Tin mới Xem thêm

  • Phan Duy thích đề tài thế sự và quê hương

    Phan Duy là một trong 25 bạn viết trẻ của các tỉnh thành Nam Bộ được mời làm đại biểu tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ IV

  • Cuộc điểm danh lực lượng lớn nhất nước - 2

    Với 80 đại biểu chính thức tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ IV và 25 nhà văn trẻ khu vực Nam bộ làm khách mời, có thể khẳng định với số lượng này không kém gì so với Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc. Và tất nhiên là đông hơn Hội nghị viết văn trẻ thủ đô. Để làm được việc này phải nói đến sự năng động, nhiệt huyết của Ban Chấp hành Hội Nhà văn TP.HCM nhiệm kỳ này…

  • Trần Xuân Tiến - Văn trẻ việt: thực trạng...

    Một cách công bằng, những người viết trẻ cũng cần ý thức hơn nữa về những sản phẩm của mình thông qua những phản hồi của cả độc giả lẫn

  • Nguyễn Bàng hồn gửi lại cụm mười giờ...

    Này những bãi bờ/ Anh sẽ nhìn em thêm chút nữa/ Mai về Sài Gòn chỉ nắng với bụi thôi/ Đời viễn xứ mỗi lần đi là sợ

  • Cuộc điểm danh lực lượng lớn nhất nước - 1

    Đúng ngày kỷ niệm báo chí cách mạng Việt Nam, Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ IV đã diễn ra lễ khai mạc. Đây được coi là cuộc điểm danh lực lượng các cây bút trẻ lớn nhất cả nước…

  • Văn học thiếu nhi - mảnh đất chưa được khai...

    Trên thị trường, sách thì nhiều nhưng để tìm được đầu sách hay cho trẻ đọc không phải dễ. Những quyển sách hay và đẹp thì hầu hết đều

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tiểu Thuyết

Truyện vừa Trần Xuân An: Suối Hương - P1

25.10.2012-15:45

Nhà văn Trần Xuấn An

 

Lời thưa ngỏ

riêng về nguyên mẫu nhân vật và bối cảnh cụ thể

 

NVTPHCM- Ở cuốn truyện vừa (gồm năm truyện ngắn liên hoàn) này, tôi tự hư cấu tôi thành nhân vật tên Đình, trong bối cảnh có phần hư cấu và giữa những nhân vật khác ít nhiều cũng phải hư cấu, theo thủ pháp nghệ thuật điển hình hoá.

Lúc viết lại hồi ức về niên khoá 1979-1980, cách đây đã suýt soát ba mươi ba năm, vào tháng chín 2012, tôi đã năm mươi sáu tuổi. Tôi viết về chuyện mình, chuyện những người quanh mình, như thể viết về một người nào đó, những ai đó, xa lạ. Nhưng đây không phải là hồi kí – tự truyện mà là tiểu thuyết, một tiểu thuyết không dài (khoảng 110 trang sách – không kể phần phụ lục –, thường gọi là truyện vừa), và có phần hư cấu. Vâng, đúng vậy, có phần hư cấu, chứ không phải hoàn toàn hư cấu, tất nhiên là hư cấu theo một nguyên tắc nhất định, với ý thức tôn trọng hiện thực.

Nhìn tổng thể, hiện thực là như vậy, nhưng về chi tiết, tôi xin thưa trước, không phải hoàn toàn là chi tiết thật như vốn có. Có chi tiết cần phải tô đậm hay hư cấu thêm, hư cấu khác đi để làm nổi rõ nhân vật, tình huống hiện thực, bản chất hiện thực, theo yêu cầu của nghệ thuật viết truyện văn chương (khác với truyện sử kí), và đặc biệt, để bảo mật về thông tin riêng tư của các nguyên mẫu, về thực trạng thời sự thuở đó của một vùng đất.

Nói thế, nghĩa là vẫn thật sự có bóng dáng chính tôi và đồng nghiệp giáo viên cùng những người tôi quen biết, thân mến, quý trọng ở vùng đất tôi xin được gọi là Suối Hương (Đạ Hương), trong cuốn truyện vừa này. Đồng thời, nói thế, để tránh những ngộ nhận đáng tiếc, trên tất cả mọi khía cạnh, mọi lĩnh vực, chẳng hạn như về nhân thân, tư tưởng, hành vi của các nguyên mẫu nhân vật. Thậm chí, có thể xem như tất cả những con người thật, tình huống thật trong bối cảnh thật đều chỉ là các diễn viên sắm vai, các phân cảnh được bài trí trên sân khấu hay ở phim trường. Tuy vậy, nói thế, truyện vừa này vẫn rất chân thực, theo cách của tiểu thuyết nói chung và đặc biệt, theo cách của truyện văn chương – hồi ức, hồi ức được tiểu thuyết hoá.

Cũng xin được nhấn mạnh, vấn đề nguyên mẫu nhân vật, bối cảnh cụ thể không phải là chủ yếu của truyện văn chương (cho dù tiểu thuyết trường thiên, trung thiên hay đoản thiên).

Lời thưa ngỏ này được viết với tất cả lòng trân trọng, chân thành.

20-9 & 03-10 HB12 (2012)

Trần Xuân An

 

 

NỤ CƯỜI SUỐI HƯƠNG

 

1

 “Thảo nào cô gái ấy có nụ cười tươi tắn đến thế!”. Đó là câu văn khởi đầu một bài bút kí, ông Đình viết từ ba mươi mốt năm trước, về con người và vùng đất mới khai hoang có tên gọi là Suối Hương, bên bờ thượng nguồn sông Đồng Nai. Năm ấy, 1981, Đình còn là một anh giáo viên trẻ đang ở độ tuổi hai mươi lăm, sau khi Đình rời khỏi đất Suối Hương được gần một niên khoá, 1980-1981. Khi viết, bấy giờ Đình đang dạy học ở huyện Đạ Nông, cuối cao nguyên Lâm Viên – Liên Khàng, chốn phát nguyên, nơi chính là đầu nguồn sông Đồng Nai. Nguồn sông từ đó phải quanh co một quãng khá dài mới xuôi về đất Suối Hương, đất bậc thềm Nam Tây nguyên, nên khúc sông chảy bên cạnh Suối Hương vẫn còn là thượng nguồn. Và lúc này, khi ở cuối dòng sông đó, Đình đã trở thành một người sắp vào tuổi về già, ông lại nhớ đến câu văn hết sức bình thường nhưng chất chứa kỉ niệm kia.

Không phải ngẫu nhiên ông Đình bỗng nhớ...

Trong những tháng gần đây, vì có một người bạn mới chuyển nhà sang Nhà Bè, nơi sông Đồng Nai, sông Sài Gòn gặp nhau, trước khi đổ ra cửa biển Cần Giờ, nên ông Đình có dịp qua đó thăm. Và trong một hiệu sách nhỏ, ông gặp lại “nụ cười tươi tắn”  cách đây không phải một năm, mà đến ba mươi ba năm (1979-2012). Điều bất ngờ là cô gái có “nụ cười tươi tắn” ấy vẫn cứ ở độ tuổi hai mươi, trong khi Đình đã là một ông già năm mươi sáu tuổi.

Phải đến lần thứ hai, cách một tuần sau lần gặp đầu tiên, ông Đình mới định thần, lấy lại vẻ trầm tĩnh vốn có, để hỏi về “nụ cười tươi tắn”:

- Cháu vui lòng cho tôi hỏi, cháu có bà con thân thuộc gì ở Suối Hương, thuộc tỉnh Lâm Đồng không?

Cô gái đứng bán sách hơi ngạc nhiên, đặt vội cái nhìn vào gương mặt ông Đình, rồi như thể soi nhìn vào chính trí nhớ của mình, xem ông có phải là người quen nào đó không, và cô biết ông hoàn toàn xa lạ. Nhưng cô gái hàng sách phải khẽ gật đầu để trả lời câu hỏi thân thiện kia:

- Dạ, đó là quê của cháu. Ba mạ cháu lập nghiệp ở đó.

Ông Đình chỉ mỉm cười, tuy lòng khấp khởi vui. Ông buột miệng:

- Thảo nào! – Ông nói luôn –. Tôi biết chắc cháu là con gái của cô Nếp!

- Dạ, thưa chú, đúng là như vậy. Nhưng... Không biết vì sao chú lại biết mạ cháu?

Ông nhìn cô gái để thầm so sánh với hình ảnh mẹ của cô ba mươi ba năm về trước, với cái nhìn thân mật như nhìn một người cháu gái. Ông vội nói, như để giải đáp nhanh cho nỗi ngạc nhiên, thắc mắc của cô gái hàng sách:

- Hơn ba mươi năm trước, tôi có dạy học ở Suối Hương. Tôi là Đình, thầy giáo dạy ngữ văn lớp cấp 3, phổ thông trung học, lớp đầu tiên ở quê cháu đây.

Không khí thân quen bỗng vây bọc lấy hai chú cháu. Ông Đình nói tiếp:

- Cháu rất giống mạ cháu hồi trẻ, – Ông Đình lại nhìn kĩ cô gái –, phải nói y như hai giọt nước!

Cô gái bẽn lẽn:

- Dạ, cháu cũng nghe nhiều người nói như vậy.

- Bây giờ, vì là chỗ quen thân, nên chú hỏi thật nghe, mạ cháu hiện giờ như thế nào? Còn khoẻ không? Ba cháu cũng là người Suối Hương hay là ở xứ khác? Và chú cũng muốn biết duyên do nào cháu lại về đứng bán sách tại thành phố này? – Ông Đình hỏi thăm, có lẽ muốn biết ngay một lúc tất cả những gì về nơi quen biết cũ –.

- Dạ, cảm ơn chú. Ba mạ cháu cũng đều là dân Suối Hương, và cũng còn khoẻ cả. – Rồi không trả lời ngay vào câu hỏi cuối, cô gái nói –. Đây là nhà của ba mẹ bên chồng của cháu.

Ông Đình gật gật đầu:

- À, ra thế! Vậy thì hay quá. – Ông đưa cái nhìn về phía quầy thu ngân của hiệu sách –. Chắc bà chủ kia là mẹ chồng cháu?

- Dạ.

Ông nhìn xuống cuốn sách đang cầm trên tay:

- Biết được tin tức tốt lành về gia đình cô Nếp, chú rất vui. Thôi, để dịp khác sẽ hỏi thăm nhiều hơn. Bây giờ, chú phải về. – Ông mỉm cười kèm với lời chào –.

Trả tiền ở quầy xong, ông chạy xe máy về nhà bạn già của mình. Trên đường đi, và suốt cả buổi sáng hôm ấy, kể cả khi trò chuyện với bạn, trong tâm trí ông Đình mải lởn vởn một câu văn rất bình thường ông đã viết: “Thảo nào cô gái ấy có nụ cười tươi tắn đến thế!”. Ông tin người mẹ của cô gái hàng sách vẫn còn giữ nguyên nét tươi tắn của nụ cười năm xưa, cho dù số phận, hoàn cảnh không được may mắn như con gái của mình hiện nay. Ba mươi ba năm nay, lắm khi ông vẫn còn nhớ lại câu văn ấy, nhưng chưa bao giờ như như lần đó. Trong tâm trạng hồi tưởng, ông Đình cảm thấy rõ hơn một điều: Cách tự cảm nhận và tự lí giải của ông về vẻ tươi tắn của nụ cười cô gái năm xưa trên vùng đất mới khai hoang, chắc hẳn còn có phần chưa hết lẽ. Bấy giờ, ông còn quá trẻ, và hơi chủ quan chăng?

Có thể cũng đúng là nét tươi tắn ở nụ cười của cô gái năm xưa không hoàn toàn do tinh thần lạc quan, mà một phần là nhờ di truyền về thể chất. Nhưng liệu nụ cười tươi tắn trời cho ấy có còn nguyên vẻ tươi tắn không, nếu tâm trạng quá u buồn, cay đắng?

 

2 

Cách đây ba mươi ba năm: 1979.

Bến xe của huyện lị Đạ Công dẫu đã vào tháng mười, bắt đầu mùa khô, vẫn còn ướt sương, se lạnh. Thuở đó, cảnh người chen chúc trước quầy vé vào lúc sáng sớm, quanh năm, ngày nào cũng thế.

Nhờ “bùa hộ mệnh” là tấm giấy “ưu tiên – giáo viên miền núi”, Đình và Hoan đã được ngồi trên chiếc khách xe chạy bằng than đá. Chiếc xe như được lôi từ thế kỉ XIX về giữa thời khắc khổ và bị cấm vận này vẫn liều mạng chạy đường dài về tận Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM.). Nhưng xe đổ Đèo Chuối, chạy thêm một đỗi ngắn, khoảng dăm bảy cây số đường, là đã đến Ma-đa-gui (Mađagui, Madaguoil), huyện lị của huyện mới Đạ Huoai. Đó là nơi Đình và Hoan phải xuống xe để tìm cách vào nhiệm sở, một phân hiệu phổ thông trung học chỉ độc nhất một lớp mười mới mở tại Suối Hương, vùng khai hoang lập ấp của thành phố Huế. Huế cách Mađagui ngót ngàn cây số. Mađagui lại cách Suối Hương nghe đâu khoảng bốn mươi cây số đường rừng nữa!

Hai thầy giáo trẻ bảo nhau trước hết là phải vào Phòng Giáo dục Đạ Huoai, gần đó, để hỏi cách vào Phân hiệu, mặc dù Phòng Giáo dục này không phải là cơ quan trực tiếp quản lí. Nhưng dẫu sao Đình và Hoan vẫn tin là Phòng Giáo dục vẫn nhiệt tình hỗ trợ vì họ là giáo viên của Trường Phổ thông trung học huyện Đạ Công, cùng với các giáo viên từ các nguồn khác, về mở một phân hiệu tại huyện Đạ Huoai này. Và quả thật, họ gặp được sự đón tiếp giản dị nhưng rất niềm nở, chân tình. Cũng may, khi Đình và Hoan hỏi phương tiện vào Suối Hương, anh trưởng Phòng tên Gianh liền chỉ ra ngã ba, nơi quốc lộ 20 và đường vào Suối Hương gặp nhau, chỗ Đình và Hoan vừa xuống xe. Ở đó, có chiếc xe khách cũ mèm, tróc sơn đang quay đầu vào. Chung quanh là khách đi, cùng những người bán hàng rong.

Khi đã gửi chiếc xách tay đựng đầy sách, giấy soạn giáo án lên xe, Đình và Hoan đi loanh quanh hỏi thăm về nơi chốn sẽ đến. Không hiểu thế nào xe lại khởi hành chạy mất! Cả hai thầy giáo trẻ hoảng hốt, ngẩn người đứng trông theo. Nhưng cũng may là nhờ Phòng Giáo dục mách giúp, hiện có một chiếc xe của nông trường nào đó cũng sắp vào trong ấy.

Khi đã xin đi nhờ được, ngồi yên vị trên xe, Đình mới hướng mắt ra quan sát cảnh vật chung quanh. Con đường đất đá gập ghềnh, lồi lõm, chạy ngang qua vùng hoang vu, bạt ngàn cây cỏ, đồi núi, nương rẫy.

Xe dừng lại tại một bến đò thuộc vùng có địa danh là Đạ Tẻh.

