tôi không hình dung nổi con lạc đà chuyên chở mấy tấn, mấy tạ mỗi chuyến vượt sa mạc nóng rang, cát bụi mịt mù. Tôi cũng chẳng nghĩ tới con vật tôi dễ gặp là con lừa, cứ lầm lũi cắm đầu chuyển tất cả các đồ đạc người ta chất lên tấm lưng có chừng mực của nó. Tôi mở mấy số báo có ảnh chiếc xe đạp thồ, để tự cảm thấy mình là chiếc xe đạp thồ, là sát thực tế nhất. Nào có nhiều đồ đạc gì, nhưng cũng phải một ba lô đầy chất trên lưng mình, một ruột tượng đầy gạo, tính toán sao cho đủ những ngày đường rừng núi chẳng có hàng quán gì đâu. Vợ tôi gầy yếu, đeo một túi dết đựng các thứ lặt vặt và cái xoong thổi cơm, vài ba cái bát, đũa, thìa, bao diêm. Củi và lá rụng thì rừng núi cho không rồi, chỉ lo mưa liên miên thì đói thật chứ sao.

Một cái ba lô nữa, vợ tôi thử đeo nhưng không được. Đó là thằng con lên ba. Thử mãi, cuối cùng chỉ còn cách làm cái địu, tôi đeo nó ở phía trước bụng; bụng con áp sát bụng bố, chân thòng sang hai bên. Có lúc nó muốn tiểu, không kịp tháo địu, nó đái luôn vào bụng bố, nóng như nước trà pha ủ trong giành. Những lúc ấy, nếu gặp suối thì giặt rồi phơi lên nón lá của mẹ nó, nếu không chỉ vắt khô treo lồng vào một cành cây gánh vai, hong gió…Vợ tôi lại không đi được dép, dù là kiểu gì và làm bằng gì; chỉ quen lê đôi guốc mộc quai ngang, liệu tính toán sao cho vừa chặng đường để kịp thay đổi, còn khó hơn so với chiếc xe đạp hay ô tô thay săm lốp.

Vậy mà, cứ thế, bộ ba dìu, cõng nhau đi từ rừng núi Thái Nguyên tới rừng núi Thanh Hóa. Và từ Quân Du Kích lại nhập lán trại của những người lính trường Lục Quân đang khóa đào tạo sĩ quan khóa 5 ở mạn Núi Nưa - mỗi khi mưa to, sét nổ long trời hơn giặc phóng rốc két.

Có lẽ những điều nhắc lại trong những ngày ở trường Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 5 là những buổi trình diễn kịch nói mà vợ tôi cũng đảm nhiệm một vai nữ không thể thiếu ở “đội kịch” này, lý do chỉ vì là một nữ diễn viên duy nhất. Tôi viết kịch bản từ gợi ý của nhà đạo diễn Lộng Chương; thêm các trao đổi của nhà thơ Nguyễn Xuân Huy, tác giả tập Nắng đào, Thềm nhà cũ một thời được ca ngợi, nhất là qua những nhận xét tinh tế của nhà văn Hoài Thanh, Hoài Chân - tác giả tập Thi nhân Việt Nam, mái nhà của các nhà thơ Việt Nam từ những năm 40; ý kiến của anh Hoàng Linh, người có công kiếm tìm chúng tôi tại khu rừng thông Thanh Hóa. Đội kịch có vài ba cậu lính trẻ của trường Lục Quân nữa, trong số đó có cậu Bá, một “đối tượng” của nhà thơ Xuân Diệu khi đoàn công tác văn nghệ đến thành nhà Hồ mở một lớp huấn luyện văn nghệ cho trường, chúng tôi đều được dự. Thêm nhạc sĩ Tô Hải lúc đó là lính trơn nhưng có mấy ca khúc vui nhộn được anh em lính hát say sưa: “Bà ba không chồng mà đông con…”. Tới dự lớp còn có nhạc sĩ Trần Hoàn bấy giờ cũng mang áo lính.

Ban huấn luyện do các nhà văn Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Đồ Phồn, Trương Tửu phụ trách. Có một họa sĩ tôi chỉ còn nhớ tên là Cát, gầy gầy, có ria mép, lém lỉnh.

