Tin mới Xem thêm

  • Nốt trầm của Kiều Huệ: Trĩu nặng một...

    Trĩu nặng một chữ tình - đó là cảm nhận lắng đọng trong tôi sau khi đọc xong bản thảo tập thơ Nốt trầm của nhà thơ Kiều Huệ

  • Nguyễn Ngọc Thu & cây đa ký ức tuổi thơ

    Cứ mỗi lần đi qua/ Cây đa đầu làng/ Nghe âm thanh thời gian/ Vọng vào nỗi nhớ/ Tôi lớn lên cây đa làng đã có

  • Thụt chân vào nhà

    Thi hào Nga Maiakovski sáng tạo ra lối thơ bậc thang, theo “nhà Maia học” Hoàng Ngọc Hiến, là vì muốn “xây dựng những câu thơ tiết kiệm và cô đọng”. Thế nhưng lối bậc thang, tam cấp ra vào những ngôi nhà ở ta lại chẳng hề “tiết kiệm” không gian chút nào. Chúng cứ đua nhau duỗi chân ra hè phố, ngáng đường người đi bộ.

  • Đoàn Phương Huyền - Sáo ơi về đâu?

    Được lại hát, tiếng hát của anh quyện vào tiếng sóng, tiếng gió, quyện vào những tâm hồn trên sông. Khi tiếng hát vừa dứt thì tiếng sáo lại

  • Nguyễn Thị Bích Nhàn - Lời hứa hoa anh đào

    Hai hai tuổi, tôi lấy chồng, mối tình đầu mà tôi ngỡ đẹp nhất thế gian. Yêu, cưới, đổ vỡ - nhanh như một trận mưa đá. Giờ ngồi nhớ lại

  • Võ Thanh An trọn đời không nợ nần ai

    Võ Thanh An không phải nhà thơ của trí tưởng tượng, của những cảm xúc đa đoan, mơ hồ, của phép tu từ cầu kỳ, của một cấu trúc

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tiểu Thuyết

Truyện vừa Trần Xuân An: Suối Hương - P2

27.10.2012-16:50

@ Thư viện Trần Xuấn An

 

LỐI THOÁT SUỐI HƯƠNG

 

TRUYỆN CỦA TRẦN XUÂN AN

 

1

NVTPHCM- Vào tháng chạp nguyệt lịch trước Tết Nguyên đán, có một số không ít dân Suối Hương đi một mình và đi nguyên cả hộ đã làm đơn xin phép được về Huế thăm quê quán hay đi các tỉnh khác thăm bà con. Cầm được lá đơn đã có bút phê với chữ kí của chủ tịch Phùng Liêu cùng khuôn tròn mực đỏ con dấu Ủy ban xã, có người mừng rơn đến rơi nước mắt. Dĩ nhiên ai cũng đều cam kết là sẽ vào lại Suối Hương để tiếp tục an cư lạc nghiệp, góp phần xây dựng quê hương mới. Có người còn viết hẳn trong đơn một cách văn vẻ là về thăm để “hấp thu lại, nhằm mang thêm văn hoá Huế vào Suối Hương, vì sau hai năm xa Huế nên có phần phai lạt bản sắc Huế”!

Đến sau Tết đã hơn nửa tháng rồi, vậy mà vẫn có người, có hộ vẫn chưa chịu có mặt ở Suối Hương. Một tháng sau, qua lời anh Hỉ công an, có thể phải làm báo cáo hai phần ba trường hợp xin phép về thăm vào dịp Tết đã thật sự bỏ trốn hẳn, trong đó có nhiều trường hợp đã đến các vùng KTM. thuộc các tỉnh khác, và cũng có trường hợp đã “vượt biên”!