Người lái xe bảo: “Hai thầy giáo phải xuống đây, rồi chờ ca nô để vào Suối Hương”. Họ bắt tay anh lái xe, nói lời cảm ơn chung những người còn ngồi trên xe.

Trên bến, cũng còn một số người đang chờ ca nô. Đình đảo mắt xem thử có ai là người ngồi trên xe khách ở Mađagui, chiếc xe đã mang hành lí của anh chạy mất hay không.

- Có một chuyến ca nô đã vào rồi. Có thể có người đã mang giúp hành lí cho hai thầy giáo vào Suối Hương. Không mất đâu. Đừng lo. – Một người nói, đặc giọng Huế –.

- Cảm ơn các o, các chú. – Đình đáp, cũng với giọng Quảng Trị đã đậm âm sắc Huế vốn có –.

Hỏi mới biết, con sông rộng đang chảy trước mặt chính là Đạ Dung (Đạ Dưng, hay thượng nguồn sông Đồng Nai), vốn bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên – Liên Khàng (Đức Trọng), chảy về đây, trước khi đổ xuôi về Miền Đông Nam Bộ, qua Biên Hoà, TP.HCM....

Lát sau, chiếc ca nô thứ hai đã xuất hiện, cập bờ, đón khách và lại xuất phát. Đây là phương tiện giao thông không thu cước phí.

Chiếc ca nô này bằng hợp kim, có màu sơn quân đội, sơn đã loang lổ tróc, lộ ra màu nhôm. Chắc hẳn Ban Chỉ đạo xây dựng vùng kinh tế mới Suối Hương đã được cấp từ số chiến lợi phẩm thu được sau chiến tranh.

Ca nô chạy ngược dòng chảy của sông. Có nhiều đoạn giữa lòng sông nhô lên những ghềnh đá, đá xé nước, nổi bọt trắng xoá, ca nô phải rú máy, luồn lách để vượt qua. Lần đầu tiên trong đời, Đình mới biết thế nào là thuyền đò vượt ghềnh.

Đến bờ đất Suối Hương, thầy giáo Đình vui mừng khi có một người đàn bà trạc tuổi bốn mươi, áo bà ba, quần đen, vẻ lam lũ, đi đến bên anh, báo cho anh biết, chính bà đã mang hành lí vào đây giúp anh rồi. Anh rối rít cảm ơn người đàn bà ấy.

Đình nhìn khung cảnh chung quanh, thấy tất cả đều còn nguyên vẻ hoang sơ rừng rú. Vào trong một đỗi nữa mới thấy những mái nhà tranh, vườn ruộng của dân, những lán trại của thanh niên xung kích, nhưng các thứ đó cũng chỉ gợi cho anh thấy rõ đây là vùng rừng đang được khai phá, chứ chưa phải là làng thôn đã có nền nếp. Đình cảm thấy đắng lòng với những cụm từ hoa mĩ, đầy vẽ vời như “thị trấn tương lai”, “thành phố tương lai”...

Đình vừa đi vừa hỏi người thanh niên xung kích dẫn đường cho anh và Hoan:

- Dốc “Mạ ơi!” nổi tiếng trên báo đài ở chỗ nào đây anh?

- Ở ngoài tê, chỗ bìa của vùng Suối Hương ni. – Anh ấy dĩ nhiên cũng đặc sệt giọng Huế thành phố –. Nếu hai anh đi đường bộ, thì phải vượt qua con dốc nớ. – Anh mỉm cười, nói tiếp –. Nhưng phải khóc, kêu “Mạ ơi!” là lúc thanh niên xung kích Huế mới vào, cứ cắt đường theo thước kẻ, bất kể việc phải vượt dốc. Chừ cũng đã ổn định phần nào, nên Ban Quy hoạch đã dự định sẽ mở đường vòng để tránh đồi dốc. Nếu như rứa, tuy phải đi vòng hơi xa một chút, nhưng đỡ phải leo trèo, bấm chân, tức ngực, ná thở.

Cả ba người đều cùng cười thành tiếng.

Anh thanh niên xung kích chỉ tay về phía trước, nơi có những mái nhà tranh, phía dưới chân một cụm đồi:

- Trước mặt mình là khu đất của Bộ phận Giáo dục, nơi ăn ở của giáo viên và văn phòng Trường Phổ thông cơ sở Suối Hương. Tôi nghe nói Phân hiệu Phổ thông trung học của hai anh cũng sẽ được bố trí vào đó, nhưng sinh hoạt và giảng dạy riêng.

Anh thanh niên xung kích chia tay với hai thầy giáo trẻ. Họ lần lượt siết thật chặt tay anh với lời cảm ơn.

Đi thêm mươi bước, Đình và Hoan reo lên chào Sương cùng ba người khác, một nữ và hai nam, cũng suýt soát chênh nhau vài ba tuổi, đang hướng dẫn khoảng mười mấy đến hai mươi học sinh sửa sang lại một ngôi nhà tranh, biến nó thành một lớp học, và lớp học “thời kháng chiến, bình dân học vụ” tưởng đã lùi vào dĩ vãng, đang hiện ra trước mắt.

Họ bắt tay Sương, vốn là giáo viên Trường Phổ thông trung học Đạ Nông, dạy sử – chính trị, về đây làm phân hiệu trưởng, đến nơi trước họ đã mấy hôm. Rồi họ bắt tay cả ba người mới lần đầu quen biết. Đó là Thừa – dạy Anh văn, Huế – dạy hoá học, Phin – cô gái mang tên một loại vải, dạy sinh vật. Mặc dù cùng xuất thân từ Đại học Sư phạm Huế, nhưng khác khoá, khác khoa, nên Đình với cả ba người đều như mới lần đầu gặp nhau. Sau một lúc chuyện trò, giới thiệu, Đình mới biết, Thừa, Huế và Phin, cả ba người đều phải trải qua vài ba năm làm thanh niên xung kích hay làm thường dân khai hoang lập ấp mới được bổ nhiệm. Riêng Thừa và Phin, vì là dân khai hoang ở đây, nên đã được kí hợp đồng giảng dạy một niên khoá vừa rồi ở Trường Phổ thông cơ sở Suối Hương, nay mới được chính thức bổ nhiệm dạy đúng cấp.

Gần hai mươi học sinh, tuy sẽ học lớp mười niên khoá này, nhưng có em đã suýt soát mười tám, mười chín tuổi, vì phải gián đoạn mất vài ba năm. Các em đang tiếp tục làm việc với cuốc, rựa, kìm, búa trên tay, sau những phút bỡ ngỡ chào hai thầy giáo mới đến.

Sương dẫn hai giáo viên vừa về nhiệm sở mới bước thêm khoảng mươi bước nữa để đi vào một ngôi nhà tranh tương tự. Đây vẫn là ngôi nhà tranh để ở, và đã thành nhà tập thể của Phân hiệu.

Chỉ có vậy! Đó là Phân hiệu của Trường Phổ thông trung học Đạ Công tại huyện Đạ Huoai, trước khi huyện Đạ Huoai sở tại đủ điều kiện về cơ sở vật chất, đặc biệt là về giao thông, để mở được cho huyện mình một trường phổ thông trung học (cấp 3) riêng!

Nắng trưa ở vùng đồi núi thấp, vốn là rừng già, thuộc bậc thềm cuối Nam Tây nguyên nơi đây vẫn chói chang, rực rỡ không kém gì nắng Huế và dọc miền duyên hải.

Khi vào đến nhà, Sương nói:

- Hai ông ở bên gian này. – Sương chỉ tay vào gian bên trái của ngôi nhà –. Còn mình với Thừa và Huế, ở gian kia. Văn phòng của Phân hiệu mình là gian giữa. Cô Phin thì vẫn ở nhà gia đình, gần đây thôi. – Sương bước ra cửa –. Thôi, hai ông cứ nghỉ ngơi, để mình ra với học sinh một chốc nữa, rồi cùng đi ăn cơm. Tạm thời cả năm anh em mình được bố trí ăn chung với nhóm giáo viên sống tập thể của Trường Phổ thông cơ sở tại đây, bên cạnh lớp học của Phân hiệu mình.

Đình chợt nhớ ai đó trên Đạ Công bảo ở Khu Trung tâm Suối Hương này đã có điện, mặc dù chỉ để thắp. Anh đưa mắt tìm xem thử có bóng đèn điện nào không, và mỉm cười khi thấy:

- Ở đây có điện thật, nhưng cả nhà chỉ một bóng tròn!

- Có thật chứ, nhưng chỉ buổi tối, từ 6 giờ đến 9 hoặc 10 giờ thôi! – Sương đáp –.

Sương đi ra khỏi cửa rồi, Đình mới nhận ra, bụi mùn do mọt đục màu vàng nhạt từ các kèo tre, đòn tay tre thỉnh thoảng lại rơi xuống nền đất, trên mặt bàn.

- Tre không kịp ngâm bùn, nhà lại để không, nên mới thế. – Hoan nói –. Có khói bếp, chắc đỡ hơn.

Đến lúc này, Đình mới kịp nhận ra, dãy nhà thuộc khu đất của Bộ phận Giáo dục không chỉ dựa lưng vào cụm đồi, mà phía trước hình như cũng có một dãy đồi thấp hơn, chung quanh vẫn còn dày những tre rừng, hẳn mới tự hoang hoá trở lại sau một hai mùa khai hoang. Và dãy nhà này được quy hoạch như ở làng thôn Miền Trung, tất cả đều có sân trước nhà, tiếp ra nữa là lối đi chia đôi khuôn đất nối liền với sân, thành hai vạt vun luống trồng khoai hay sắn. Ngõ nhà nào cũng dẫn ra con đường như thể đường làng, chạy ngang trước dãy nhà.

Ngôi nhà Đình và Hoan đang đứng nhìn ra không phải đã là cuối dãy. Bên trái ngôi nhà vẫn còn vài ba ngôi nhà như thế nữa, và nhìn qua là biết chắc đã có người ở.

Thế đấy, ngôi nhà tranh của nhóm giáo viên trung học chỉ có vậy.

Trưa hôm ấy, qua bữa ăn chung đầu tiên với bốn giáo viên cơ sở, trong đó, ba người trai trẻ có quê gốc là Đà Lạt và một người nữ, gốc Hà Tĩnh, hiện sống tập thể, Đình và Hoan mới biết phần lớn giáo viên cấp một và cấp hai ở đây đều là người địa phương Suối Hương gốc Huế, sống với gia đình họ quanh đây. Trên bàn ăn chỉ là một thau bo bo xay vụn nấu thay cơm và một đĩa cá kho khô nhỏ, một dĩa rau lang, rau tàu bay luộc khá lớn, với tô nước chấm là nước ruốc, thứ nước ruốc màu tím nhạt ngả sang màu nâu non thường thấy ở Quảng Trị - Thừa Thiên, và mươi trái ớt tươi, nhưng hầu như các giáo viên đều đã quen kham khổ rồi, nên không khí cũng rất cởi mở.

Sương nhìn Hoan, bảo:

- Ông Hoan nhìn người đồng hương Nghệ - Tĩnh của ông đi! Cô giáo Bằng kìa!

Cô giáo Bằng và Hoan chào nhau, hỏi thăm nhau về làng xã quê quán.

Những người, những cảnh vật được gặp, được nhìn thấy vào sáng hôm nay và trong bữa ăn trưa đầu tiên này, đối với Đình, anh ngỡ như đã hình dung được niên khoá đang diễn tiến nơi đây, trên vùng đất khai hoang lập ấp Suối Hương. Tuy nhiên, trong thực tế của những tháng ngày sắp đến lại không đơn giản như thoáng hình dung sơ khai ấy. Ở Suối Hương, về sau Đình mới biết, còn có những con người, những tình huống, những vấn đề khiến Đình cứ mãi băn khoăn, thao thức suy nghĩ...

 

3

Một lần nữa Đình có cảm giác của một vật thể rơi đã định vị. Đình tự bảo, đã thế này thì cũng nên ổn định ngay để đừng lãng phí thời gian. Anh bắt tay vào sắp xếp chỗ ở và bàn viết. Gian nhà được bố trí cho Đình và Hoan chỉ gồm hai chiếc giường gỗ cá nhân đặt song song, ở giữa là lối đi. Đó là loại giường thường thấy ở các nhà tập thể, có một hộc chìm dưới đầu nằm để đựng áo quần và các thứ tư trang lặt vặt. Ngoài ra, không có gì khác. Phía trái gian nhà là một chái bếp, hình như chưa nhóm lửa thổi cơm bao giờ. Từ trong gian nhà ở, có thể nhìn ra chái bếp ấy qua những nan tre đan của tấm phên, bị thưa ra, do lâu ngày, nan tre khô rút lại. Việc còn phải làm là bàn viết.

Đình loay hoay đo kích thước áng chừng ở cửa sổ nhìn ra đường, chỗ nền đất ngay phía sau cửa sổ ấy, rồi đi qua ngôi nhà tranh làm lớp học, nơi Sương, Thừa, Huế đang hướng dẫn học sinh sửa sang, để xin vài khúc tre, mượn chiếc rựa, cái kìm và xin thêm vài khoanh dây thép, dây mây dùng để buộc. Cưa xong những khúc tre làm chân bàn, Đình vác cả số tre đã chẻ ra, vót sơ để làm vạc, tay xách các thứ cần dùng khác, về lại nhà tập thể. Anh chôn bốn chân bàn xuống nền đất, hai chân áp sát vào tấm phên có cửa sổ. Đình lại làm khung mặt bàn, lát các thanh tre thay mặt bàn theo cách ghép vạc.

Trong khi Đình đang làm chiếc bàn tre, Hoan chỉ nằm gác tay lên trán, thỉnh thoảng thở dài.

Đình bảo Hoan:

- Ông cũng nên làm một chiếc bàn như thế này, ở cửa sổ nhìn ra phía sau nhà.

- Mình sẽ dùng chung bàn tập thể ở gian văn phòng. – Hoan chán chường đáp –.

Anh và Hoan chỉ mới quen biết nhau gần hai tháng nay, khi còn ở Trường Phổ thông trung học Đạ Công, nhưng cả hai đều khá hiểu nhau về tâm trạng có phần bất mãn, bất bình khi phải về Suối Hương này, mặc dù hai tâm trạng khác hẳn nhau về nguyên do. Đình chỉ biết là Hoan tốt nghiệp khoa toán Đại học Sư phạm Vinh năm ngoái, được bổ nhiệm vào Lâm Đồng rồi được phân công về dạy đúng hệ đào tạo tại Đạ Công, ngay huyện lị – thị trấn Đạ Bảo. Đó là một nhiệm sở tốt. Nhưng đến niên khoá thứ hai này, Hoan lại bị điều về vùng kinh tế mới, thực chất là vùng khai hoang lập ấp này, mặc dù Hoan giảng dạy và công tác đều tốt. Dĩ nhiên, vì thế, Hoan buồn chán, bất mãn. Còn Đình, tốt nghiệp khoa ngữ văn Đại học Sư phạm Huế, cũng vào năm ngoái. Niên khoá trước, Đình đã bị phân công về dạy cấp cơ sở, không đúng hệ đào tạo, lại ở một vùng kinh tế mới, phía tây bắc thị trấn Đạ Bảo. Niên khoá này, mới được điều chuyển về dạy đúng cấp ở Trường Phổ thông trung học Đạ Công, thì lại có quyết định chuyển về Phân hiệu Suối Hương tại Đạ Huoai này! Dĩ nhiên, Đình không thể không cảm thấy bất bình, bất công, mặc dù anh ý thức rằng việc khai hoang lập ấp là một việc từ xưa đến nay, triều đại nào, chế độ nào cũng tiến hành, với nhiều tên gọi khác nhau, như “đồn điền”, “dinh điền”, để mở mang đất canh tác, phân bổ lại dân cư... Không biết Hoan thế nào, còn Đình, Đình có chí nguyện riêng về nghiên cứu, sáng tác, Đình không thể mãi chôn chân vào vùng sâu vùng xa hẻo lánh.