Không hiểu thế nào, trại văn nghệ này lại có một học viên thanh mảnh, trắng trẻo, cao cao, ở đơn vị cử tới hay tự ghi tên, cũng chẳng ai hỏi nhau, biết vậy thôi. Chàng học viên này được chú ý tới sau sự kiện một đám cháy nhỏ bùng lên trong xóm, anh chạy tới cứu chữa tận tình. Nhưng sự chú ý bộc lộ khi ban phụ trách trại đọc bài văn của anh. Đến phiên kiểm tra, nhà văn Nguyễn Tuân khen là “cây bút có triển vọng”. Bấy giờ, chúng tôi mới biết tên anh là Nguyễn Khải, hình như quê mạn Hưng Yên…

Còn cậu Bá ở Lục Quân, trắng, má còn lông tơ mịn, được mọi người chú ý ngay là vì chiều chiều thấy cậu được nhà thơ Xuân Diệu lững thững đi bên, nhẹ bước trên những lối lót đá của khu thành nhà Hồ. Đến học, tôi thoát khỏi cái nạn “được” cậu Bá này thổi còi giục dậy lúc bốn giờ sáng để tập thể dục, khi con trai nhỏ của tôi mới bốn tuổi đang ngủ ngon giật mình thức giấc, hoảng hốt như vừa qua cơn ác mộng. Tôi rất bực, khi nhớ tới mỗi bữa cơm đựng trong cái nắp tròn gọi là “gầu mên” có gờ cao 3 cm, bữa nào thức ăn cũng chỉ có con cá khô, mặn mòi, thô lố hai con mắt hạt đỗ. Món ăn hai vợ chồng tôi mua thêm cho cháu thường là đậu phụ, đem về luộc cho chóng được ăn, chấm muối trắng… Dù sao, đó là thời gian mà tôi được sống với các văn nghệ sĩ hàng đầu của Việt Nam, được học hỏi bao điều hay bổ sung cho vốn sống hạn hẹp của cá nhân mình. Sau này, khi nhà xuất bản Kim Đồng in cuốn Trung Thu, Trung Thu, tôi có một bài nho nhỏ được đăng, chính là nhà văn Nguyễn Tuân đã động viên tôi “ …viết cho bọn nhỏ đọc là như thế…” là đã có so sánh những gì tôi được ông đọc hồi ở thành nhà Hồ. Tôi cũng xúc động không kém, khi quân ta vào tiếp quản Thủ đô mùng 10 tháng 10 năm 1954, sau đó ít lâu, nhà thơ Xuân Diệu có đến nơi tôi ở, số 146 phố Huế, lúc tôi vắng nhà đâu đó, có gửi lại một mảnh giấy gỡ vội ở sổ tay, viết để lại mấy dòng, đại ý: “… Mình và Nguyễn Xuân Sanh đến thăm, nhưng Tống Ngọc vắng nhà.. Hẹn gặp…”, ký tên Xuân Diệu.

Tôi tiếc ngẩn ngơ, ân hận vì đã không có mặt để có dịp nhắc lại những ngày tôi được các anh hướng dẫn chỉ bảo ở thành nhà Hồ này.

Những hình 4

- “Người muôn năm cũ…”

- Từ thầy giáo dạy văn đến cây bút chuyên văn

- Nổi nênh con thuyền đã gặp nơi bến đậu.

Tổ công tác văn học ở nội thành Hà Nội những ngày trước chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 gồm một số anh em có những nghề không phải là viên chức ăn lương, hạn chế sự biết rõ nhau là ai dù người này cũng từng biết người nọ.

Tôi và anh Hoài Việt quen nhau từ những bài thơ đăng báo, rồi tôi mới biết anh là một nhà giáo dạy tư một vài môn xã hội. Có những lúc tôi đến nhà anh ở phố Hàm Long, có những lúc chúng tôi gặp nhau ở đâu đó trên đường phố. Cả hai cùng ít nói nhưng tôi ít nói hơn. Nhưng rồi chúng tôi thật hiểu nhau: “Phải làm gì đó cho Hà Nội yêu dấu của chúng ta… Những tin tức của Điện Biên Phủ đã càng rõ rồi đấy…”.

Chúng tôi có thêm những anh em khác qua các cuộc gặp nhau khác, các tín hiệu khác. Cuộc triển lãm tranh của Bùi Xuân Phái “bày chơi mời vài bạn hữu…”. Cuốn lý luận mới in của Hoàng Công Khanh từ nhà xuất bản Kuy Sơn mà ra… rồi dồn dập các cuộc triển lãm cá nhân của Văn Xương, của Đinh Minh, của Nguyễn Văn Bổng, của nhóm học trò họa sĩ Nguyễn Tiến Chung… như hẹn nhau, như được dịp gặp nhau tâm sự… Nói vậy thôi, phải rất thận trọng. Đưa hình của Bùi Xuân Phái vào đây.