Anh Cửu, trưởng Ban Quy hoạch, vừa buồn lại vừa bực. Anh vẫn đến thăm nhà tập thể Phân hiệu như thỉnh thoảng vẫn vậy, nhưng dạo này, còn có thêm lời động viên các giáo viên trước tình hình có nhiều người, nhiều hộ “vạch” đến thế. Một hôm, anh nói:

- Nói thật với các thầy giáo, khoảng mấy tháng trước đây, đâu chừng tháng sáu, tháng chín 1979, mình có nhận được các văn bản, cũng đi dự nhiều cuộc họp triển khai Chỉ thị của Trung ương về việc sử dụng trí thức Miền Nam cũ (1), kể cả số sĩ quan nguỵ “biệt phái”, và Nghị quyết về phương hướng “bung ra” trong sản xuất, bỏ hẳn trình trạng “ngăn sông, cấm chợ” trong lưu thông, phân phối hàng hoá (2). Thế nhưng, trong thực tế, triển khai thì triển khai miệng mồm là chính, chứ mọi sự vẫn như cũ.

- Vì sao vậy anh? – Đình hỏi –. Nghe nói là có nhiều cán bộ cấp cao vẫn bảo thủ, sợ các yếu tố phi xã hội chủ nghĩa lấn lướt? Không biết có đúng không?

Anh Cửu nhếch môi:

- Chứ còn gì nữa. Số cán bộ đó sợ bị hớ! Chẳng hạn như sau này “lên dây cót” lại, thì anh nào trót hưởng ứng bây giờ, sẽ bị phê là “hữu khuynh”, rồi “đứt dây”, “chết máy”, “phải chịu chùi dầu” lại. – Anh quả quyết hơn –. Cho nên, trong tình hình “sức ì” bảo thủ còn nặng nề như vậy, mình vẫn thích Suối Hương của chúng mình đây được tự quản. Nếu được tự quản, mình sẽ ủng hộ, hưởng ứng Chỉ thị mới về sử dụng trí thức cũ, Nghị quyết mới đã loé ra một chút về “khoán chui”, khoán sản phẩm... và cũng theo đó, mở cửa ngõ Suối Hương đến tối đa ngay, bỏ chốt chặn ở đó!...

Đình liên tưởng đến những trạm kiểm soát ở các ranh giới tỉnh trên đường quốc lộ Một. Đó là những trạm ngăn chận hàng hoá, đặc biệt là lương thực, thực phẩm, từ nội tỉnh xuất ra các tỉnh khác mà bây giờ đã gỡ bỏ nhiều rồi.

Anh lại nghe Hoan nói, theo mạch chuyện của anh Cửu:

- Nếu được thế thì cũng đâu có sai Chỉ thị, Nghị quyết Trung ương!

- Mình chấp nhận hậu quả “đứt dây”, “chết máy”, “chùi dầu lại”! – Anh Cửu chỉ tay vào lồng ngực anh, tự ví trái tim anh như cái đồng hồ quả lắc –.

Sương, Đình, Huế, Hoan và Thừa đều cười, tiếng cười đồng cảm với anh Cửu.

- Nhưng “đứt dây”, “chết máy” trái tim thì khó chữa lắm! “Chùi dầu lại” cũng không chạy được nữa! – Đình nói vui –. Anh không “rét” à?

Anh Cửu cười:

- Các thầy giáo cứ tin đi! Tín hiệu đáng mừng lắm!

Và anh tạm biệt. Sương thay mặt anh em tiễn chân anh Cửu ra khỏi ngõ. Quay vào, Sương cười, nói:

- Ông Cửu này “gân” lắm! Nhưng sợ đến khi tự quản được thì dân Suối Hương đã “vạch” hết cả rồi. Họ đến các tỉnh khác, dễ thở, dễ sống và trọng dụng họ hơn! Có lẽ các tỉnh, các huyện đó, như ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai chẳng hạn, nông dân đòi hỏi, đấu tranh, và cán bộ lãnh đạo dám cho thực hiện “khoán chui” rồi, còn một số thành phố khác, người ta không đưa trí thức cũ ra khỏi thành phố nữa...

Ngoài ngõ, anh Diễn đi ngang qua, vừa cười vừa nói vói vào thay lời chào: “Mấy thằng thầy chưa ăn cơm trưa à?”. Trong nhà, một người đáp thay: “Chào anh Diễn! Cũng sắp sửa anh à”.