Hoan và Đình chỉ là con người. Thánh nhân chỉ biết hi sinh và hi sinh. Gỗ đá thì không biết vui, không biết buồn. Hoan và Đình đều là con người phàm trần, chứ có phải là thánh nhân hay gỗ đá gì đâu!

Vừa làm chiếc bàn tre, Đình vừa nghĩ ngợi, nhưng anh biết là tình cảnh không thể khác được, nên tự định vị ngay, không nên buông thả chính mình vào tâm thế buồn chán vô ích.

Đình ngắm lại chiếc bàn viết bằng tre mà anh dự định ngoài việc soạn giáo án, chấm bài tập học sinh, còn lại là để học ngoại ngữ, đọc sách và sáng tác.

Đình còn làm thêm một cái kệ treo, cùng bằng tre, để đựng sách.

Thế là ổn định cho niên khoá này! – Đình tự nhủ thầm như thế –.

 

4

Suốt gần hai tháng dài gần đây ở Trường Phổ thông trung học Đạ Công tại thị trấn Đạ Bảo là cả một nỗi buồn bực, đối với Đình và Hoan.

Riêng Đình, tất cả mọi thủ tục chuyển nhiệm sở, từ cắt nhập hộ khẩu thường trú, sổ lương thực, tem phiếu thực phẩm đến tiền lương, đều đã xong. Cũng đã xong việc được bố trí nơi ăn, chốn ở tập thể. Ban Giám hiệu cũng đã phân công Đình làm chủ nhiệm một lớp mười, dạy ngữ văn ba lớp, trong đó có một lớp thuộc khối mười một. Nhưng chỉ một tuần sau lễ khai giảng, lại có quyết định của Ty Giáo dục từ Đà Lạt gửi về, chỉ thị phải triển khai việc thành lập Phân hiệu Suối Hương tại huyện Đạ Huoai với nhân sự cụ thể. Thực chất, đây là quyết định của Bộ và của Ty, với dự án lập trường phổ thông trung học tại huyện mới, nhưng hiện tại, trên danh nghĩa vẫn còn là Phân hiệu của Trường Phổ thông trung học Đạ Công. Từ đó, cả Hoan lẫn Đình đều phải trả lại các lớp đã nhận cho các giáo viên khác, chỉ ăn không ngồi rồi, chờ quyết định phân công trực tiếp từ Ty Giáo dục, ngoài việc chuẩn bị hành lí, sách giáo khoa, tự khâu bằng tay đôi vớ bằng vải dày để chống muỗi đốt, xin cấp thuốc phòng chống sốt rét, để về Phân hiệu.

Gần suốt hai tháng ấy là cả một nỗi buồn bực dài.

Cũng có những buổi chiều mưa lạnh, Đình buồn tình đi theo anh giáo viên lớn tuổi xuống thung rẫy, cho đỡ buồn. Anh ấy, chiều cách chiều, đều mang gùi đi cắt đọt khoai lang tăng gia sản xuất, bán kiếm thêm tiền, giữa thời buổi chật vật, khó khăn.

Cũng có những buổi trống rỗng, ngồi nhâm nhi cà phê đen ở tiệm nước Công ti Du lịch, khá hơn cửa hàng mậu dịch quốc doanh đôi chút.

Cũng có những buổi đạp xe xuống Đạ Tiến, ngồi nghe nhạc cổ điển hay nhạc nhẹ hiện đại hoà tấu trong một quán cà phê nhà vườn thật tuyệt diệu, giản dị mà sang trọng một cách nghệ sĩ và trí thức.

Cũng có những cuộc nhậu nhỏ, lai rai chuyện trò là chính với anh Lê Miên, một người làm văn nghệ lớn tuổi hơn, tại nhà anh ấy, trong khuôn viên một trường cấp cơ sở, nơi Đình gửi cả va li sách của mình.

Nhưng Đình vẫn không tự xua được hết nỗi buồn bực và trống rỗng suốt gần hai tháng như thể “bị tạm thời đình chỉ công tác để chờ lệnh mới” ấy.

Đình còn gặp một sự cố rất đáng tiếc là đánh mất cả bằng tú tài IBM. lẫn giấy chứng nhận mãn khoá Đại học Sư phạm Huế!

Trong nỗi buồn bực ấy, Đình còn có một sự dằn vặt, trăn trở, cứ như thể Đình đang tự mâu thuẫn với những bài thơ Đình viết về những vùng kinh tế mới. Không, với Đình, anh rất rõ ràng trong ý thức về những công cuộc mở mang đồn điền, dinh diền, khai hoang lập ấp trong lịch sử và hiện nay... Nhưng có lẽ nào Đình chịu bỏ dở khát vọng nghiên cứu, sáng tác... Và dẫu sao, Đình cũng biết xua gạt đi nỗi thiệt thòi riêng để hoà vào niềm vui chung...

Những ngày, những đêm đầu tiên ở Suối Hương, Đình nhận ra cảm giác định vị cho niên khoá này đã giúp Đình nhẹ nhõm, chan hoà, thoát khỏi nỗi buồn bực, dằn vặt, trăn trở kia.

Một tuần chỉ phải lên lớp giảng dạy bốn tiết ngữ văn, số thì giờ còn lại là quá nhiều cho bốn giáo án cùng những xấp bài kiểm tra phải chấm theo bảng phân phối chương trình. Đình tha hồ đọc sách, học tiếng Anh và sáng tác!

 

5

Trong năm anh em giáo viên ở nhà tập thể, chỉ duy nhất một mình Thừa là dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, gọi tắt là dân KTM., chính cống, của vùng đất Suối Hương này. Tốt nghiệp khoa Anh văn Đại học Sư phạm Huế ngay sau Ngày Thống nhất, nhưng Thừa chỉ được học thêm một khoá chính trị chính khoá rồi trở thành dân “tự lo”, thất nghiệp. Bấy giờ, nếu không thuộc diện được chính thức bổ nhiệm, có nghĩa là rơi vào hoàn cảnh như thế. Không biết làm gì, Thừa đành đăng kí đi KTM., diện hộ độc thân, không thuộc Lực lượng Thanh niên xung kích Huế. Anh vào Suối Hương làm dân cày cuốc một thời gian, rồi may mắn được kí hợp đồng giảng dạy tiếng Anh, khi Trường Phổ thông cơ sở Suối Hương được thành lập. Cô giáo Phin dạy sinh vật cũng vậy, nhưng vốn thuộc diện đi KTM. theo hộ gia đình. Cả hai đã viết nhiều lá đơn khiếu kiện gửi ra Bộ Giáo dục. Mãi gần đây mới nhận được quyết định chính thức bổ nhiệm.

Điều đó, Đình đã ít nhiều được biết hôm anh với Hoan mới về Suối Hương.

Chiều hôm nay, cái chính là Đình muốn nhờ “thổ công” Thừa dẫn đi loanh quanh cho biết người và đất Suối Hương.

 Ra khỏi ngõ nhà tập thể, rẽ phải, đi dọc đường làng, chỉ một chốc là đã đến nơi Thừa giới thiệu là Khu Trung tâm. Đó là một khoảnh đất phẳng và rộng, có lẽ là sân bóng đá hay “quảng trường” gì đó. Trên một gò đất ở góc phải cuối “quảng trường” là nơi Ban Quy hoạch đóng. Cứ đi thẳng, băng ngang “quảng trường” là đến bờ suối. Cầu bắc qua con suối nhỏ đó vốn là một thân cây lớn. Ở mé “quảng trường”, kề đầu cầu, có một quán may mặc và một quán hớt tóc. Bên kia suối là quán tạp phẩm, bán thuốc lá, thuốc rê, ruốc mắm... Cách đó không xa là trạm xá y tế. Đình thấy chưa tiện để bước vào thăm viếng, quan sát trạm xá ấy, mặc dù anh nhác thấy trên hai sạp tre, số bệnh nhân đang nằm điều trị không phải ít.

Đình buột miệng:

- Hiu hắt quá!

Thừa cười:

- Dĩ nhiên rồi, vùng KTM., lại là KTM. mới khai phá hoàn toàn, nên phồn hoa thế nào được.

Đình nhìn con suối nhỏ, có lẽ đã vào mùa khô, nên hai bên bờ đã nhô lên những tảng đá với lá mục. Đình hỏi Thừa:

- Suối này là suối gì?

- Suối Hương đó! – Thừa lại cười –. Chắc ông thất vọng rồi, phải không?

Không biết nói sao, Đình đành im lặng.

- Thế này, – Thừa giới thiệu tiếp –, ở vùng này có hai con suối, đều đổ ra sông Đạ Dung (Đạ Dưng), tức là khúc gần cuối thượng nguồn sông Đồng Nai mà hôm trước ông với Hoan đi ca nô ngược dòng vào đây. Suối này là một. Đi vào thêm ít cây số nữa, có thêm một con suối thứ hai. Người Chiau Mạa, người K’Hor ở đây gọi vùng này là đất Đạ Lây, tức là vùng đất có con suối có tên Lây. Không rõ trong hai con suối, con suối nào là suối Lây. Khi người Huế mình vào đây làm KTM., mới đặt tên cho con suối này tên là Hương, Suối Hương (Đạ Hương), cho đỡ nhớ sông Hương, và con suối trong kia là Suối Thơm Lây! Cũng có người gọi trại đi, là Suối Lay (Đạ Lay), với nghĩa là dòng suối lay động, hay Suối Lài, suối bông lài. – Thừa cười vang lên, tiếng cười nghe thật giòn –.

- Tôi cũng phục người Huế mình thật. Hay lắm.

Thừa và Đình đều đã đưa chân bước vào quán tạp phẩm. Mới nhìn qua, Đình biết ngay đây là một dạng hợp tác xã mua bán hay cung tiêu gì đó, chứ không phải của tư nhân, cá thể.

Hai cô xã viên khoảng cỡ trên bốn mươi tuổi gật khẽ đầu chào khách.

Sau cái chào đáp lại, bất ngờ, Đình bắt gặp nụ cười rất tươi tắn trên một khuôn mặt con gái rất đỗi dễ thương. Nụ cười khiến Đình sững sờ, nhưng anh vội nhìn ra chỗ khác.

Hình như cô gái khoảng hai mươi tuổi này mới vừa đến quán.

- Chào hai thầy! – Cô gái vẫn giữ nguyên nụ cười, và sau câu chào, gương mặt cô ửng hồng lên –.

- Chào cô! – Đình đáp –.

- A! Chào Nếp Hương. Nếp Hương đang mua gì đó? – Thừa hỏi một cách thân tình, vì đã từ lâu quen biết –.

Cô gái bẽn lẽn:

- Dạ, tên em chỉ là Nếp thôi... Em ghé mua ít muối ăn. Còn... hai thầy mua chi? – Cô gái tên Nếp hỏi nhưng thực ra chỉ để che đậy chút bối rối –.

- Tôi mới về đây, đi loanh quanh coi cho biết. Nhân tiện, mua một ít thuốc hút. – Đình nói –.

Thừa lại giới thiệu:

- Cô Nếp Hương này là thợ may chuyên nghiệp, nhưng bất đắc dĩ phải làm bán chuyên nghiệp. Tuy vậy, đường kéo mũi chỉ thì chỉ kém bác Tống ở quán kia một chút thôi. Đó là nói theo kiểu “tôn sư”, “kính lão đắc thọ”, chứ nói thật thì cô Nếp Hương đã vượt xa bác Tống rồi.

Nếp lại đỏ mặt cười. Một nụ cười tươi tắn. Chưa bao giờ Đình được thấy một nụ cười tươi tắn đến thế. Anh sững sờ một lần nữa, nhưng cũng kịp nhìn lảng ra chỗ khác.

- Đây là thầy giáo Đình, người Quảng Trị, vừa vào Suối Hương mình, dạy Phân hiệu cấp 3 mới mở.

- Dạ, em cũng được gặp thầy trên chuyến ca nô hôm thầy mới vào.

Đình ngạc nhiên. Và anh chợt hiểu ra, hôm ấy, Nếp đội nón lá, quai nón bằng vải màu được mở rộng để che luôn cả nửa khuôn mặt, từ cằm lên tận sống mũi, lại mang thêm chiếc áo bảo hộ thùng thình bên ngoài áo sơ mi, nên Đình không để ý.

- Thật không ngờ! – Đình chỉ biết thốt lên như thế –.

Đến khi cô gái tên Nếp lấy gói muối, trả tiền và đi rồi, Đình vẫn còn ngẩn ngơ. Trong một thoáng trông theo, anh thấy dáng dấp của Nếp vẫn rất thon tròn, đài các trong áo quần lam lũ, dưới chiếc nón lá đã cũ, ngả màu ố vàng.

Đình cũng trả tiền, lấy gói thuốc hút, chào hai cô xã viên. Hai thầy giáo trẻ bước về nhà.

Suốt đường về lại nhà tập thể và cả đêm hôm đó, Đình cứ bị ám ảnh bởi “nụ cười tươi tắn” của cô gái tên Nếp, thường được gọi một cách quý mến là Nếp Hương. Với Đình, anh trực nhận ra, đó chính là biểu tượng của vùng đất Suối Hương này.

 

 

MÓN NỢ SUỐI HƯƠNG

 

1

Mỗi sáng sớm khi thức dậy, Đình đều nghe tiếng vượn hú trên cụm đồi phía sau nhà. Có dăm lần, khi đang tập thể dục, anh thấy rõ cả đàn vượn ấy vừa chuyền cành vừa hú. Chẳng biết có phải vì tiếng hú của chúng hay không, sao tiếng chim muông chào hừng đông quanh đây chừng như ít hẳn. Tuy vậy, Đình lại có cảm giác rừng rú rõ rệt hơn. Cảm giác đó thật mới mẻ đối với Đình.

Hai tuần nay, Đình có thêm một thói quen tưới nước cho vườn hoa nhỏ của anh ngay trước cửa sổ, khung cửa sổ mà phía trong tấm phên tre, hôm nọ anh dựng chiếc bàn viết cũng bằng tre. Đình trồng mấy cụm hoa thạch thảo tím và dăm dây leo tóc tiên, loài tóc tiên có lá hình xương cá, thân cũng như lá đều rất mảnh, khi nở hoa sẽ cho hoa màu đỏ, do các em học sinh ươm trồng sẵn, bứng từ nhà mang tới biếu. Đình hi vọng cửa sổ của anh sẽ được hai loại thạch thảo và tóc tiên đó làm tươi lên.