Anh Hoài Việt có trách nhiệm về tôi, mách tôi một cách che mắt địch: ‘‘Có thể lọt vào hàng ngũ bọn nó, làm giáo viên văn học. Ngọc biết vẽ, kiêm luôn giảng viên hội họa, từ đó, ta giữ được học sinh. Bọn nó thất bại ở chiến trường, hẳn sẽ tìm cách lùa người đi di cư càng nhiều càng có lợi cho chúng ta. Ta phải giữ người của ta, giữ được các em học sinh là giữ được cả phụ huynh các em…’’.

Tôi hiểu ra điều đó.

Thế là tôi trở thành giáo viên môn văn các lớp cấp hai, ở một vài trường mà tôi có quen người này, người nọ.

- Thầy Ngọc có cuốn Cu Tý hay lắm!

- Thầy Ngọc làm thơ nữa cơ. Đã đọc tập Khúc ca thơ ấu của thầy chưa?

Học sinh của tôi kháo nhau. Những điều tôi nghe được về các cuốn sách in của mình, không phải chỉ làm tôi vui, mà cho tôi một điều yên lòng lớn. Các học sinh sẽ nghe tôi và sẽ che chở cho tôi nếu có địch dòm ngó. Thật ra, cuốn Cu Tý gặt hái được dư luận tốt. Các báo nội thành đăng nhiều bài ký tên của nhiều bè bạn văn nghệ, của các phụ huynh gần xa, hoan nghênh về tính giáo dục của cuốn truyện đang còn rất hiếm hoi trong môi trường xã hội loạn ly lúc đó. Thơ viết cho tuổi nhỏ càng thêm hiếm hoi. Có những bài viết từ Sài Gòn, cho tôi hiểu ở đâu đồng bào cũng hướng về chính nghĩa.

Riêng về nghề “thầy giáo” của tôi, nhờ đi dạy, tôi lại được thêm nhiều trường mời nhận giờ. Có trường níu vào giờ làm giáo viên chủ nhiệm. Đồng tiền kiếm được vẫn chật vật cho một gia đình có mẹ già, vợ là nội trợ và ba cháu lít nhít, nhưng tôi vui vì đã làm tốt nhiệm vụ.

Tin tức tôi vẫn nhận được đều qua tổ công tác, cho tới ngày cùng đồng bào Thủ đô đón mừng đoàn quân chiến thắng tiến vào tiếp quản Hà Nội. Có lẽ trong tiếng reo hả lòng hả dạ của muôn người, cũng có âm vang của cả gia đình tôi lúc đó.

Hoài Việt và tôi cũng như bao anh em văn nghệ sĩ khác luôn luôn tới các cuộc họp của ngành. Tôi được anh Hồ Dzếnh mời dự ở ngành văn cùng lúc với anh Lê Quốc Lộc mời dự ở ngành họa, thật là nhộn nhịp.

Nhưng lạ nhất là lúc tôi gặp anh Hồ Thiện Ngôn từ trụ sở Đoàn Thanh niên Lao động, số 60 Bà Triệu, sang trụ sở 51 Trần Hưng Đạo của Hội Văn Nghệ Việt Nam gần đó, tìm gặp. Anh là cán bộ Trung ương Đoàn lúc đó. Câu đầu, anh Ngôn nói:

- Tôi đã xin phép anh Tô Hoài để nói chuyện với anh hôm nay…

Anh Ngôn nói gì thêm lúc ấy tôi nghe câu được câu chăng do giọng miền Nam, nhưng nhắc đến anh Tô Hoài, tôi thật sự hồi hộp. “Người muôn năm cũ”, tôi chợt nghĩ vậy và nhớ những ngày “ coi cọp” báo Tiểu thuyết thứ Bảy phố Hàng Bông, ngày gặp nhà văn Nam Cao ở trụ sở sách Hoa Mai - Cộng Lực, thời gian mà các bút danh Tô Hoài, Nam Cao luôn luôn hiện trước mắt tôi và trong lòng tôi. Bây giờ lại được nghe có người nhắc đến tên nhà văn Tô Hoài - “người muôn năm cũ”, tôi sao xuyến, nôn nao.

- Vâng, tôi rất muốn gặp anh Tô Hoài.