Đó là câu chào lúc này, còn những lần khác, gặp giờ khác: “Mấy thằng thầy chưa ngủ à?” hay “Mấy thằng thầy chấm bài tập à?”... Nếu ai không hiểu anh Diễn, thì chắc tự ái, vì đã gọi là “thầy” mà còn thêm chữ “thằng” phía trước! Nhưng với anh, đó là cách biểu lộ sự thân tình, và có thể chứa đựng thêm trong đó một nét tâm lí vô thức “nhất nông nhì sĩ”, trong thời buổi hai chữ “trí thức” thường được có thêm một định ngữ là “tạch tạch sè” (tiểu tư sản)!

Anh Diễn, bí thư chi bộ xã, người Nghệ - Tĩnh, đồng hương với Hoan, từ lâu nay vẫn ở tại ngôi nhà tranh cuối dãy phía trái nhà tập thể Phân hiệu, nơi mỗi lần anh em giáo viên đi tắm hay lấy nước về dùng, phải đi qua đó mới quành vào khe dưới chân đồi. Anh Diễn vốn là bộ đội, trước đây nghe đâu cũng chiến đấu tại vùng giáp ranh giữa chiến khu D và Khu 6 này. Sau Ngày Thống nhất, vì đã trên bốn mươi tuổi, nên anh đã chuyển sang dân chính. Gia đình anh hiện ở Mađagui, vì vợ anh mới từ Nghệ - Tĩnh vào, hiện đang công tác trong cơ quan thương nghiệp huyện.

Mấy hôm sau, anh Diễn mời Hoan và Đình qua nhà anh ăn chè khoai tía, loại khoai có nơi gọi là khoai mỡ, màu tím tươi rất đẹp.

Đúng là khoai tía được trồng ở đây rất thơm, cũng như trái mướp ngọt từ một dây mướp mọc hoang, Đình tình cờ hái được ở một bụi cây sau nhà. Trái mướp ấy có dáng hình bầu dục chứ không dài thuỗn, và nó thơm ngát, thơm hơn mướp ngọt trồng ở Quảng Trị - Thừa Thiên nhiều.

Nhưng trong câu chuyện, có lẽ không nén được tâm sự, nên anh Diễn có lúc trở giọng cay đắng, mỉa mai:

- Thằng cha Cửu lẽ ra đã ra Huế lại rồi, nhưng nghỉ vẫn cứ lưu luyến mãi cái đất Suối Hương ni. Chừ đã chính thức thành xã của huyện mới Đạ Huoai, thì Ban Quy hoạch thuộc thành phố Huế đâu còn chức năng chi ở đây! Rứa mà nghỉ vẫn kiên quyết xin duy trì thêm một năm nữa để tham mưu, tham méc!

Sực nhớ những điều anh Cửu mới nói gần đây, Đình hỏi:

- Tháng 9 năm ngoái, bọn em đã đọc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (2) trên báo Nhân Dân, trong đó có nói đến phương hướng “bung ra” trong sản suất. Nhưng không được đọc Chỉ thị về việc sử dụng trí thức Miền Nam cũ (1) của Trung ương. Nghe nói đó là Chỉ thị nội bộ, không đăng báo. Có Chỉ thị đó không anh?

Anh Diễn nhìn Đình trong một thoáng dò xét hay ngẫm nghĩ gì đó:

- Có Chỉ thị đó thật. Nhưng triển khai thì triển khai, chứ thực hiện trong thực tế, vấp nhiều thứ lắm. Chỉ một số cán bộ hoạt động trong Nam ủng hộ, còn một số cán bộ ngoài Bắc vào, không hiểu trí thức Miền Nam cũ lắm, họ không thích! – Anh Diễn cười gượng –. Nhưng mấy đứa thầy giáo như bọn bây thì lo chi, đều mới tốt nghiệp sau 1975 cả mà! –. Rồi anh Diễn lại tiếp tục mời Đình và Hoan ăn chè khoai tía.

Một lúc sau anh Diễn lại nói:

- Thật ra, bọn đế quốc nước ngoài chúng nó hạ uy tín của ta bằng cách phê phán kịch liệt về việc ta không sử dụng, đãi ngộ trí thức cũ, cũng như con em họ, để tình trạng “vượt biên” diễn ra. Ui chào! Bây giờ trên thế giới cái gọi là vấn đề “Thuyền nhân Việt Nam” ầm ĩ cả lên! Thế nên Trung ương mới có Chỉ thị nớ đó!