Sáng nay, Đình không dạy tiết thứ nhất. Anh đang ngồi luyện lại tiếng Anh để tiện tham khảo sách và dịch thơ về sau, bổ trợ cho việc nghiên cứu và sáng tác, chợt thấy bóng anh Cửu, một cán bộ lãnh đạo của Suối Hương trước ngõ.

Khoảng trên bốn mươi tuổi, giọng nói mạnh mẽ, cùng gương mặt rám nắng với những nét thể hiện bẩm tính riêng, sắc cạnh và quả quyết, anh Cửu là một người dễ gây ấn tượng đối với những ai từng gặp anh. Hôm khai giảng muộn, anh Cửu có đến dự, khiến Đình đã nhận ra điều đó thật rõ rệt, chứ không phải do những bài báo đã khắc hoạ chân dung anh mà Đình có đọc.

Vẫn giọng nói đó, anh Cửu thân tình cất tiếng chào khi bước chân lên bậc thềm đất tròn góc để bước vào nhà. Không đợi mời, anh bước hẳn vào nơi đặt bộ bàn ghế gỗ ngay căn giữa, ngồi vào một trong sáu chiếc ghế. Đình, Hoan, Sương và Thừa đều từ hai gian nhà ở, mặc vội thêm áo quần ngoài, bước ra đón tiếp anh Cửu. Anh bắt chặt tay từng người.

- Chào các thầy giáo! – Anh Cửu chào một lần nữa, như thêm vào hai tiếng “xin chào” mới rồi –. Khi đi ngang qua, chỉ thấy thầy giáo Huế đang dạy bên lớp kia! – Anh Cửu lại nói –.

- Vâng... Rất vui khi thấy anh đến nhà tập thể của Phân hiệu. – Sương nói với nụ cười –.

Trên bàn không có ấm chén, bình thuỷ nước nóng, chỉ có gói thuốc 475 hút dở Đình mới mang ra với chiếc bật lửa nhôm. Anh rút hơi thòi ra khỏi gói một điếu, chìa cả gói về phía anh Cửu và nói “mời anh”. Anh Cửu đón nhận điếu thuốc, khẽ giành lấy chiếc bật lửa rồi tự bật, châm lửa. Nhả khói, anh cười bảo:

- Hôm khai giảng, mình có phát biểu, Suối Hương đây có được một lớp cấp 3 như ri là một thắng lợi lớn. Dân Huế vốn hiếu học... Chừ giữa anh em với nhau, mình vẫn rất vui mà khẳng định lại với các thầy giáo như rứa. – Với giọng Huế và tiếng địa phương đặc sệt, anh Cửu nói với nụ cười rạng rỡ chân thành –.

- Khi có quyết định của Ty Giáo dục điều chuyển tôi về đây, thưa thật với anh, tôi cũng như Đình, hơi chùn chân thật đó. Nhưng đã về đây rồi, chắc chắn anh em giáo viên bọn tôi đều cố gắng, không dám phụ lòng... – Hoan nói –.

Anh Cửu mỉm cười:

- Mình hi vọng anh em đều vững chí.

Mỗi người đều nói theo cách của mình để anh Cửu yên tâm. Lát sau, khi cuộc chuyện trò bỗng dưng có phút lắng lại, Đình mới hỏi anh Cửu:

- Anh Cửu, xin anh cho tôi hỏi thật lòng một chút, là không biết sang niên khoá mới, rồi các năm học tiếp theo, Phân hiệu Phổ thông trung học này liệu có thành trường riêng được không? Và Phân hiệu hay Trường Phổ thông trung học sẽ còn đóng ở đây hay sẽ dời ra huyện lị Mađagui?

Như bị chạm vào nỗi niềm mẫn cảm nhất của mình, anh Cửu hơi nghẹn lại trong giọng nói:

- Thú thật, đó là điều mình trăn trở, khổ tâm nhất. – Anh Cửu nhíu mày, nghĩ ngợi –. Vấn đề không phải là cục bộ, địa phương chủ nghĩa... Thật ra, với vùng kinh tế mới Suối Hương này, mình có một món nợ. – Anh cau mày, tỏ vẻ bực bội –. Đối với người này, người kia, người ta phủi tay, sau khi Suối Hương này đã thành cái xã của huyện mới Đạ Huoai, số dân thành phố Huế vào đây đã thành dân thường trú của tỉnh Lâm Đồng. Nhưng các thầy giáo xem, khi mới vận động dân thành phố Huế vào đây, thì hứa hẹn như thế nào (nào là đi xây dựng “thị trấn tương lai”, xây dựng “thành phố tương lai”), mà bây giờ thì chỉ như thế! Coi sao được!

Cũng đã đến lúc đổi tiết dạy, Đình xin phép bước vào gian nhà ở, lấy sách giáo khoa, sổ giáo án và bước ra khỏi cửa, sau khi chìa tay, bắt tay anh Cửu.

Đình mới ra khỏi ngõ, anh Cửu cũng chào tạm biệt với ba giáo viên còn lại.

Thầy giáo Huế, tay còn trắng phấn bảng, đang trên đường về nhà tập thể. Đình và Huế mỉm cười chào nhau.

Trong mươi bước chân nữa để đến lớp dạy, Đình cảm nhận ra phần nào vấn đề đã khiến anh Cửu rất khổ tâm, nên cho đến nay anh Cửu vẫn xin duy trì Ban Quy hoạch vùng KTM. Suối Hương, mặc dù trên phương diện hành chính, Suối Hương không còn được hưởng quy chế KTM. nữa. Nếu để Suối Hương hoàn toàn trở thành một đơn vị xã, đó là một sự ép uổng “đẻ non”, “ruồng bỏ”, “đem con bỏ rừng”, “sống chết mặc bây” chăng? Là “đầu voi đuôi chuột” chăng? Có phải anh Cửu muốn nói thế?

Đình vào lớp. Cả lớp đứng dậy chào. Anh gật đầu chào lại và ra hiệu cho các em ngồi xuống. Hơn hai mươi gương mặt học trò thành phố Huế, trải qua ba năm dài lam lũ, đang ngước mắt nhìn thầy giáo Đình. Những gương mặt ấy đã dần quen thuộc với anh, trong hai tuần nay. Đình đành phải gác lại vấn đề khổ tâm của anh Cửu bên ngoài cửa lớp.

 

2

Ngôi nhà tranh phía bên trái nhà tập thể Phân hiệu, mới nhìn, cứ tưởng đó là mái ấm của một gia đình mà cụ ông, cụ bà đã mất, chỉ còn lại người anh cả mới cưới vợ, chưa có mụn con nào, và ba người em trai cùng chung sống. Nhưng thực ra không phải vậy. Chỉ vài hôm sau khi về Phân hiệu, Đình đã biết, những thành viên dưới mái nhà kia vốn là thanh niên xung kích thuộc Đại đội Suối Hương, một đại đội tuyển chọn từ Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 của Thành đoàn Huế. Đại đội này đã tự nguyện gắn bó lâu dài, mãi mãi với Suối Hương, còn phần lớn quân số của hai trung đoàn kia sau khi xong nhiệm vụ ở nơi đây đã được trở về Huế hay điều chuyển đi nơi khác. Trong Đại đội Suối Hương, có một ít người nay đã trở thành cán bộ cốt cán của Uỷ ban nhân dân xã Suối Hương, một số khác là thành viên của Ban Quy hoạch KTM. mà anh Cửu đang lưu giữ lại, một số khác đã “ra dân”, lập hộ gia đình riêng. Và ngôi nhà tranh láng giềng gần nhất ấy chính là nhà tập thể của Uỷ ban xã, kể cả nhân viên của Uỷ ban.

Ngọc là đứa em út của nhà tập thể Uỷ ban. Năm nay Ngọc mới mười chín tuổi, nhưng đã trải qua nơi đây chỉ kém một tháng là tròn hai năm dài. Ngọc đã có mặt từ những ngày đầu tiên khi Suối Hương còn là vùng sâu rừng già, trong vai trò thanh niên xung kích.

Ngọc đã học dở dang lớp mười tại Huế. Nay Ngọc là nhân viên của Uỷ ban. Thấy Phân hiệu đã chiêu tập được một lớp mười, Ngọc liền xin phép được tranh thủ để đi học lại. Dĩ nhiên, Ngọc cũng phải tiếp tục giữ phần hành nhân viên của mình tại Uỷ ban vào các buổi chiều.

Tuy trải qua hai năm là thanh niên xung kích, nhưng Ngọc vẫn rất học trò, thậm chí là một học trò hiền ngoan, ít nói. Vả lại, có lẽ vì trong quan hệ thầy trò, nên Đình cũng thấy Ngọc không cởi mở.

Những ngày qua, Đình nhận ra người dám nghĩ, dám làm, dám nói thật nhất của đất Suối Hương này vẫn là anh Cửu, cựu lãnh đạo cao nhất nhì ở đây, và hiện nay vẫn đang còn giữ chức trưởng Ban Quy hoạch vùng KTM. Suối Hương, nhất là ở thời điểm này, khi Ban Quy hoạch do anh nắm giữ thực chất vẫn nằm ngoài hệ thống chính quyền và hệ thống Đảng Đoàn của tỉnh, huyện, xã sở tại. Ban Quy hoạch ấy vốn thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Huế về các mặt, chừng như chỉ còn giữ chức năng tham mưu, cố vấn gì đó ở đây mà thôi.

Đối với anh Cửu, riêng trong suy nghĩ của anh, hình như anh vẫn còn muốn duy trì Ban Quy hoạch để dẫu sao vẫn còn có danh nghĩa trong cuộc vận động “trả món nợ cho Suối Hương”, theo cách nói của chính anh Cửu. Có lẽ là vậy. Thầy giáo Đình vừa rõ ràng vừa mơ hồ cảm nhận ra điều đó.

Nhưng rất tiếc anh Cửu không phải là người láng giềng của nhà tập thể Phân hiệu. Anh ấy hiện đang làm việc và sinh hoạt thường ngày cũng theo nếp sống tập thể với một nhóm thanh niên xung kích ở Khu Trung tâm, trên một gò đất như một quả đồi thấp. Thầy giáo Đình vẫn còn nhớ vài ba lần anh Cửu đã bảo trực tiếp với chính Đình, “Nếu muốn tìm hiểu, ghi nhận gì ở Suối Hương này, cứ đến chỗ mình, mình sẵn sàng cung cấp”. Tuy nhiên, Đình vẫn thấy có gì đó chưa thật là cốt lõi của mảng hiện thực này, sau một vài lần cầm sổ tay đến Ban Quy hoạch để hỏi chuyện trực tiếp với anh Cửu và ghi chép.

Cũng may là Đình biết được một người thuộc loại “kho lưu trữ tư liệu” của vùng Suối Hương. Đó là Đóng.

Hôm đó, Đình gặp Đóng, khi Đình kẹp hai lá thư trong cuốn sách đang đọc dở chừng để đi gửi thư và hớt tóc. Thư gửi về nhà và chùm thơ gửi đăng báo đã được dán lại trong hai phong bì tự làm bằng giấy vở học trò. Mỗi phong bì đã được ghi địa chỉ, gửi về Quảng Trị và gửi vào TP. Hồ Chí Minh, đều đã dán tem, hai con tem trong số tem Đình đã mua ở Bưu điện huyện lị Đạ Công trước khi về Suối Hương này. Cầm sách, anh lững thững bước ra Khu Trung tâm, nơi anh biết có thùng thư của bưu trạm.

Bỏ thư vào thùng thư xong, Đình đi đến quán hớt tóc. Không ngờ anh lại gặp Đóng, một thanh niên xung kích thân thiết nhất của anh Cửu, đang ngồi trên chiếc ghế gỗ có bộ phận tựa lưng độc nhất ở đó. Chú thợ đang hớt tóc cho Đóng. Đóng nhìn thấy thầy giáo Đình trong khung kính soi, liền cười chào.

Đợi một lúc, mới đến lượt mình, nhưng cũng khi đó, Đình bỗng có ý định không hớt tóc nữa. Đình hỏi Đóng với nụ cười thân thiện, khi Đóng đứng dậy, bước ra, ghé ngồi ở băng ghế tre, bên cạnh Đình:

- Nghe nói anh Đóng là “thổ công” kì cựu nhất của vùng Suối Hương này, phải không?

- Cũng biết ít nhiều, vì ngay từ đợt đầu tiên thanh niên xung kích vào đây, tháng 12 năm 1977, đã có tôi rồi.

Đình vồn vã:

- Vậy thì hay quá! Tôi muốn tìm hiểu đôi chút về Suối Hương. Nếu có thể, hôm nào mình gặp nhau nghe!

Sau một thoáng nghĩ ngợi, Đóng nói:

- Hôm nào tôi sẽ đến thăm anh ở nhà tập thể Phân hiệu. Nhưng giờ này tôi cũng đang rảnh việc...

Từ hôm đó, Đình được biết thêm khá nhiều. Đặc biệt, không ngờ anh thanh niên xung kích tên Đóng này lại thành thật kể chuyện mình và chuyện Suối Hương đến thế.

 

3

Từ tháng 12 năm 1977 cho đến tháng 11 năm 1979 này, số phận của Đóng cơ chừng gắn liền với anh Cửu, như hình với bóng, mặc dù anh Cửu nhiều tuổi hơn Đóng đến một giáp rưỡi. Và có lẽ Đóng đã thật sự đóng đời, bám trụ ở đất Suối Hương.

Ngày Thống nhất Đất nước, Đóng đang học năm thứ nhất Đại học Văn khoa Huế. Nhưng sau đó không lâu, Đại học Văn khoa bị giải thể để sáp nhập vào Đại học Sư phạm. Rất tiếc là chỉ sinh viên năm thứ hai trở lên mới được hợp thức hoá thành sinh viên Sư phạm mà thôi. Như vậy có nghĩa là hơn một nửa sinh viên Văn khoa bị thải hồi về nhà, bởi số lượng sinh viên năm thứ nhất bao giờ cũng đông – lên năm thứ hai Văn khoa, tỉ lệ rơi rụng hằng năm là rất nhiều, một ngàn chỉ còn lại một trăm... Đóng chỉ mới học năm thứ nhất, nên đến niên khoá 1975-1976, phải thi vào đại học lại, và thi không đỗ vì không qua được cửa ải “chủ nghĩa lí lịch”. Đóng thất nghiệp, làm lặt vặt kiếm sống cũng không đủ sống. Đóng đăng kí vào Lực lượng Thanh niên xung kích thành phố Huế. Và Đóng may mắn gặp được anh Cửu, một kiểu người thuộc dạng tráng sĩ. Từ đó, chí anh hùng như một khát vọng bẩm sinh từ thuở nhỏ trong Đóng đã được châm lửa, bùng cháy. Đóng quyết tâm phải trở thành một anh hùng được phong danh hiệu cao quý ấy trên mặt trận lao động, cụ thể là trong lĩnh vực khai hoang, sản xuất!

Thượng vì đức, hạ vì dân...

Người trần thế, trả nợ đời là thế...

Cũng sắp sẵn ra tài kinh tế

Của vần xoay, thiên hạ tiêu chung

Hơn nhau hai chữ anh hùng!