- Tôi cũng đang định hỏi anh sẽ hẹn gặp anh Tô Hoài vào lúc nào và địa chỉ nhà anh ở đâu?

- Anh có thể cho tôi biết qua nội dung cuộc gặp đó. Còn tôi, tôi rất sung sướng nếu gặp được anh Tô Hoài.

Các buổi ban ngày tôi vẫn đi dạy học đều. Cứ mười phút của giờ ra chơi, trong khi học sinh nô đùa, thư giãn, thì những ai dạy học có giờ ở nhiều trường tận dụng mười phút đáng lẽ được nghỉ, mà cắm đầu cắm cổ đạp trọn quãng đường nối hai trường. Chỉ có giờ nghỉ lúc chín giờ sáng thì các trường thống nhất dành hai mươi phút cho chuyển dịch, có đỡ hơn một chút. Anh của nhà báo Đào Phan (tức Đào Duy Dểnh, em nhà học giả Đào Duy Anh, tôi đã viết ở phần trên) lại có người anh nữa mở trưởng tư thục, trường Long Biên, cách Nhà xuất bản Kim Đồng - 55 Quang Trung hiện nay - khoảng dăm nhà, cũng ở mé đường đó đi về phía Tràng Thi. Anh này tên là Đào Duy Phiên. Anh rất chiều tôi, xếp giờ sao cho phù hợp để mười phút đủ cho tôi còn thở ít giây, tiện nhất là giờ chuyển đến trường Tây Sơn của anh Trương Văn Minh ở đường Trần Nhân Tông, lối đi ngang qua Kim Đồng 55 Quang Trung; hoặc là giờ chuyển đến trường Tân Trào ngay góc Hỏa Lò, Hàng Bông Nhuộm. Khi khoảng nghỉ có được hai mươi phút, tôi chuyển từ Long Biên đến trường Thăng Long ngay giữa quãng Nguyễn Thái Học và Cửa Nam. Ôi, tha hồ mà thở. Dù sao, tôi vẫn nới cravate, rất bình tĩnh, nhìn các học sinh, vẫy tay thật nghiêm chỉnh:

- Các em ngồi!

Rồi giở vở soạn bài, lướt nhanh mấy dòng đầu gợi nhớ toàn bài, nhập tâm giảng thật thấm thía. Nếu là bài của một tác giả nhà văn, nhà thơ nào mà tôi có chân dung in ở báo hay sách, tôi đều vẽ to ở nhà, lúc giảng treo luôn lên bảng để học sinh ít ra cũng hình dung được đôi nét về tác giả. Cách dạy này của tôi được cả các thầy khác cổ vũ, nhưng đều kết luận: “Anh là họa sĩ mà. Ai làm thế được!”.

Các buổi ban ngày không phải hôm nào cũng kín giờ, nhưng hẹn gặp anh Tô Hoài với anh Hồ Thiện Ngôn thì không hẹn buổi ban ngày được. Nhưng riêng anh Ngôn lại đến tôi vào buổi ban ngày. Anh đến một mình, nói trước những dự kiến để anh Tô Hoài nếu có gặp khỏi phải nói những chi tiết đó. Chỉ biết, khi chia tay, anh Ngôn có vẻ quan trọng:

- Nhớ nha! Cần chuẩn bị để trường bố trí giảng viên khác. Thành lập cơ quan mới, phải có người đảm nhiệm việc này việc nọ, mà “ông” là một đó.

Nhà văn Tô Hoài không đến tôi một mình. Anh cùng đi với nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Tôi mừng đến nghẹn ngào. Hai anh hỏi tôi về các sáng tác đã in. Tôi e dè bày mấy cuốn của tôi đang có ở nhà. Các anh cầm lên khen đôi ba câu, so sánh giữa hình thức các cuốn in ngoài chiến khu và in trong Hà Nội.

Còn tôi, chỉ ngắm nhìn hai nhà văn, nhà thơ bấy lâu mình ngưỡng mộ, lúc ấy lại có thể lại ngồi gần mình như vậy sao? Anh Tô Hoài thì tôi đã đọc nhiều do luôn luôn đến nhà in Tân Dân “coi cọp” hồi còn đi học. Thơ anh Nguyễn Xuân Sanh thì quả là mới đọc rất ít, lại cách quãng, chỉ nghe những người am tường kể lại, nhưng nhớ mãi một câu thật khó hiểu là: “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”.