Anh Diễn lại rót nước trà, loại trà ướp ngâu của Đạ Bảo hẳn hoi, mời Hoan và Đình, chừng như cũng không muốn bàn đến chuyện đó nữa. Rồi cuộc chuyện trò cũng chỉ là những gì thuộc về nắng mưa dưa lúa chung quanh.

Đình về giảng dạy ở Suối Hương này cũng đã hơn một học kì, nên dần dần cũng trở nên thân quen với nhiều người ở đây, gồm cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt như anh Diễn, và ít nhiều cũng biết thực trạng Suối Hương, một mảng hiện thực cuộc sống không những cần thiết để làm nền cho những bài thơ Đình viết lúc này mà còn là chất liệu cho văn xuôi của Đình về sau (viết ngay thuở bấy giờ thì không thể được!).

Sau Tết Nguyên đán, càng hiện rõ vấn nạn “vạch” của Suối Hương, mà căn nguyên là yêu cầu khách quan thúc bách “bung ra” trong sản xuất, là vấn đề trọng dụng nhân sự gốc Miền Nam cũ và tương lai của con cháu họ... Đó vẫn là nỗi nhức nhối, thao thức nhất của cán bộ, giáo viên, đặc biệt là nhân dân ở đây. Nhưng không chỉ riêng trên mảnh đất này. Đó là sự thật phổ biến đã được đề cập trên báo chí công khai, và hơn thế nữa, đã phản ánh đồng thời được giải quyết trong các văn kiện thuộc loại quan trọng, có tính chất toàn quốc hay toàn Miền Nam.

Vẫn thế, anh Hỉ công an thỉnh thoảng vẫn nói to ngoài ngõ như một câu đùa, một cách đằng hắng đánh tiếng: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa tự trị Suối Hương!”. Không thật rõ dụng ý của anh Hỉ là gì, nhưng cũng khiến Đình suy nghĩ. Phải chăng chỉ có tự trị, tự quản mới có thể thực hiện đúng và đủ Nghị quyết, Chỉ thị cho Suối Hương sao? Bởi lẽ, Trung ương đã tháo mở, nhưng Tỉnh không chuyển, Huyện không chuyển, làm thế nào Suối Hương chuyển biến được!

Đình lại không thể không nhớ đến “nụ cười tươi tắn” của Nếp Hương. Phải chăng Nếp Hương đã đọc được, nghe được Nghị quyết, Chỉ thị ấy? Hay cụ thể hơn, cô lạc quan hi vọng một ngày không xa nữa, trạm xá y tế Suối Hương sẽ thành bệnh viện Suối Hương như anh Cửu mong ước? Rõ ràng anh Cửu vẫn tiếp tục vận động vì mục tiêu Suối Hương tự quản, tự trị, trong tình hình “sức ì” bảo thủ, định kiến vẫn còn phổ biến!

 

2

Trong những ngày tháng sau Tết Nguyên đán Canh thân 1980, không phải chỉ anh Hỉ mới thỉnh thoảng nói to lên như hô khẩu hiệu: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa tự trị Suối Hương!”, mà nhiều người dân Suối Hương cũng thỉnh thoảng, đơn lẻ hô khẩu hiệu ấy!

Hình như Tỉnh uỷ Lâm Đồng đã ít nhiều nắm được tình hình Suối Hương ở thời điểm đó.

Một hôm, Sương về nhà tập thể Phân hiệu thông báo, tối nay, tất cả giáo viên Phân hiệu, kể cả cô giáo Phin hiện vẫn ở với gia đình, sẽ phải có mặt tại quảng trường Khu Trung tâm để nghe một vị lãnh đạo từ Đà Lạt về nói chuyện tình hình thời sự.

Tối hôm đó, quảng trường sáng ánh đèn điện. Nhiều cây tre, đã róc bỏ cành lá, được trồng quanh một khoảnh đất trước một khán đài mới dựng. Những bóng đèn điện được treo trên khán đài và những cây tre ấy. Trước gò đất Ban Quy hoạch đóng, thấy có chiếc xe hơi bốn bánh từ Đà Lạt chạy về, đậu ở đó.

Nhân dân Suối Hương đã được thông báo để tập trung về quảng trường, cứ mỗi hộ tối thiểu có một người đại diện.