Những câu thơ trong bài “Phận sự làm trai” của Nguyễn Công Trứ, một trong những vị tổ khai hoang lập ấp nổi tiếng trong lịch sử, Đóng tự ý thay chữ đồng nghĩa cho dễ hiểu, miễn ý thơ của Nguyễn Công Trứ vẫn không đổi khác, và xem đó là điều tâm đắc! Không những Đóng thay chữ đồng nghĩa, anh còn cố ý hiểu từ “kinh tế” theo nghĩa hiện đại là economic!

Từ một thanh niên xung kích thuộc loại lính trơn, Đóng đã phấn đấu thành tiểu đội trưởng, trung đội trưởng rồi đại đội trưởng. Đóng luôn luôn là người dẫn đầu trong các đợt thi đua lao động, bằng chính mồ hôi và chất xám của mình. Tuy bị đồng đội ngầm chế giễu là Đóng đạp trên lưng anh em cùng đơn vị để phấn đấu, nhưng Đóng lại được các cán bộ lãnh đạo đề cao.

Cho đến một buổi chiều, trên đỉnh dốc “Mạ ơi!”...

Lúc đó, khoảng năm giờ chiều, nhưng trời mưa như trút nước, màu trời như gần tối. Đóng đang gùi ba lô hàng hoá vượt dốc. Chả là anh có dịp ra Mađagui liên hệ công tác, nhân tiện mua một số hàng cho đơn vị. Trong thâm tâm, Đóng nghĩ rằng lẽ ra, với chức vụ đại đội trưởng, anh chẳng phải gồng lưng lên để làm việc đó, nhưng anh muốn anh em đồng đội hiểu anh thêm một chút. Đang vừa nghĩ vừa bấm chân vào mặt đường trơn, hơi nóng toả ra đến mức gần thấy rõ từ ngực áo ướt, Đóng nghe tiếng gọi rất đanh ở sau lưng, không phân biệt được giọng miền nào:

- Đóng! Đứng lại!

Bình tĩnh, Đóng quay lưng lại. Một cú đấm thốc vào mặt anh rất bất ngờ. Mắt Đóng nổ đom đóm, chân loạng choạng, đất trơn ướt, vai lại gùi khá nặng, khiến anh suýt ngã ngửa.

- Anh là ai? Tại sao lại đánh tôi? Tôi là Đóng, Cx, Dy, Ez đây mà! Anh lầm người à? – Đóng cố trấn tĩnh nói lớn –.

- Tao không nhầm! Chỉ đánh cảnh cáo cho mày biết, để đừng tiếp tục phấn đấu bằng cách đạp trên lưng đồng đội, đồng bào nữa.

Tức điên người, Đóng nhanh chóng cởi tấm ni lông làm áo tơi, cởi ba lô, ném xuống vệ đường, và lao vào tên đánh lén đang bịt mặt kia, quyết bắt sống y. Kẻ bịt mặt không ngờ Đóng phản ứng như vậy, nên vội ngã người ra trong khi đã nắm được vai áo Đóng. Một bàn chân của y đạp vào hạ bộ Đóng, đẩy lên, đồng thời tay y kéo cả người Đóng vượt lên người y, hất ra sau, khiến Đóng như một khúc gỗ bị lao xuống mặt đường. Đóng biết đã trúng vào thế võ hi sinh của kẻ bịt mặt, nhưng anh cũng kịp ngẩng cổ lên để vai rơi xuống mặt đường, rồi vụt đứng dậy. Kẻ bịt mặt cũng tức khắc đứng dậy, nhặt thanh tre ai để bên đường, quật ngang vào Đóng. Lần này, vì tránh đòn, Đóng trượt chân ngã xuống dốc. Kẻ bịt mặt chồm lên người Đóng, đè nghiến xuống, khoá một tay của Đóng bằng cách bẻ quặt ra sau lưng. Y rút dây, cột cứng cả hai tay Đóng. Y đứng dậy, bảo Đóng đến ngồi tựa vào gốc cây ven đường. Y lại rút thêm một sợi dây nữa, trói cổ Đóng vào gốc cây.

- Tao nhắc lại, không được phấn đấu bằng cách đạp trên lưng đồng đội, đồng bào nghe chưa! Lần này, tao tha chết. Nếu ngoan cố, lần sau, sẽ cho mày chết không kịp ngáp.

Lúc đó, nhờ câu nói khá dài, và khi nói, y đứng khá gần, nên Đóng đã phân biệt được giọng của kẻ bịt mặt. Đó không phải là giọng Huế, mà bảy phần chắc là giọng Nam, hay đúng hơn là giọng Bắc giả Nam. Thế thì y là ai? Thanh niên xung kích hay dân KTM. Suối Hương bỏ trốn ra Mađagui, ra Phương Lâm, thuê các tay giang hồ anh chị vào đây đánh lén Đóng chăng? Hay y là kẻ hành hiệp như trong các truyện chưởng? Thời này, làm gì có kẻ hành hiệp như thế! Và hỡi ơi, lại lầm lẫn đến thế! Đóng thoáng nghĩ như vậy và chỉ trả lời:

- Anh lầm người rồi.

Kẻ bịt mặt cười to:

- Không thể nhầm người được!

Trong một thoáng, không hiểu nghĩ sao, y mở sợi dây đang nghiến siết hai tay của Đóng, sau khi đã tính toán rằng sợi dây thứ hai, y cột cổ của Đóng vào thân cây, mặc dù có độ nới vừa phải để Đóng không phải chết ngạt, Đóng cũng không thể tự mở được.

- Tao cho mày biết thế nào là sên vắt hút máu. Có điều, tao vẫn cho mày được phép dùng hai tay mà gỡ sên vắt. Thế là tao còn nhân đạo với mày đó, biết chưa!

Nói xong, y bỏ đi, hướng về phía Đạ Tẻh, dưới trời mưa như trút.

Kẻ bịt mặt là một gã đàn ông cao to, khá vạm vỡ, mặc chiếc áo mưa khá dày và chắc đã cũ. Đóng chỉ kịp nhận xét thêm như thế. Y đã đi khuất. Người ướt đẫm và lạnh, Đóng cố tìm cách mở sợi dây buộc cổ anh vào thân cây nhưng không thể mở được. Thế này, chỉ còn biết chờ đến sáng sớm hôm sau, mới có người đi đường giải cứu!

Đóng đau đớn và vừa tức giận vừa nhục nhã đến nghẹn ngào. Sên vắt bắt đầu bâu vào người anh. Anh chỉ còn biết lần tay tìm gỡ, ném những con sên rừng, vắt rừng ra xa. Máu từ những vết cắn chảy đỏ, nhoè ướt cả mười ngón tay. Bỗng anh tìm ta một nút tháo dây. Hẳn kẻ bịt mặt cũng không ngờ, nên đã sơ suất như vậy? Hay y thực tâm muốn cảnh cáo Đóng thôi?

Đã mở thoát ra được khỏi sợi dây, Đóng lần mò tìm tấm ni lông áo tơi lấm bùn, tìm ba lô đựng hàng hoá của anh em đồng đội, ráng gùi lên tấm lưng bầm dập, nhức buốt, bước xuống dốc “Mạ ơi!” để về đơn vị.

Hôm đó, và trong những ngày tháng sau đó, Đóng vẫn nghĩ kẻ bịt mặt kia chỉ hiểu lầm Đóng mà thôi.

 

4

Leo lên những bậc cấp được lát bằng những phiến đá rừng, Đình thấy trước sân ngôi nhà tranh Ban Quy hoạch có một chiếc cột với những dụng cụ thô sơ tự chế để quan trắc lượng mưa: trên cột là một cái thùng thiếc cỡ vừa, bên ngoài có những vạch khắc bằng sơn, ghi những con số với đơn vị đo lường dung tích. Chung quanh nhà có nhiều chậu hoa tươi, khiến ngôi nhà tranh trở nên tươi sáng hẳn.

Anh Cửu và Đóng cùng dăm cựu thanh niên xung kích đón hai thầy giáo Đình và Hoan như đã hẹn trước.

Sau những lời chào, những cái bắt tay thân mật, anh Cửu và Đóng cùng với Đình và Hoan bước vào chỗ đặt bộ bàn ghế gỗ để tiếp khách. Tất nhiên là không thể thiếu trà thuốc, trước khi bắt đầu cuộc chuyện trò thăm viếng.

- Các thầy giáo về đây chắc hẳn là buồn, phải không? Nhưng cố gắng yên tâm giảng dạy, công tác nghe! – Anh Cửu cười vui –.

- Vâng, bây giờ cũng đã quen dần rồi. – Hoan nói –.

Thăm hỏi sức khoẻ và sinh hoạt thường ngày một lúc, Đình xin phép đi vào vấn đề chính:

- Anh Cửu hôm trước có bảo sẽ cung cấp cho một ít số liệu và thông tin cụ thể, thật hơn, so với các bản báo cáo... – Đình nhắc –.

Những số liệu, những thông tin đó anh Cửu đã thuộc nằm lòng, nhưng anh cũng đến chiếc tủ gỗ để lấy ra những xấp hồ sơ. Sau một lúc ghi chép, Đình ngước mắt lên, nhìn anh Cửu:

- Bây giờ xin hỏi thật anh Cửu, một số người ở đây có nói là đã mấy lần anh Cửu được đề nghị phong anh hùng. Điều đó có đúng không anh?

Anh Cửu trầm ngâm, rồi nói:

- Cũng có ý kiến đó, nhưng đề nghị chính thức thì chưa có. Vả lại, tính mình cũng hơi ngang... Mình tự xác định, ra sức làm việc là chính. Nếu có chút gì gọi là cống hiến thì cũng vì dân mà thôi. Quan điểm của mình, nói thật, cũng không thích anh hùng cá nhân, nhưng anh hùng tập thể thì quả là quá khó...

Đóng định nói gì đó, nhưng rồi anh cũng im lặng.

Một lát sau, anh Cửu đập tay xuống mặt bàn, giọng nói chợt nghiêm hẳn:

- Mình nói thật, mươi năm tham gia kháng chiến trước 1975, và từ 1975 đến nay, mình đều xác định ý thức, động cơ và quan điểm riêng của mình là vậy. – Anh Cửu cười chua chát –. Mà thật ra, thành tựu ở vùng kinh tế mới Hương Lâm này có gì đâu? Nếu người lãnh đạo được phong danh hiệu anh hùng thì trước hết, vùng Suối Hương này phải được phong anh hùng! Hai thầy giáo không nhớ sao, mình đã có lần tâm sự là hiện nay, mình đang khổ tâm vô cùng vì chưa trả được món nợ với dân Huế tại Suối Hương, mặc dù lời tuyên truyền “đi xây dựng thành phố mới tại Lâm đồng” không phải xuất phát từ mình...

Đình gấp cuốn sổ và đậy nắp bút lại:

- Tết Kỉ mùi 1979, cách đây gần tròn năm, báo Lâm Đồng có ra một số đặc biệt về Suối Hương. Trong số báo ấy, em có đọc bài viết về anh, bên cạnh những bài báo về nhiều con người, về những tập thể ở Suối Hương, đặc biệt là về hai trung đoàn thanh niên xung kích Huế.

Anh Cửu gật đầu:

- Đó là lúc đánh dấu một năm, từ tháng 12-1977 đến tháng 12-1978. Lúc đó Bắc Kinh chưa tấn công ta ở biên giới phía Bắc. – Bỗng anh khoát tay –. Thôi, số báo đó cũ rồi. Nếu viết về mình và Suối Hương lúc này, thì xin hãy viết rằng mình đang rất khổ tâm... Một số mục tiêu cụ thể như Suối Hương phải tự sản xuất đủ ăn; phải có trường học cấp phổ thông cơ sở, cấp phổ thông trung học thật khang trang; phải có một bệnh viện ít ra là với 20 giường, hai bác sĩ và y sĩ, thuốc men thiết yếu đầy đủ, và với một xe cứu thương để chuyển bệnh nhân nặng lên tuyến trên; phải có đường giao thông thuận lợi cho cả hai mùa mưa nắng... Chỉ vậy thôi mà đã đạt được đâu. – Anh bỏ ngang để hỏi Đình và Hoan –. Hai thầy giáo có biết cô Nếp không, cô Nếp mà dân ở đây hay gọi là Nếp Hương đó? Cô ấy là một y sĩ, năm 1977 tốt nghiệp Trường Cán sự y tế Huế hẳn hoi, thế mà theo gia đình vào đây, phải thất nghiệp, bèn học nghề thợ may! Có vô lí không? Nhưng nghề thợ may cũng thất nghiệp! Trong khi đó, tỉ lệ bệnh nhân ở đây là rất cao, vùng đỏ sốt rét trên bản đồ y tế mà! Và cũng trong khi đó, tỉ lệ người thiếu áo quần lành lặn, đàng hoàng ở đây là rất nhiều! Thiếu thuốc thang, thiếu phương tiện y tế, thiếu vải vóc, là chịu bó tay! – Anh Cửu lại đập tay xuống bàn, nói khẽ và kéo dài mỗi từ như mỉa mai –. Còn quan điểm và cơ chế sử dụng nhân lực nữa! Thật là bó tay, bị trói trước quan điểm và cơ chế sử dụng nhân lực...

Đóng trầm ngâm rồi nói:

- Đó là sự thật đó hai anh! Anh Cửu đã lê gót ra Huế, ra Hà Nội, lên Đà Lạt nhiều lần, đến nhiều cơ quan ban ngành, nhưng tất cả cũng đều im lặng cả, chỉ ậm ừ cho qua chuyện.

Thấy gương mặt anh Cửu trở nên đăm chiêu, thể hiện sự dằn vặt nội tâm, nên không ai muốn nói gì nữa. Ngồi im lặng một lúc, Đình và Hoan xin phép về lại Phân hiệu, hẹn sẽ có dịp khác đến thăm Ban Quy hoạch.

Tuy vậy, khi chia tay, anh Cửu vẫn bày tỏ niềm hi vọng:

- Việc Bộ Giáo dục và Ty Giáo dục Lâm Đồng cho khởi động việc hình thành phân hiệu cấp 3 ở đây là tín hiệu đáng mừng. Biết đâu, trạm xá y tế cũng sẽ trở thành bệnh viện theo cách như thế... – Anh Cửu bỏ lửng câu nói –.

Cùng tiễn chân một đỗi đường, anh Cửu lại khẽ tâm sự:

- Nếu đưa dân thành phố Huế vào đây chỉ vì mục tiêu an ninh về xã hội, chính trị và giải quyết khó khăn lương thực thôi, thì... quá đau! Bọn mình hoá ra cũng bị cấp trên lừa!

Trên đường về, Hoan cũng vừa cười cay đắng vừa lắc đầu như muốn than trời, thông cảm cho nỗi niềm chung và nỗi đau của một vùng đất được gọi là KTM. Suối Hương. Đình cúi đầu im lặng suy nghĩ, tự hỏi thầm, không hiểu anh Cửu vẫn còn chân thành bám víu vào ảo vọng Suối Hương sẽ được ưu ái trợ cấp, hay vẫn còn dùng ảo tưởng, niềm hi vọng lạc quan gì đó, để động viên Đình và Hoan?