Anh Nguyễn Xuân Sanh nghe tôi nói, chỉ mỉm cười. Giọng miền Trung của anh như gió nhẹ, có nhạc, nhưng tôi phải thật lắng nghe mới rõ lời.

Các anh đến rất nhanh. Xuống cầu thang, ra đến vỉa hè, anh Tô Hoài nói thêm:

- Mình sẽ đến nữa đấy. Những gì mà Ngôn nói, bọn mình đang tiến hành, đang chuẩn bị. Sẽ bận lắm đấy. Ngọc gắng nhé.

Đúng là tôi phải cố gắng rất nhiều.

Gần cuối năm 56 ấy, gia đình tôi lại có thêm một cháu nữa. Sắp sửa chuyển từ nhà giáo sang nghề xuất bản sách, tôi cùng gia đình đặt tên cho cháu trai thứ tư này là “VĂN”. Riêng thâm tâm tôi, đó là lời hứa: “Từ nay cho đến cuối đời chỉ đeo đuổi nghiệp văn chương”. Lời hứa thật thầm kín, thật thiêng liêng, vì điều thiết thân, thực tế nhất là việc tới các trường đề nghị được giảm giờ lên lớp dần dần và nếu được chấp nhận thôi hẳn, tôi cũng thấy cần dứt khoát. Tôi vẫn soạn bài giảng thật kỹ, nhưng những lúc cả lớp cặm cụi làm bài tập, tôi không khỏi nghẹn ngào, đưa ngón tay gạt màng nước đang dâng lên khóe mắt. Với tôi, các em đều chịu khó nghe lời giảng dạy, có trường hợp thường hỏi thêm ngoài bài học. Dù sao, muốn chia tay được, phải là hết niên khóa, nghĩa là tới kỳ nghỉ hè này. Nghỉ dạy học là “ nghỉ” cả khoản tiền nuôi vợ con.

Tôi hiểu là nhà văn Tô Hoài còn đang giải quyết nhiều khúc mắc, đi lại như con thoi giữa cơ quan Hội Nhà Văn (lúc đó đang là Hội Văn Nghệ nói chung) và các cán bộ của Trung Ương Đoàn. Anh Hồ Thiện Ngôn đôi lúc lại nói một tin, có vẻ để tôi yên tâm, khuyến khích tôi nghiêng về phía xuất bản, nhưng cũng chưa dám thúc việc thôi các giờ dạy học. Gia đình thì tùy tôi, quyết định thế nào thì vẫn tôi là người đứng mũi chịu sào, trăm dâu đổ vào đầu tằm, chứ còn sao nữa.

Các anh, các chị tôi, mỗi người ở mỗi nơi, chẳng ai có thể giúp được gì cả, thư từ chỉ quanh quẩn những dòng hỏi thăm sức khỏe và mong cháu “hay ăn, chóng lớn’’.

Qua cái Tết cổ truyền, đầu tháng ba năm 1957, một buổi tối rét đậm, tôi đang chấm bài thì nghe tiếng cọt kẹt ở cầu thang gỗ. Tiếng động có vẻ người đang bước cố không để chủ nhân phiền lòng. Tôi vội ra mở cửa, dù chưa có tiếng gõ. Khách chính là nhà văn Tô Hoài. Tôi ngỡ ngàng một thoáng rồi reo lên như đúa trẻ đang mong đón mẹ về chợ.

- Thưa... Anh!

Đội mũ bê rê nhưng cứ nhấc khỏi đầu, anh Tô Hoài cười tủm tỉm như nụ cười tôi vẫn thường nhận khi gặp anh ít lâu nay. Anh cho mũ vào cái túi rộng của áo khoác, đứng trong bóng tối, chỉ còn là màu đen, anh nói khẽ:

- Mình đây! Có làm phiền Ngọc nhiều không? Cả nhà đã ngủ chưa? Cháu bé có bị mình đánh thức không nhỉ?

- Thưa, mời anh vào, kẻo lạnh.

Nhà văn Tô Hoài toan cởi áo khoác, nhưng còn lúng túng trả lời tiếng chào của mẹ tôi và vợ tôi, rồi cả các cháu nói ran đồng loạt “Chào bác ạ!”, làm anh lại choàng áo lạnh vào, tiến đến bàn, vừa là nơi tiếp khách, vừa đầy các bài vở của học sinh, nói khẽ:

- Để đây được không?

Ôi! Tôi nhìn anh móc ở túi trong của áo khoác một chai nhỏ, nói là một cút cũng đúng, đựng nước trắng, chỉ nhìn cái nút bấc đã biết ngay là rượu.