- Hôm nay dân Suối Hương mình đi nghe lãnh đạo tỉnh nói chuyện quá đông! – Một anh thanh niên xung kích nay trở thành du kích của xã nói –.

- Những lần khác không đông bằng à? – Đình hỏi –.

- Những lần khác ít hơn. – Anh du kích đáp –.

Đình thấy ở dãy ghế băng gần kề khán đài, có đầy đủ các chức sắc của địa phương, riêng anh Hỉ, trưởng Công an xã, và anh Hùng, Xã đội trưởng, thì lo chỉ huy việc canh giữ trật tự nên không ngồi ở đó. Ban Giám hiệu và toàn thể giáo viên Trường Phổ thông cơ sở cùng các cô phụ trách mẫu giáo mầm non, bảo mẫu nuôi dạy trẻ, cũng đều có mặt. Trưởng Trạm xá Y tế, một người phụ nữ khoảng bốn mươi tuổi, cũng ngồi chung.

Sau lời phát biểu chào mừng của anh Cửu, nguyên lãnh đạo của KTM. Suối Hương, chủ tịch xã Phùng Liêu giới thiệu vị lãnh đạo tỉnh lên khán đài nói chuyện với toàn thể cán bộ, công nhân viên chức và đại diện các hộ nhân dân Suối Hương.

Ông ấy nói khá dài về tình hình thời sự trong nước, đặc biệt là trong tỉnh, nhất là vấn đề “sản xuất bung ra”, chủ trương tháo gỡ ách tắc về lưu thông, phân phối...

Đến khi vị lãnh đạo gần kết thúc bài nói chuyện, bỗng từ chỗ nhân dân Suối Hương đang ngồi nghe, vang lên tiếng hoan hô. Rõ ràng tiếng hoan hô ấy chặn tiếng vỗ tay thường thấy. Nhưng rất lạ là tiếng hoan hô ấy lại như tín hiệu bắt đầu cho hàng loạt tiếng đồng thanh “hoan hô” khác, cứ như thể sau một câu khẩu hiệu được đồng thanh hô lên, nhưng khẽ thôi, là tiếng hoan hô to hết cỡ, rập ràng vang dậy.

- ...

- Hoan hô!

- ...

- Hoan hô!

- ...

- Hoan hô!

Tiếng “hoan hô” vẫn cứ vang lên rập ràng như thế đến trên hai mươi lần.

Ban đầu, vị lãnh đạo trên khán đài hơi ngạc nhiên, phấn khởi và dần dần ông tái mặt, kinh ngạc, biết là có gì đó không bình thường ở sự thể “hoan hô” liên tu bất tận này. Ông luớ quớ bước xuống khỏi khán đài, đến chỗ chức sắc, cán bộ, giáo viên, nhân viên Suối Hương đang sửng sốt đứng dậy, quay mặt lại, ngơ ngác nhìn đám đông quần chúng đang “hoan hô” mỗi lúc mỗi rập ràng hơn, vang dội hơn. Giọng gấp gáp, ông hỏi:

- Gì thế? Gì thế?

Anh Cửu cũng kinh ngạc:

- Không biết dân đang làm gì kì lạ như thế?

Anh Cửu, anh Liêu, anh Diễn chạy tới chỗ nhân dân đang đứng hét to “hoan hô”, bảo:

- Thôi đi, bà con thôi đi! Tại sao “hoan hô” liên tục vậy?

Trong khi đó, nhân dân vẫn cứ “hoan hô”, dễ chừng đã đến năm, bảy chục lần:

- ...

- Hoan hô!

- ...

- Hoan hô!

- ...

- Hoan hô!

Khi đến gần đám đông, các vị lãnh đạo Suối Hương đã nghe ra câu khẩu hiệu, mỗi người đều tự hô, nhưng hô rất khẽ, là “Khoán sản phẩm đến người lao động và tự quản, tự trị!”.

Rồi đám đông nhân dân cũng tự động giải tán, ai về nhà nấy, để lại trên quảng trường sáng ánh đèn điện là các vị lãnh đạo tỉnh, chức sắc địa phương và giáo viên, nhân viên cùng đội du kích đang đứng sững sờ.