Hai thầy giáo trẻ chợt cùng nhìn vào một căn nhà lợp tôn, có lẽ duy nhất ở đây, trong đó có một máy phát điện chạy bằng diesel, ở một góc “quảng trường”, bởi tiếng khởi động máy.

- Sắp có điện! Vậy là 6 giờ chiều rồi! – Hoan nói –.

- Chiếc máy nhiệt điện này nghe đâu cũng sẽ được di chuyển ra huyện lị Mađagui. Không biết sẽ được tiếp tục chạy ở đó hay để cất vào kho, mặc dù nó là tài sản có được bởi ngân sách KTM.! Nay Suối Hương đâu còn được hưởng quy chế, ngân sách KTM.! – Đình bật cười cay đắng –. Thế thì làm sao có trường phổ thông trung học và bệnh viện ở đây được! Đây đâu phải là huyện lị!

- Anh Cửu khổ tâm, dằn vặt quá nên lẩn quẩn mất rồi!

- Mình hiểu anh ấy vẫn đang vận động để Suối Hương trở thành một thị trấn tự trị, tự quản gì đó!

Cả hai tuy nói vậy, nhưng lòng đều chùng xuống, trĩu nặng.

 

5

Sáng sớm, vượn hú phía cụm đồi sau nhà, còn về khuya, khắp tứ bề, Đình nghe có tiếng một loài sinh vật nào đó rất lạ, cứ phát ra âm thanh vun vút như tiếng roi quất vào không khí. Hình như đó là một loài chim, nhưng cũng không chắc lắm. Nghe nói, trên vùng đất Suối Hương này, ở đâu cũng có âm thanh hoang dã ấy.

Mỗi buổi tối, bóng đèn điện tròn treo cố định ở vị trí giữa ngôi nhà, không biết bao nhiêu watt, nhưng cũng chỉ sáng cho vui nhà, để họp hành, chứ cũng không đủ để đọc được sách. Khi đến giờ cúp điện, tiếng vun vút của loài sinh vật lạ ấy lại cất lên!

Ban đầu thì có cảm giác hơi kì dị, nhưng riết rồi cũng quen đi.

Đêm nay, hầu như Đình không để ý gì đến giờ đèn sáng, giờ đèn tắt và cả tiếng vun vút kia, bởi anh mãi suy nghĩ về “nụ cười tươi tắn” của Nếp Hương.

Cách đây một tuần, anh đã nghe Đóng kể lai lịch của Nếp Hương, nhưng để chắc hơn, anh lại hỏi “thổ công” trong nhà là Thừa. Thừa cũng bảo đúng như thế. Chiều nay, một lần nữa, Đình lại nghe anh Cửu tình cờ xác nhận lại.

Thật không ngờ!

Có điều, Đình không hiểu vì sao trong hoàn cảnh rất bi kịch, Nếp Hương vẫn giữ được nụ cười tươi tắn! Đó là một nụ cười khiến Đình ngẩn ngơ, vì quả thật, chưa bao giờ trong đời, Đình lại bắt gặp một nụ cười tươi tắn đến mức như vậy trên một gương mặt đẹp phúc hậu đến thế. Dáng dấp của Nếp Hương cũng rất thon tròn và còn có vẻ đài các nữa! Đình cứ ngỡ cô ấy chỉ là thợ may thôi, thậm chí còn đau hơn nữa là thợ may giỏi nhưng không có khách hàng, vì dân cư ở đây không đủ tiền mua vải để may mặc theo kiểu sống thành phố. Nào ngờ, Nếp Hương còn là một y sĩ được học hành chính quy hẳn hoi tại Huế, nay lại thất nghiệp về ngành y!

- Mình với cô Phin, tốt nghiệp đại học sư phạm xong cũng không được bổ nhiệm, phải đăng kí đi KTM., thì trường hợp của Nếp Hương cũng vậy thôi, có gì đâu mà ông ngạc nhiên? –. Thừa cười và nói, chừng như xem sự thể như thế không có gì lạ, trong thời buổi này, riêng Thừa cũng đã quen với sự thể bi đát như thế rồi –.

- Sao hôm mới gặp, Thừa không nói hẳn về Nếp Hương là vậy, mà chỉ úp mở rằng cô ấy là thợ may bán chuyên nghiệp? – Đình nói –.

- Ở đây còn có những nhân vật “đặc biệt” lắm, như em gái ruột của một anh hùng Côn Đảo, như một xướng ngôn viên Đài Phát thanh Huế, lại có cả sinh viên Đại học Sư phạm Huế nữa... Đó là chưa kể những cô gái giang hồ, các tay anh chị khét tiếng... mà cuộc đời thật của họ còn hơn cả tiểu thuyết. – Thừa chậm rãi nói –. Có điều, Nếp Hương vẫn là người khiến nhiều người lưu tâm nhất!

Đêm nay, Đình lại nhớ đến mẩu chuyện trò giữa anh với Thừa, trong khi vẫn không thể quên được một câu nói của anh Cửu: “Thật là bó tay, bị trói trước quan điểm và cơ chế sử dụng nhân lực”!

Bỗng dưng, Đình hình dung ra Nếp Hương không phải trong bộ áo quần lam lũ, đội chiếc nón lá đã cũ đến mức ố vàng mưa nắng và bùn bụi, mà Nếp Hương đội mũ trắng có dấu chữ thập đỏ, mặc áo quần y tế trắng với bảng tên trên ngực, mang giày trắng với đế cao su êm nhẹ đang chăm sóc các bệnh nhân ở Bệnh viện trung ương Huế, đúng như lẽ ra là phải vậy, hay hình ảnh Nếp Hương, ngay tại Suối Hương này thôi, cũng là một y sĩ của bệnh xá tranh tre nứa lá. Và Đình gục đầu không hiểu nổi!

Trong hoàn cảnh bi kịch đến thế, sao tới lúc này Nếp Hương vẫn giữ được nụ cười tươi tắn quá đỗi hồn nhiên? Cô ấy lạc quan vì tin vào hi vọng nào đó sẽ thành hiện thực? Thật không hiểu nổi!

Theo mạch ngẫm nghĩ, Đình lại nhớ thêm lời nói chưa rõ ràng lắm của anh Cửu, của Đóng về sự vận động để xin cho Suối Hương trở thành một vùng tự trị, tự quản.

Bất giác, Đình lại chợt nhớ anh Hỉ, một trong năm thành viên của ngôi nhà láng giềng bên trái, gần nhất với nhà tập thể Phân hiệu, thỉnh thoảng đi ngang đường trước ngõ, lại nói to lên một cách đùa cợt: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa tự trị Suối Hương!”. Anh Hỉ, theo Đình biết, là thanh niên xung kích năng nổ, tiên tiến, ưu tú thuộc Đại đội Suối Hương, lâu nay đã trở thành trưởng Ban Công an xã, sao lại đùa cợt một cách “mất quan điểm” như vậy? Anh ấy cường điệu, đùa cợt vô tư? Hay thân tình và vui vẻ phóng đại, châm biếm anh Cửu? Hoặc giả, có lẽ nào anh Hỉ đó lại thử lòng nhà tập thể Phân hiệu này? Tự quản hay tự trị như thế tuy không phải là cát cứ, nhưng danh nghĩa và quy chế dành cho các khu tự trị trên Miền Bắc đến nay đâu còn tồn tại, hiệu lực?

Có một điều cũng lạ nữa, sao anh Cửu vẫn còn ra sức đi Hà Nội, quay vào Huế rồi lên Đà Lạt vận động cho Suối Hương theo hướng tự quản, tự trị đó? Sao anh Cửu, một người dạn dày kinh nghiệm, lại “lạc quan tếu” như thể ngây thơ cho rằng sự khởi động dự án thành lập Phân hiệu Trường Phổ thông trung học tại Suối Hương là một thắng lợi lớn, là tín hiệu có ý nghĩa?

Đình cứ tiếp tục suy nghĩ trong khuya, và thỉnh thoảng bất giác buông tiếng thở dài...

Nhưng nụ cười tươi tắn trên gương mặt ngời sáng phúc hậu của Nếp Hương lại khiến Đình nhìn lại cái nhìn của mình, về vô vàn ngổn ngang, gian khó ở Suối Hương.

 

 

NỖI ĐAU SUỐI HƯƠNG

 

1

Mãi đến hơn hai tháng sau khi Đình về dạy học ở Suối Hương, anh mới biết có một người bạn cũ hiện đang vất vả và kiên nhẫn tập làm nông dân, sinh sống trên vùng đất khai hoang lập ấp này.

 Một buổi sáng, vào giờ ra chơi của lớp học, một nữ sinh có tên Linh Lang, ngọc thiêng, đi nhanh qua nhà tập thể Phân hiệu, xin tìm gặp thầy Đình. Ngày hôm đó, Đình gặp phiên trực nhật, phải lo việc nấu ăn, rửa chén và đun nước uống cho cả nhà, vì gần một tháng rồi, Phân hiệu đã tách hẳn ra khỏi bếp ăn tập thể Trường Phổ thông cơ sở Suối Hương. Đang lui hui nhóm bếp, Đình phải bước vội vào gian văn phòng. Đáp khẽ lời chào của Linh Lang, và Đình hỏi:

- Có việc gì không Linh Lang?

- Thưa thầy, có một anh tên Sanh, ở gần nhà em, nhờ em đưa đến thầy lá thư của anh ấy gửi.

Đình lướt nhanh mắt trên trang giấy học trò Linh Lang lễ phép đưa bằng hai tay. Lá thư đó chỉ là mấy dòng chữ:

“Phan Huyên Đình quý mến!

Nhờ các học sinh phổ thông trung học không ngớt ca ngợi thầy Đình dạy ngữ văn quá hay, nên mình mới biết bạn vào đây dạy học.

Mình là Bùi Phúc Sanh đây. Bạn có còn nhớ những lần chúng ta chuyện trò với nhau về văn chương, ở hành lang Đại học Văn khoa Huế và ở quán cà phê Góp Gió không? Mình rất nhớ Huế và bao nhiêu là kỉ niệm đáng quý như rứa!

Sau “đại hạn, bị sao Thái Bạch chiếu”, mình đã vào Suối Hương này cuốc đất, nuôi heo. Rứa mà cũng được gần hai năm rồi!

Nếu có buổi nào bạn rảnh và không trở ngại chi, mình sẽ ghé Phân hiệu PTTH. tại Suối Hương này thăm bạn?

Thân quý,

BPS.”.

Đình phải thốt lên tiếng kêu khẽ:

 - Trời đất ơi! – Rồi Đình nhìn Linh Lang, nói tiếp –. Cảm ơn Linh Lang nghe! Thật không ngờ Bùi Phúc Sanh lại vào đây lập nghiệp. Anh Bùi Phúc Sanh là bạn tôi, hồi anh ấy còn học năm thứ hai Đại học Văn khoa Huế, còn tôi từ Đại học Sư phạm qua Văn khoa học thêm phân khoa phụ.

- Dạ, anh Sanh mừng lắm, khi biết thầy dạy ở đây. – Linh Lang nói –.

- Em chờ tôi một phút nghe! Tôi nhờ em chuyển mấy chữ về cho anh Sanh.

Sợ hết giờ ra chơi, Đình vội viết ngay ở mặt sau trang thư:

“Chiều nào học sinh cũng nghỉ học, giáo viên cũng nghỉ dạy. Hãy đến chỗ mình chơi nghe!

Chờ.

PHĐ.” 

Linh Lang đón nhận bằng cả hai tay rồi xin phép về lại lớp học.

Nhìn Linh Lang bước ra sân, Đình mới sực nhớ cô gái học trò lớp mười này đã mười chín tuổi rồi. Nếu còn ở Huế, hẳn Linh Lang đã vào năm thứ nhất đại học!

Đình lại bước lui sau bếp, tiếp tục nhóm lửa. Khi đã bắc soong gạo vo rồi lên bếp, Đình định tiếp tục ra chỗ để nước để rửa nắm lá bụp giấm, mớ rau đọt khoai vừa hái ở mảnh đất sau nhà, Huế đã đứng trên thềm chái, hỏi Đình:

- Hoá ra ông có người quen ở xóm Linh Lang à? Mình cũng có một gia đình quen ở xóm Linh Lang. Hôm nào mình tới thăm cho biết.

- Thế thì hay quá! – Đình cười, trả lời Huế –.

Và Đình tiếp tục công việc trực nhật, thực ra cũng chỉ vỏn vẹn các việc của “anh nuôi”, lại là “anh nuôi” của bếp tập thể nhỏ, thường xuyên cơm rau, không thịt cá. Dẫu sao nấu cơm bằng gạo vẫn dễ hơn là nấu bo bo xay vụn! Đó cũng là nhờ Sương, phân hiệu trưởng, khéo vận động một doanh trại bộ đội gần đó, cho gặt mấy khoảnh lúa muộn, nên các giáo viên mới có gạo để ăn, thay bo bo xay vụn theo tiêu chuẩn lương thực. Gạo rẫy có tên là “ba xe”, dẻo và thơm ngát! Còn nấu canh thì lại dễ hơn nữa, vì chỉ chờ soong nước sôi lên sùng sục, cho vào hai muỗng ruốc tím Huế cùng vài quả ớt xanh đỏ bẻ ra, rồi thả vào nắm lá bụp giấm, là xong. Lá bụp giấm có vị chua rất đặc biệt, tuyệt vời. Rau khoai lang luộc, khi siêng thì luộc thêm, quá dễ! Rau lang chấm nước ruốc cũng ngon lắm!

Nhà sắp có khách, may là gặp lúc có gạo để nấu cơm đãi khách! – Đình vui vui, tự nhủ thầm –.

Vừa làm “lê anh nuôi” bếp nghèo, Đình vừa nghĩ về Sanh và nhớ lại những kỉ niệm thời sinh viên ở Huế. Không biết Sanh có còn hài hước được không trong hoàn cảnh bi đát đến vậy!

 

2

Buổi chiều đầu tiên gặp lại Sanh, Đình không nhận ra ngay được đó là người bạn cũ học trước anh một lớp ở Văn khoa, trước Ngày Thống nhất. Đình ngồi sau khung cửa sổ nhà tập thể Phân hiệu, nhìn ra ngõ, thấy một người tóc thưa, hoe cháy với nước da xanh tái, đôi mắt sâu của người bệnh, mặc quần áo cũ sờn, bạc màu, mang đôi dép nhựa lấm bụi, anh không thể ngờ đó chính là Sanh ngày nào. Chỉ khi Sanh vào đến nhà, mở miệng cười và cất tiếng chào, Đình mới tin chắc đó là Sanh. Đình reo lên mừng rỡ.

Sau mấy tiếng đồng hồ chuyện trò thân mật, Sanh mời anh em nhà tập thể Phân hiệu đến nhà Sanh chơi.

Dăm ngày sau, Đình và Huế mới có thể đến thăm nhà Sanh.

Xóm nhà Sanh ở cách Phân hiệu cũng khá xa. Con đường đất nhỏ đến nhà chạy qua mấy cánh đồng mùa khô trơ rạ, rộng bạt ngàn, những cánh đồng vẫn còn nhiều thân cây rừng to cao chết khô từ thời chiến tranh.