- Lạnh quá.

Chưa hết. Túi còn có cả một chùm quả nem, túm tụm vào nhau, các dây lạt đỏ chằng chịt.

- Không biết Ngọc có thích không? Cho vui thôi. Hôm nay có tin vui đây.

Gia đình tôi đã sang phòng bên. Chỉ còn tôi tiếp anh. Ấm trà pha sẵn để trong giành cho tôi dùng trong ngày lại được anh ưa hơn. Cho đến lúc anh về, rượu và nem anh mang tới vẫn còn nguyên trên bàn.

Hai anh em kéo ghế ngồi gần liền kề. Anh nói nhỏ nhưng nghe rất rõ:

- Có thể sau đây mươi lăm ngày, một cuộc họp liên tịch giữa ba cơ quan gồm Hội Nhà văn Việt Nam, Trung Ương Đoàn Thanh Niên và Bộ Giáo dục sẽ được tổ chức tại Hà Nội. Cuộc họp bàn đến việc thành lập một nhà xuất bản sách văn học cho trẻ em cả nước. Từ buổi họp liên tịch này, chúng ta mới có cơ sở sáng tác và in ấn cho thiếu nhi. Ngọc có thấy vui không?

- Đúng như anh thường nói...

- Không phải thế, mà đúng như ước vọng của tất cả những ai muốn chăm sóc đời sống tinh thần cho con em cả nước mình.

Tôi đếm từng ngày.

Và đó là ngày 16 tháng 3 năm 1957, thứ bảy.

Tại trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, số 51 Trần Hưng Đạo.

Tôi không thể nào để mình chậm trễ khi nhiều người khác đã lần lượt tới. Tuy nhiên, điều tôi không hiểu là không phải ai có mặt lúc ấy đều là tới dự buổi họp bàn về thành lập một nhà xuất bản sách cho trẻ em. Vì còn các cán bộ, nhân viên làm các việc khác ở số nhà ấy.

Rất mừng cho tôi là cả nhà văn Tô Hoài và anh Hồ Thiện Ngôn đều đã tới. Có hai anh cùng đi đi, lại lại với anh Ngôn lúc mới vào rồi cùng bắt tay anh Tô Hoài.

Đấy là anh Hồ Trúc, người đậm, có nụ cười hiền hậu, niềm nở và anh Cao Ngọc Thọ, gầy gầy, hơi đen, thật nhã nhặn. Qua anh Ngôn, tôi hiểu là các anh ấy đại diện cho Ban Bí thư Trung ương Đoàn ở cuộc họp.

Ở ngả cửa khác dẫn tới phòng họp, mọi người lần lượt tới. Tôi thật bất ngờ nhìn ra nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đang gật gật chào mọi người. Mãi mới đến lượt tôi nắm bàn tay anh, nói đúng một tiếng: “Anh!”. Từ hồi ở Việt Bắc, bây giờ không ngờ lại gặp anh ở đây. Chẳng kịp nói thêm gì. Nhiều người khác đã hỏi chuyện anh. Có một anh kéo tôi ngồi vào ghế cạnh, có lẽ muốn có người để nói chuyện vì cả hai bên ghế ngồi phía anh chưa có ai.

- Tôi là Nguyễn Văn Phú, công tác ở Bộ Giáo dục. Còn anh công tác ở đâu?

- Thưa anh tôi là Ngọc, hiện đang dạy học...

- Hay lắm, cùng họ cả đấy.

Chúng tôi quen nhau ngay, nhưng quả là chưa có chuyện gì đế kết dính thêm được.

May mà buổi họp đã bắt đầu khá đúng giờ. Anh Hồ Thiện Ngôn nói mấy lời giới thiệu gọn gàng và nhà văn Tô Hoài đứng tiếp ngay, chìa tay về phía từng người:

- Chúng ta đã biết nhau cả, tôi chỉ xin phép nói thêm thế này: buổi họp sẽ có ý kiến của tất cả chúng ta, đại diện cho ba đơn vị lớn là Trung ương Đoàn Thanh niên, Bộ Giáo dục và Hội Nhà văn Việt Nam.

Rồi anh cười, hướng về phía đối diện. Có một đại biểu trắng, mập và một đại biểu gầy hơn, cười rất tươi:

- Tuy ở đây có nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu nhưng hai anh hôm nay là các... nhà văn...

Cả phòng vỗ tay cười lớn.