Sững sờ nhất là các vị có chức quyền và trách nhiệm, vì họ không thể ra lệnh bắt tất cả đám đông quần chúng ấy, ít ra cũng ba, bốn trăm người.

Đình và nhóm giáo viên Phân hiệu Phổ thông trung học cũng ngạc nhiên, kinh ngạc, sững sờ.

Một lúc sau, chỉ còn lại ở quảng trường vỏn vẹn các vị lãnh đạo, chức sắc.

Về tới nhà, Đình và anh em giáo viên vẫn còn kinh ngạc, nỗi kinh ngạc khi tận mắt thấy, tận tai nghe nhân dân Huế ở Suối Hương bày tỏ thái độ, ý kiến của họ bằng cách thức ôn hoà mà mãnh liệt như vậy.

Đình cũng tiếc là không kịp tìm xem cô gái có “nụ cười tươi tắn” Nếp Hương và vợ chồng Sanh - Cẩm Thạch có tham dự trong buổi tối đầy kịch tính thời sự đó hay không.

Anh cũng nghĩ, nếu đã thực hiện “khoán chui”, khoán sản phẩm đến người lao động, nhóm lao động, hộ gia đình, liệu có còn những anh đội viên đội sản xuất nào đó lén lút ngâm hai câu thơ trong giai thoại về Cao Bá Quát, đã được “tân trang” lại, mà một học sinh đã liên hệ để phê phán “theo bài bản” trong một bài tập làm văn nói, giữa một tiết học hay không:

“Nghe hồi kẻng giục, mồ cha kiếp

Vác cán cày đi, mả mẹ đời!”.

 

3

Không khí của vùng Suối Hương trở nên căng thẳng. Đó là một sự căng thẳng kéo dài đến ngộp thở. Tuy vậy, học sinh vẫn đến lớp, giáo viên vẫn giảng dạy, và quán hớt tóc, quán may mặc, trạm y tế vẫn hoạt động, cửa hàng hợp tác xã vẫn mở cửa, mặc dù rất ít khách hàng. Còn đội du kích xã dĩ nhiên phải trực chiến một trăm phần trăm, đặc biệt ở cửa ngõ đường bộ tại dốc “Mạ ơi!” và đầu mối đường thuỷ là bến ca nô. Ở hai điểm đó, có lệnh không một ai được ra vào, với lí do đưa ra để giải thích cho dân là Huyện đội cùng Công an huyện đang diễn tập quân sự theo phương án phòng chống trong tình huống giả định, chứ không vì lí do nào khác. Cán bộ họp liên tục, và chia nhau xuống các tổ sản xuất, chứ không phải các đội sản xuất, để “làm việc” với dân, tránh tình trạng tập trung dân lại với số lượng nhiều tại mỗi địa điểm.

Khoảng một tuần trôi qua, Đình và tập thể giáo viên Phân hiệu còn được nghe kể thêm...

Sau khi vụ “hoan hô” xảy ra vào tối nói chuyện thời sự ở quảng trường Khu Trung tâm Suối Hương, vị lãnh đạo tỉnh, vốn từ Đà Lạt về, cùng cán bộ địa phương như anh Diễn, anh Liêu, anh Hỉ và cả anh Cửu (trưởng Ban Quy hoạch) với một số cốt cán họp đến 3 giờ sáng để phân tích sự vụ, tìm hiểu nguyên nhân.

Kết thúc cuộc họp, anh Cửu và anh Hỉ hình như được lệnh phải “trực” tại trụ sở Uỷ ban xã, không được đi nơi nào khác.

Vị lãnh đạo tỉnh lên xe bốn bánh vào lúc 5 giờ sáng, khi đã được chỉ huy Công an huyện, chỉ huy Huyện đội báo cáo tình hình, cuộc “diễn tập hành quân, sẵn sàng chiến đấu” trên suốt con đường từ dốc “Mạ ơi!” ra tới huyện lị Mađagui đã triển khai tốt. Và thông tin được loan truyền vừa bằng phương thức tuyên truyền miệng, vừa bằng hệ thống loa truyền thanh, cũng y như nội dung thông tin được thông báo, giải thích ở cửa ngõ dốc “Mạ ơi!”, ở bến ca nô của Suối Hương.