Nhà Sanh gần với bờ sông Đạ Dưng. Trước nhà có mấy khóm hoa thạch thảo tím. Chừng như loại hoa ấy thích hợp với chất đất ở đây. Cũng là nhà tranh vách phên tre, nhưng xem ra xơ xác, tiều tuỵ hơn những ngôi nhà khác trong xóm. Phía sau nhà là một mảnh vườn khá rộng, nhưng không phải trồng cây ăn trái mà để gieo lúa, và cũng đã thu hoạch xong, đang trơ gốc rạ. Hẳn đó là đất thổ cư, được biến thành ruộng lúa riêng. Ở một góc vườn, còn có thêm một chuồng heo. Với cái nhìn khi còn cách nhà Sanh mươi bước, Đình thấy như vậy.

Sanh với một cô gái còn trẻ, có lẽ là vợ của Sanh, đang đứng chờ để đón Đình và Huế cùng một học sinh nam dẫn đường, vào nhà.

Nghe Sanh giới thiệu, Đình biết được vợ Sanh tên là Cẩm Thạch. Sau khi giới thiệu một cách rất thân tình, lịch sự, Sanh còn đùa tếu:

- Nhà vợ chồng mình đúng là một túp lều tranh hai trái tim chì.

- Cả hai vợ chồng cộng lại thành Thạch Sanh, ở bộng cây rồi ở lầu son gác tía mấy hồi! – Đình cũng đùa cho vui –.

- Nhưng Thạch Sanh này đã chẳng diệt được chằng tinh, đại bàng, chẳng cứu được công chúa, cũng chẳng diệt được tên Trung Quốc xâm lược nào, mà lại bị sên vắt, muỗi sốt rét tấn công đến liệt giường liệt chiếu, còn bị Trung Quốc gieo rắc nghi kị, làm cho khó sống hơn, may nhờ tôn nữ thanh niên xung kích này cứu sống. – Nói một thôi dài với giọng tự trào, biếm lộng, Sanh cười, một nụ cười nhăn nhúm, trên gương mặt còn di chứng sốt rét –.

- Không ngờ chị Cẩm Thạch là tôn nữ! Chuyện cũng li kì chứ không phải thường đâu! –. Đình cũng cười, nói thêm –.

Thật ra, đã nhà tranh vách phên tre, trong nhà cũng không có gì ngoài kệ tre có lư nhang, bộ bàn ghế tre, chiếc giường tre. Chỉ khác một điều là nhà dù thế vẫn có cửa phên, chứ dãy nhà tranh ở Bộ phận Giáo dục, Uỷ ban xã đều không nhà nào có cửa cả. Hẳn ở đây gần sông, gió sông lạnh về khuya, và cũng không an ninh bằng.

Lát sau, cậu học trò xin phép về nhà, chỉ còn lại bốn người. Không lâu sau đó, Cẩm Thạch cũng đi ra sau bếp để lo bữa trưa.

Sanh vấn thuốc rê hút liên tục. Trong câu chuyện, Sanh hỏi Huế:

- Anh Huế tốt nghiệp năm nào?

- Năm 1977, nhưng mới được bổ nhiệm năm nay. Mình cũng phải trải qua hai năm thanh niên xung kích ở Nam Đông, thuộc tỉnh Thừa Thiên mình ngoài đó. – Huế đáp –.

Sanh nhả khói thuốc, trầm giọng, buồn buồn:

- Mình lại thê thảm hơn nhiều. Không những không học tiếp được mà còn phải ở trại cải tạo Bình Điền gần một năm rưỡi...

- Mình cũng đã nghe nói, là vì anh Sanh muốn du học... bằng cách vượt biên. Trên thuyền lại toàn những người trốn học tập cải tạo, nên mới bị đi Bình Điền. Có phải không Sanh? – Huế chỉ gọi tên thôi, như với bạn, cho thân tình –.

Sanh gật đầu.

Sanh đối với Đình vốn là bạn cũ, nên Đình cũng đã kể ít nhiều cho Huế nghe, hôm Sanh đến nhà Phân hiệu thăm. Có những chi tiết đời riêng của Sanh, Đình thật lòng cũng không muốn ai biết, chẳng hạn như Sanh có ông thân sinh vốn là cán bộ cách mạng hoạt động nội thành, nhưng bản thân Sanh lại không hợp với cha, nên hai cha con cứ tránh mặt nhau, sau Ngày Thống nhất, tuy ở chung trong một nhà.

Cuộc chuyện trò ngưng lại vì Cẩm Thạch đã dọn cơm lên. Đó là bữa ăn có cơm trắng, có canh chua bụp giấm cá tươi, tuy chỉ gọn gàng trong hai cái soong đen nhẻm muội khói củi bếp, với một chén nước mắm ớt. Đặc biệt, Sanh còn mua sẵn một xị rượu đế.

Bữa cơm tưởng vui, nhưng rồi chính vì men rượu khiến cho nỗi trầm uất chất chứa đau khổ, đắng cay, trong tâm hồn Sanh, tràn ra, đến mức một người như Sanh cũng phải trào nước mắt khi tâm sự.

- Bị công an bắt khi vượt biên, nên bị buộc thôi học, lại phải đi trại cải tạo. Được phóng thích về, không khí trong nhà căng thẳng quá, lại thất nghiệp, nên mình phải đăng kí đi KTM.. Vào đây, bị sốt rét đến gần chết. May mà gặp Cẩm Thạch trong bệnh xá. Cẩm Thạch là thanh niên xung kích, cũng “côi cút” như mình, cũng bị sốt rét như mình, nhưng nhẹ hơn, chăm sóc giúp, không thì chết lâu rồi. Sau đó, mình với Cẩm Thạch, “côi cút” như nhau, nên thành vợ thành chồng, tập làm nương làm rẫy... Bọn mình hình như đều bị vô sinh do thuốc trị sốt rét hay sao mà đến nay... may mắn là chưa có đứa con nào! –. Sanh cười khậc lên –. Nhưng cái đau nhất của đời mình là không thể đổi đời thay phận được!

- Sanh hình như đã có một thời gian đi dạy học tại Suối Hương này mà!

- Cũng có. Nhưng sau đó, bị cắt hợp đồng, khi trường học đã “ổn định tổ chức”.

- Vậy ông thân sinh của Sanh không giúp đỡ, bảo lãnh gì sao? – Đình đành hỏi thật –.

Sanh lắc đầu, xua tay:

- Thôi đừng nói nữa! Bi kịch của mình là bởi tính chất quyết liệt của quan điểm, lập trường, nhưng không phải xuất phát từ mình.

Không khí bỗng trở nên ngột ngạt, nên Đình và Huế ngỏ lời tạm biệt với vợ chồng Sanh - Cẩm Thạch.

Huế bảo Đình ghé thăm một người quen của Huế. Nhưng muốn tìm được nhà người đó, trước hết phải tìm ra nhà Linh Lang. Đi một đoạn dài, hầu như thấy nhà nào cũng như nhà nào, đều là tranh tre và đều trồng lúa là chính, ngoài các thứ rau trái làm thức ăn tự cung tự cấp hằng ngày. Dĩ nhiên nhà cửa tuy tranh tre nhưng cũng khang trang hơn nhà của Sanh - Cẩm Thạch nhiều.

Sau một hồi, họ cũng hỏi được nhà Linh Lang, và cô học trò lớp mười này cũng chỉ ra nhà người quen của thầy giáo Huế.

Không ngờ đó lại là một ngôi nhà bi đát khác. Trong nhà, người đàn ông khoảng sáu mươi tuổi đang nằm rên hừ hừ vì lên cơn sốt rét, còn người đàn bà, vợ của ông, cũng già nua, gầy sắt lại, ngồi bó gối bên ông.

Huế và Đình chỉ vào thăm một chốc, nghe thấy tiếng rên của ông già trên giường đến mức xốn xang không thể chịu đựng nổi, nên có nói với bà già là họ sẽ giúp bà gánh ông ra trạm xá y tế, nhưng bà lại bảo không sao đâu, lâu nay vẫn vậy, chỉ rên như thế một hồi rồi tỉnh táo lại như thường, sau đó chỉ cần ăn giun đất xào nghệ và uống nước sả cùng các thứ lá rừng là khỏi! Không biết nói sao nữa, hai thầy giáo đành phải cáo từ.

Trên đường về lại Phân hiệu, họ mới được một người đàn ông trung niên, tình cờ gặp trên đường đi, kể thêm về gia đình ông bà vốn làm nghề xích lô đạp, bán chè gánh ở Huế đó: Họ có hai người con trai đều là thanh niên, trai tráng, nên cứ ngỡ đăng kí đi KTM. là có đất ruộng cho con trai. Nhưng vào đây, giai đoạn đầu khổ cực quá, lại bị bệnh sốt rét đe doạ đến tính mệnh cụ già nữa, nên hai người con trai lại dẫn cha mẹ bỏ trốn. Nói theo tiếng lóng ở Suối Hương là “vạch”, theo nghĩa vạch rừng mà thoát. Nhưng cả hai ông bà già đã bị bắt lại, bị dẫn độ từ Phương Lâm gì đó, vào lại Suối Hương này. Hai người con trai lánh được, nhưng sợ quá, cũng trốn biệt tăm biệt tích luôn, để tránh khỏi vào trại cải tạo!

Đình và Huế, trong câu chuyện dọc đường về, họ nhận ra, không phải ai vào vùng KTM. này cũng đều tốt đẹp hơn như một số ít cô gái giang hồ, một số ít Tú Bà, Mã Giám Sinh ở các vạn đò, hay một số ít khác là những tay anh chị khét tiếng đã được phóng thích, mà thậm chí còn bị lâm vào cảnh bế tắc hơn, tình huống tồi tệ hơn. Như gia đình Sanh đó! Như gia đình ông đạp xích lô, bà bán chè gánh đó!

Những dẫu sao đi nữa, những cánh đồng bát ngát, bạt ngàn, tuy đã vào mùa khô, trơ gốc rạ, đang trải rộng trước mắt, chung quanh hai thầy giáo trẻ, cùng những ngôi nhà tranh khang trang, cũng khiến họ cảm thấy Suối Hương không phải là vùng đất không thể no ấm. Và bên cạnh Suối Hương, còn có dòng sông Đạ Dưng, thượng nguồn sông Đồng Nai, đầy tôm cá. Nhưng hứa hẹn Suối Hương trở thành thị trấn tương lai, thành phố tương lai ư? Quá viển vông, xa vời!

- Hai thầy giáo có lẽ đã biết Trường Phổ thông cơ sở Suối Hương trước đây còn mang tên Võ Thế Yên không? Cậu Võ Thế Yên nớ bị tai nạn lao động trên cánh đồng ni, do cây ngã, đè chết.

- Nhưng vì sao, đến chừ, lại không còn đặt tên trường bằng tên của anh ấy nữa?

- Lúc đầu, trường chỉ là trường do Ban Chỉ đạo vùng KTM. Suối Hương thành lập, nên đặt tên Võ Thế Yên thành tên trường là để động viên Lực lượng Thanh niên xung kích. Thực sự là chỉ với mục đích như rứa thôi. Về sau, trường đã thành trường phổ thông cơ sở chính quy rồi, thì người ta cũng bỏ luôn cái tên Võ Thế Yên! – Người đàn ông trung niên cười to, giọng cười vừa đau xót, vừa mỉa mai –.

Đình và Huế im lặng bước. Hẳn họ thầm nghĩ trong lòng, tiếng cười của người đàn ông trung niên này không phải không đúng. Võ Thế Yên hi sinh, nhưng chỉ hi sinh do tai nạn lao động, nên việc đặt tên anh thành tên trường học cũng chỉ là sự thổi phồng nhất thời, vì mục đích nhất thời. Rồi mọi cái nhất thời đều được đánh giá lại là đương nhiên. Nhưng nghe sao phũ phàng, chua xót, mỉa mai quá đỗi! Đó cũng là một nỗi đau khó nói! Các cụm từ hoa mĩ “thị trấn tương lai”, “thành phố tương lai”, và cả cái danh tính “Võ Thế Yên” nữa, xét cho cùng, cũng để động viên phong trào, có tính nhất thời!

 

3

Sự thật là có những cuộc “vạch” – bỏ trốn – khỏi vùng “kinh tế mới” khai hoang lập ấp này. Lần đi thăm nhà người quen của Huế ở xóm Sanh và Linh Lang khiến Đình nhớ lại những bến xe, nhất là các bến xe liên tỉnh mà anh có dịp đi qua, nghỉ qua đêm để chờ mua vé đi tiếp. Trên những bến xe nhớp nhúa, hôi hám, đầy đặc kẻ ngồi, người nằm vạ vật, trẻ con kêu khóc cẳn nhẳn ấy, Đình biết có không ít người đi lẻ hoặc hộ gia đình là dân KTM., do nhìn thấy dáng vẻ tiều tuỵ, lấm bẩn, xơ rơ xác rác cùng hành lí nồi niêu soong chảo lem luốc, cũ mèm đến xót xa của họ, do tình cờ nghe họ chuyện trò với nhau và cũng bởi Đình có nhiều lần hỏi chuyện họ với ý thức thường xuyên quan sát, ghi nhận những gì diễn ra quanh mình để tích luỹ vốn sống.

Từ sau Ngày Thống nhất không lâu cho đến năm 1979 ấy, phong trào KTM. khai hoang lập ấp diễn ra khắp cả Miền Nam. Biết bao người bức bí về miếng ăn trong thời buổi cực kì túng quẫn về lương thực đã phải đăng kí lên đường đi KTM.. Đi, lại vì chỗ ở vốn là các chung cư, cư xá, trại gia binh, trại tạm cư thuộc công hữu của chế độ cũ bị giải thể, bị trưng dụng... Và đi KTM., còn do những nguyên nhân chính trị - xã hội thời hậu chiến khác (đi, là điều kiện để được phóng thích sớm hơn; đi, vì bị buộc phải đi do trót sa vào các tệ nạn từ thời chiến tranh hay mới phát sinh sau này...) – hậu chiến, thời khó khăn trăm bề, lại bị Mỹ cấm vận và bị Khmer Đỏ tấn công ở phía Tây Nam, bị Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía Bắc. Đi KTM., sự thật là bất đắc dĩ, phần lớn là do “đói, đầu gối phải bò”, chứ có ai lại phấn khởi trong việc rời bỏ quê hương bản quán hay phố phường thành thị đâu!

Trừ một số người vốn xuất thân từ nông thôn và quen với việc cày bừa, chăn nuôi, còn dân thành thị lâu đời hay đã thị dân hoá, việc đi vào những vùng đất khai hoang như Suối Hương để lập nghiệp là cả một trời khó khăn, gian khổ, thậm chí không thể chịu đựng nổi, nhất là khi đã giáp mặt với sốt rét, sên vắt, nhà cửa tranh tre phong phanh, các tiêu chuẩn trợ cấp có hạn, và thực tế họ không thấy gì ở tương lai ngoài sự tối đen bế tắc. Vì thế, “vạch” – vạch rừng tìm đường trốn thoát – là một phần sự thật ở Suối Hương, khá xám xịt,  bên cạnh những sự thật khác, tươi sáng hơn.

Có người liều mạng quay về nơi chốn cũ, mặc dù hộ khẩu đã bị cắt xoá, nhà cửa đã thay chủ. Có người nhờ có quan hệ bà con, bạn bè với ai đó ở nơi nào đó, thì ghé vào tá túc. Phần lớn là tìm đến vùng KTM. khác, thuộc tỉnh khác, dễ thở, dễ sống hơn.