Cuối cùng thì hóa ra ai cũng được nhắc tới một lần. Tôi được biết thêm anh Xuân Tửu, anh Phạm Hổ, ngồi gần các nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, nhà thơ Nguyên Xuân Sanh.

Ý kiến của mười hai đại biểu hầu như rất thống nhất. Ai cũng thấy đã đến lúc không chậm hơn được nữa, phải có một nhà xuất bản sách văn học cho tuổi nhỏ. Những cuốn gần đây đã xuất bản trước khi về tiếp quản thủ đô coi như mở đầu cho bước đi này.

Có đại biểu lo cho việc làm sao có bản thảo để xuất bản được đều đặn, không thể chỉ in được một đợt rồi lại nghỉ dài. Có mấy ý kiến trả lời ngay, thật sốt sắng: “Phải viết chứ! Chúng ta lúc này đã có mười hai cuốn rồi này! Chẳng lẽ thế rồi thôi không viết nữa sao?”.

Tôi nghe anh Cao Ngọc Thọ thì thầm với anh Ngôn:

- Này, tôi không phải là nhà văn đâu nhé!

Và cả hai anh cười che tay lên miệng.

Có ý kiến đi xa hơn:

- Phải có nhà in riêng. Phải có kho giấy, giấy thật tốt ấy. Còn nội dung phải thật hay, hình thức phải thật đẹp, xuất bản phải đúng kỳ và không được bán giá cao. Đừng có in ra để các cháu đứng ngó...

Tất cả đều được mọi người nhất trí và nhắc lại nhiều lần.

Sang phần đặt tên cho nhà xuất bản. Phòng họp im lặng hồi lâu. Những tên gì liên quan đến trẻ em đều được đề ra:

- NHÀ XUẤT BẢN THIẾU NHI VIỆT NAM - Hơi dài.

- NHÀ XUẤT BẢN SÁCH CHO TRẺ EM - Thật thà quá!

- NHÀ XUẤT BẢN MĂNG MỌC THẮNG - Em nào là đội viên chắc tán thành.

- NHÀ XUẤT BẢN TUỔI NHỎ - Là bao nhiêu tuổi?

- NHÀ XUẤT BẢN THÁNH DÓNG - Hợp với lịch sử nhiều hơn

- NHÀ XUẤT BẢN THIẾU NIÊN TIỀN PHONG - Lại trùng với báo rồi.

- NHÀ XUẤT BẢN CHÁU BÁC HỒ - Người lớn cũng là cháu Bác chứ!

- ...

Tôi nhìn sang phía anh Tô Hoài. Anh đứng lên, im lặng mãi mới nói. Ai nấy lắng nghe như biết trước điều anh nói ra sẽ có điều thật mới.

- Các anh đã góp rất nhiều tên thật hợp, thật sát, nhiều ý nghĩa. Trên cơ sở này, các đồng chí có trách nhiệm sẽ nghiên cứu và cân nhắc để chọn ra một tên nhà xuất bản mà chúng ta mong đợi nhất.

- Chưa thấy anh Tô Hoài đề xuất tên do anh chọn?

- Vâng. Tôi cũng có ý đưa ra đây để các anh cho ý kiến.

Anh Tô Hoài dừng lại, nhìn xuống tờ giấy để ở mặt bàn rồi cầm lên, đọc to: NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỒNG!

Phòng họp bỗng nhiên yên ắng, không ra tán thành, không ra phản đối và anh Tô Hoài ngồi xuống.

Mấy ý bàn bạc lào xào:”Kim Đồng, Ngọc Nữ” phải không?

Nhưng thấy nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đứng lên. Anh nói rất rõ nhưng nhỏ, giọng trầm:

- Ở chiến khu, khi in đợt sách cho thiếu nhi, chúng tôi đã dùng tên: “Sách Kim Đồng”. Vậy tên này được nhắc lại hôm nay thật ra không có gì mới lạ, tôi đã được biết. Tôi xin trình bày lai lịch hai chữ tên riêng “Kim Đồng” mà vừa rồi có đồng chí nhắc Kim Dồng, Ngọc Nữ. Có thể là Kim Đồng ấy chăng? Tên trùng nhau, cũng là lẽ thường. Nhưng tôi biết Kim Đồng mà anh Tô Hoài nói đây là một người bằng xương bằng thịt hẳn hoi. Đó là bí danh của em Nông Văn Dền, dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã Xuân Hòa, thuộc huyện Hà Quảng, trên Cao Bằng. Quê hương Kim Đồng là một trong những nơi được giác ngộ cách mạng trước nhất. Nhờ vậy Kim Đồng đã sớm được các cán bộ dìu dắt và kết nạp vào Đội Nhi đồng Cứu quốc đầu tiên...

Anh Nguyễn Huy Tưởng cười cười, nói với anh Tô Hoài:

- Nếu không phiền gì, anh cho tôi nói vài câu nữa được chứ ạ?

Anh Tô Hoài chìa tay như ra hiệu “xin mời”.

- Tôi chỉ tóm tắt vài ý thôi, các anh tìm bài báo của anh Tô Hoài đăng ở báo Cứu Quốc để biết tiểu sử Kim Đồng đầy đủ hơn. Chỉ biết là Kim Đồng đã hy sinh giữa một buổi đang canh gác cho một cuộc họp. Giặc đến bất thình lình. Kim Đồng cử bạn đi tắt về báo, còn mình thì đi ra phía giặc để đánh lạc hướng. Chúng đã bắn Kim Đồng. Chính tiếng súng của chúng đã báo động cho cán bộ tránh.

Anh Tưởng kết luận:

- Kim Đồng, người thiếu niên dũng cảm của núi rừng đã nêu một gương sáng cho thiếu nhi chúng ta về lòng yêu nước, yêu cách mạng. Nếu lấy tên một liệt sĩ thiếu nhi như vậy đặt tên cho nhà xuất bản sách cho thiếu nhi Việt Nam - NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỒNG - vừa ý nghĩa, vừa rất đặc biệt, chưa chắc thế giới đã có một tên nhà xuất bản sách cho trẻ em như ở nước ta đâu.

Tôi đoán mọi người sẽ tán đồng ý kiến dài của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và quả là như thế. Tiếng vỗ tay vang lên như không chỉ của mười hai đại biểu có mặt lúc ấy. Tôi thấy ở mấy lối ra vào phòng họp, cũng có vài anh, chị từ đâu ghé nhìn vào và lạ nhất là cũng vỗ tay!

Buổi họp lịch sử ấy diễn ra vào thứ bảy 16 tháng 3 năm 1957.

Ba tháng sau, chênh một ngày, ngày 17 tháng 6 năm 1957, vào tối thứ hai, đúng ra là 19 giờ thứ hai 17-6-1957, tại Câu lạc bộ Đoàn Kết, hai Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Hội Nhà văn phối hợp tổ chức ngày ra mắt của hai nhà xuất bản. Buổi lễ vừa trang trọng như một Đại hội Văn nghệ toàn quốc, vừa thân tình ấm cúng như cuộc họp mặt đại gia đình, gần như đầy đủ các nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ, đủ các lứa tuổi. Hội trường đông nghịt, nhưng không ai muốn đứng ngoài dù chỉ vài bước chân là có không gian mát mẻ thoáng đãng.

Tối đó, buổi chiếu phim chiêu đãi lại được phép mang trình chiếu lần đầu tiên bộ phim Ruồi trâu. Tan giờ vẫn còn nhiều người nấn ná muốn gặp trực tiếp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng để chúc mừng và chung vui với sự kiện văn học thật là mới lạ và đáng tự hào khi đánh dấu bước hình thành và phát triển của nền văn học cho thiếu nhi từ nay và mai sau. Mọi người cũng muốn gặp nhà văn Tô Hoài vừa nhận trách nhiệm Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn cùng hôm ấy, muốn vui thêm với nhà văn Tô Hoài về cái tên anh đặt cho Nhà xuất bản Kim Đồng...

Cũng từ ngày 17 tháng 6 năm 1957 lịch sử ấy của nền văn học cho thiếu nhi, cá nhân nhỏ bé là tôi chính thức là một thành viên của Nhà xuất bản Kim Đồng.

Tôi tự ví mình là một con thuyền nổi nênh mãi, từ nay đã có bến đậu.

Cuộc sống là một thử thách, một cuộc rèn luyện liên tục. “Bến đậu” không phải là một nơi nghỉ ngơi. Đó là một nơi để thử thách khả năng cống hiến và tình thương yêu người với người. Đó chính là “LỜI HỨA VỚI NGÀY MAI”.

Kết quả như thế nào phải được kiểm nghiệm.

Điều này, cần nhiều thời gian, nhưng rất cần có những con mắt tinh đời và những tấm lòng cao cả.

.......

(còn nữa)

Lệnh in


Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.