Nhưng việc kiểm tra hộ khẩu nghiêm ngặt, đến nỗi nhiều người cam đành chịu chết chứ không đi bệnh viện, nên không ít người, không ít hộ gia đình phải tự quay lại hoặc bị dẫn độ về Suối Hương.

Tuy nhiên, cũng là sự thật hiển nhiên, một thứ sự thật phơi bày trước mắt mọi người, đó là những cánh đồng bát ngát, bạt ngàn, những lô vườn thổ cư rộng rinh, đều đặn nối liền, những ngôi nhà tranh phên tre khang trang... Suối Hương là vùng đất hứa hẹn cho những cuộc đời nông dân yên bình, chân chất, tuy trước mắt vẫn còn gian khổ, bị đe doạ bởi sốt rét...

Lần đi thăm gia đình Sanh và vợ chồng già quen biết của Huế, dẫu sao, cũng khiến Đình thấm thía nỗi đau sâu thẳm nhất của con người, đó là không còn có cơ may nào để có thể đổi đời thay phận ở người tuổi trẻ, đó là chấp nhận chờ chết ở người già, và còn khiến Đình thấm thía nỗi đau, đối với những người còn sống, về sự nâng lên, hạ xuống danh tính người thanh niên xung kích đã chết.

 

4

Một chiều nọ, Sanh lại đến thăm nhà tập thể Phân hiệu. Tuy vẫn còn mái tóc khô kiệt như cỏ úa, vẫn hai hốc mắt sâu trên gương mặt gầy hóp, xanh tái, chưa loại trừ được di chứng bệnh sốt rét, chưa hồi phục sức khoẻ hoàn toàn, nhưng Sanh cũng không thể đánh mất thói quen của người có học vấn là quan tâm đến những diễn biến thời sự trên đất nước và trên thế giới.

Ngồi ở phòng khách, Sanh vấn thuốc rê, nhìn Đình và Huế:

- Dạo này, nghe thiên hạ trong xóm kháo nhau về hai chữ “bung ra” trên đài phát thanh, xem ra họ cũng khoái lắm.

- Đúng là đã có Nghị quyết đề cập đến phương hướng “bung ra” trong kinh tế: Thay vì “bao cấp”, “duy ý chí”, “nóng vội” thì tháo mở dần cho các thành phần kinh tế. Kinh tế quốc doanh, tập thể cũng được tự chủ, tự hạch toán kinh doanh, theo phương thức khoán sản phẩm đến người lao động, nhóm lao động... Đồng thời cũng chấp nhận phần nào về kinh tế thị trường, thôi ngăn sông cấm chợ... Đại để theo văn bản sơ khởi và nội dung các vị đang họp bàn là vậy.

- Như vậy là lùi nhanh, lùi mạnh, lùi vững chắc, chứ không tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc nữa? – Sanh cười hăng hắc –.

- Có lẽ vậy, nhưng lùi hay tiến gì thì cũng phải vững chắc.

- “Cha chung không ai khóc”, đó là bi kịch của các hợp tác xã. May là Suối Hương chưa bị “nóng vội”, nên chỉ mới tổ chức tổ vần công, đổi công thôi.

- Sanh này, hình như lúa trồng trên vườn đất thổ cư tốt hơn, năng suất cao hơn là lúa trên những cánh đồng tập thể, phải không?

- Chắc chắn rồi. – Sanh lại cười –.

Cười xong, Sanh lại đăm chiêu, nghĩ ngợi. Nhả khói thuốc rê, nhấp một ngụm nước, Đình nói:

- Sanh có dự định mở rộng sản xuất gì đó không?

Sanh gượng cười:

- Chỉ mong làm sao cho đủ ăn ngày hai bữa mà cũng quá mệt rồi. Mình đã trót là học sinh, sinh viên sống ở thành phố, bây giờ cầm cái cuốc, cái liềm, thật chán nản không thể tưởng tượng được. Thật là vậy đó.

- Không khéo rồi vợ chồng Sanh cũng “vạch” khỏi vùng Suối Hương này?

- Bọn mình cũng đã “vạch” rồi, nhưng thất bại. – Sanh lại cười –. Riết rồi cũng chỉ hình thành một ước mơ nhỏ nhoi là đủ ăn ngày hai bữa, sống như cư sĩ tại gia. Thế thôi.

- Tiên cảnh tại tâm?

Sanh bật cười thành tiếng, vừa chua chát, vừa cam phận.

Bỗng dưng, tiếng của anh Hỉ, trưởng Ban Công an xã ngoài đường: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa tự trị Suối Hương!”.

Hoan và Thừa ở hai gian nhà hai bên, cùng với ba người bạn tại bộ bàn ghế gỗ ở phòng khách đều cười khúc khích.

- Ông Hỉ công an này sao lại buồn cười đến vậy ta?

- Mô hình đó là như thế nào?

- Chắc là chỉ những người ở Suối Hương này, từ cựu thanh niên xung kích đến dân KTM. chính cống ngoài Huế vào, cùng nhau tự cai quản, cụ thể là tự tổ chức lấy các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội như một nước độc lập vậy, nhưng không cát cứ mà thống thuộc vào tổng thể Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng Sanh à, đó là anh Hỉ công an đùa thôi. Làm gì có chuyện đó! Thậm chí, mình ngỡ anh Hỉ cường điệu, phóng đại để châm biếm anh Cửu, hay thử lòng nhà tập thể này cũng nên!

Sanh như bị điện giật, đứng dậy, nói lời tạm biệt. Anh bắt tay Đình và Huế, chào Hoan cùng Thừa, rồi bước ra khỏi cửa.

Đình chỉ biết nhìn theo dáng đi tuy cố ý giữ vẻ bình thường, nhưng có gì đó hơi mất tự nhiên của Sanh.

 

5

Khoảng hơn nửa tháng sau, Huế được Linh Lang báo tin là ông cụ bị bệnh sốt rét, vốn làm nghề đạp xích lô, là người quen của Huế, đã trút hơi thở cuối cùng.

Khi Huế và Đình sắp xếp được việc đổi tiết dạy để đi dự lễ an táng thì muộn mất một buổi. Họ chỉ biết ghé vào nhà, chia buồn với bà cụ, thắp nhang cắm vào chiếc lư trên kệ tre ở căn giữa ngôi nhà tranh.

Huế và Đình cũng nhờ Quang, một em học sinh nam, đưa đi thăm mộ.

Ba thầy trò cùng đi trên một con đường nhỏ dẫn vào phía bìa rừng, nơi đang dần hình thành nghĩa trang của Suối Hương. Ở đó đã có mươi nấm mộ.

Đứng trước nấm mộ đất đắp còn mới, ba thầy trò chỉ biết ngậm ngùi cảm thương.

Lát sau, Đình hỏi em học sinh:

- Quang có biết ngôi mộ của anh Võ Thế Yên không? Nếu biết thì thầy trò mình đến viếng một chốc.

- Dạ, thầy đi với em.

Đó cũng là một ngôi mộ đắp bằng đất, đã xanh um cỏ, nhưng tấm bia bằng gỗ có khắc tên họ và năm sinh, năm mất cùng quê quán của Võ Thế Yên vẫn đọc được. Ai đó mới kẻ lại bằng sơn màu đỏ.

- Thì ra anh này cũng là dân phường Thuận Thành, thành phố Huế!

Một lúc sau, ba thầy trò đứng vái thêm lần nữa, rồi lững thững bước về.

Huế chép miệng:

- Không biết hai người con trai của ông cụ ấy bây giờ ở đâu?

Đình chỉ thầm hi vọng hai người ấy sẽ tìm được một chốn dung thân tại một vùng đất khai hoang lập ấp nào đó, chẳng hạn như thuộc tỉnh Đăk Lăk hay tỉnh Sông Bé, và sẽ tìm cách đưa mẹ đến ở chung để phụng dưỡng tuổi già.

Đình cũng chợt nhớ đến Nếp Hương, cô y sĩ đã tốt nghiệp Trường Cán sự y tế Huế, nay trở thành thợ may bán chuyên nghiệp tại nhà. Nhưng Đình biết Suối Hương ở xóm khác, cách xa đến vài cây số đường làng, hẳn Nếp Hương cũng không hay biết gì về nỗi đau chờ chết của ông cụ đạp xích lô và nấm mộ của ông. Vả lại, trong tay Nếp Hương đâu có một viên thuốc, một ống tiêm nào đâu! Còn “nụ cười tươi tắn” của Nếp Hương? Phải chăng ngoài nét tươi tắn trời cho, nụ cười ấy hẳn nở sáng từ niềm hi vọng chung cho Suối Hương, chứ cô không thể biết hết hay xoa dịu được tất thảy bao nỗi đau riêng, trong đó có cả nỗi đau thân phận của riêng Nếp Hương nữa?

 

6

Hơn một tuần sau, cậu học trò tên Quang, cùng xóm với Linh Lang, trao cho thầy giáo Đình một lá thư khá dài của Sanh, lúc anh vừa dạy xong tiết ngữ văn, ở tiết thứ ba của buổi học, trước giờ ra chơi. Đình ngồi nán lại sau bàn giáo viên để đọc lá thư đó:

“Phan Huyên Đình thân mến,

Không hiểu sao mình có nhu cầu được giãi bày một điều mình rất khó nói. Thư này gửi đến bạn, xem ra cũng hơi buồn cười, và nếu bạn cảm thấy phiền lòng, thì thôi, đừng đọc. Còn với mình, xem như mình đã tâm sự với bạn rồi.

Thật ra, bi kịch của mình hiện nay, trước hết là do lỗi của mình. Nhưng mình thấy không cần đi sâu vào cái lỗi “vượt biên” đó làm gì. Cái bi kịch chính của mình hiện tại là mình không thể nào thay đổi được khát vọng, chí nguyện và nếp sống cũng như nếp lao động trí óc mà mình đã được hình thành từ hồi mới được sinh ra đời. Mình là thị dân, từ ấu thơ đến tuổi hai mươi, đều sống ở thành phố Huế, nên mình có biết cuốc đất, gieo lúa, gặt thóc, trồng rau, chăm gà, nuôi heo, đánh cá bao giờ đâu. Mình cũng như mọi thanh niên Huế đương nhiên đều đã bị điều kiện hoá. Chúng mình chỉ biết đến học tập, học tập và học tập, để có trình độ học vấn nhất định, để đỗ đạt, rồi làm những công việc của thị dân, của giới viên chức, giới kĩ nghệ, hay làm thầy giáo. Thế mà số phận xô đẩy, mình phải vào lập nghiệp ở một vùng rừng già, mới khai hoang lập ấp là Suối Hương này, một nơi như thể bị cô lập giữa trùng trùng điệp điệp rừng già, chỉ nối thông với bên ngoài bằng con đường đất độc đạo mới mở, còn đường thuỷ thì lắm ghềnh, nhiều đá tảng giữa lòng sông, một nơi hoàn toàn thiếu thốn mọi tiện nghi tối thiểu mà loại thị dân nghèo như mình từng được biết đến.

Vậy đó, nên làm sao mình có thể chấp nhận được cuộc sống từ thị dân, sinh viên, với chí nguyện trở thành trí thức, lại bị số phận xô đẩy trở thành dân cày, bị nông dân hoá.

Con người ta, nói chung, ai cũng muốn vươn lên, chứ không ai muốn chui xuống. Từ người nông thôn, vươn lên thành thị dân, thành trí thức, thành công chức thì rất dễ. Ngược lại, thật vô cùng khó.

Kí sinh trùng sốt rét rừng già vẫn mai phục trong thân thể mình nữa!

Vì thế, thật lòng mà nói, mình không thể an cư lạc nghiệp ở vùng đất Suối Hương này được. Nhưng trên đất nước này, đi đâu rồi cũng không thoát được cách thức quản lí hộ khẩu của công an. Đôi khi, mình nghĩ, mình chẳng khác chi một tù nhân khổ sai chung thân tại Suối Hương.

Phan Huyên Đình thân mến,

Nhưng hình như mình nói quá nhiều về mình, phải không? Mong bạn thông cảm với lời giãi bày này nghe! Hoàn toàn không phải mình là kẻ bất tài trong cuộc lập nghiệp ở Suối Hương, chẳng hạn như ra sức làm một anh nông dân (chưa bị vào hợp tác xã), một nông dân khấm khá chút đỉnh cho vợ (may là con chưa có) được nhờ cậy, mà chính vì mình không muốn làm nông dân (mặc dù vẫn rất kính trọng nông dân).

Thân chúc Đình và anh em nhà tập thể Phân hiệu PTTH. được vui khoẻ, không bị kí sinh trùng sốt rét tấn công.

Hẹn gặp lại bạn vào một ngày nào đó.

Thân,

BPS.”.

Đình đọc lướt nhanh để xem Sanh muốn nói điều gì, trước khi thong thả đọc lại từng chữ của Sanh, vì Đình linh tính Sanh đang làm một cuộc “vạch” khác. Nhưng khi đã về nhà tập thể, đọc lại lá thư của Sanh, Đình nhận thấy Sanh giãi bày khá kĩ về nỗi đau khổ trong quá trình sinh viên thị dân bị nông dân hoá, chứ không viết rõ ràng Sanh sẽ “vạch” hay không, thậm chí, chừng như nếu “vạch”, thì Sanh cũng chỉ “vạch” mỗi một mình. Nếu thế, chẳng lẽ anh chàng này nỡ ích kỉ, bỏ Cẩm Thạch lại một mình “côi cút” giữa Suối Hương?

Chiều hôm đó, Đình định đi đến nhà Sanh để gạn hỏi về ý định sâu kín của Sanh. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, đọc tới hai ba lần câu cuối của lá thư, “Hẹn gặp lại bạn vào một ngày nào đó”, Đình thấy Sanh có đủ sáng suốt và có quyền tự quyết định cuộc đời và tương lai của chính Sanh. Đó không phải là một bức thư tuyệt mệnh, để Đình sẽ phải hối hận là đã không khuyên ngăn Sanh. Đình cũng nghĩ, có thể Sanh chỉ giãi bày tâm sự, nhất là gián tiếp lí giải về cảnh sống riêng, vì lòng tự trọng mà thôi, và chỉ có vậy. Bởi nghĩ như thế, nên Đình cũng không vội gì gặp lại Sanh.

Đình lại một lần nữa nhớ đến “nụ cười tươi tắn” của Nếp Hương. Phải chăng đó là nụ cười của bậc thánh quên mình, chứ không phải của con người phàm trần, có chung, có riêng? Nỗi đau của Sanh cũng tương tự như nỗi đau của Nếp Hương. Hơn nữa, Sanh còn tự nhận lỗi đã “vượt biên”, chứ Nếp Hương, cô y sĩ ấy có lỗi gì do bản thân tự gây ra đâu! Rõ ràng nỗi đau của Nếp Hương là phải lẽ hơn! Nhưng sao Nếp Hương vẫn giữ được nụ cười tươi tắn đến nhường ấy!

(Còn tiếp)

 

 

 

 

>> Xem tiểu thuyết của tác giả khác

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.