Hai phóng viên của đài báo Lâm Đồng đi theo vị lãnh đạo cũng im thin thít, chẳng có mẩu tin nào được phát thanh, được đăng tải.

Vụ ấy, nếu là diễn tập quân sự hay gọi bằng một từ gọn hơn là tập trận, thì đó là chuyện bình thường. Cho nên, hầu như dân thuộc các vùng KTM. khác, hai bên tuyến đường “Mạ ơi!” – Mađagui, kể cả Đạ Tẻh, đều không hay biết gì hơn.

Không có tình huống “nổ dây chuyền” diễn ra trong nhân dân các vùng trên toàn huyện, toàn tỉnh!

Đến khoảng mươi hôm sau, tình hình Suối Hương cùng những sinh hoạt đều trở lại bình thường. Anh Cửu và anh Hỉ sau khi bị “cấm cung”, cũng không có gì khác so với những ngày tháng trước vụ “hoan hô”. Trong nhân dân Suối Hương, đặc biệt là những người có tham dự vụ “hoan hô” đó, cũng không một ai bị bắt bớ gì, vì thực chất họ chỉ đòi khoán sản phẩm đến người lao động và đòi sử dụng nhân lực địa phương, còn “tự quản, tự trị” là do bức bí quá, họ mới “biểu đồng tình” như vậy, mặc dù nội dung của mô hình “tự quản, tự trị” như một nước độc lập thì lớn lao hơn nhiều, nên miễn bàn... Không bắt bớ, miễn bàn, bởi các cấp lãnh đạo Lâm Đồng không muốn Trung ương biết có vụ việc xảy ra như thế. Vả lại, Trung ương đã tháo mở rồi, lỗi là do Tỉnh, do Huyện làm “cái sảy nảy cái ung”... Cụ thể hơn, nếu có một số dân bị bắt bớ, chắc hẳn vụ việc sẽ nổ to hơn, và Tỉnh, Huyện cũng có vị ngồi chơi xơi nước hoặc “rớt đài”.

Nhưng dẫu sao sự im ắng trở lại đó cũng chỉ là vẻ bên ngoài, nhờ kĩ thuật và nghệ thuật ém nhẹm khôn khéo, còn trong tâm tư nhân dân Suối Hương và cán bộ, từ vùng đất này cho đến Huyện, Tỉnh, đều rúng động.

Tuy nhiên, đó cũng chỉ là những gì Đình biết được, suy luận ra, trong điều kiện của anh. Có thể còn có nhiều chi tiết khác mà Đình không hề biết, không nghĩ ra nổi.

 

4

Dạo này anh Cửu rất ít ghé thăm nhà tập thể Phân hiệu. Một vài lần đến, anh cũng chỉ thăm hỏi sức khoẻ. Tuy vậy, tuyệt nhiên chưa bao giờ nghe anh Cửu phủ nhận ước vọng trả món nợ hứa hẹn về một thị trấn mới, một thành phố mới như hồi mới vận động dân Huế đi xây dựng KTM. Suối Hương. Nhưng Đóng vẫn thỉnh thoảng đến, và chuyện trò nhiều hơn.

Sau vụ “hoan hô” không lâu, khoảng chừng một tháng, Đóng nói:

- Bây giờ tình hình trở nên yên ắng lại rồi, tôi cũng trao đổi và tâm sự với các anh... Mặc dù tôi nghĩ có những điều các anh rõ hơn tôi, nhưng tôi cũng nói... Thật ra, cái vụ “hoan hô” đó có nguyên nhân rất sâu xa. Thứ nhất là về khoán sản phẩm đến người lao động. Vấn đề khoán ấy, từ hồi những năm sáu mươi, ở ngoài Bắc đã có một bí thư tỉnh uỷ, đó là ông Kim Ngọc, khởi xướng và thực hiện theo yêu cầu của dân. Lúc ấy, phong trào hợp tác hoá đang lên mạnh, mà đã xảy ra như vậy. Nói cho đúng là khi ra sức đẩy phong trào hợp tác hoá lên thì càng bộc lộ sự bất cập của phương thức sản xuất, nên dân mới kêu đòi, và ông Kim Ngọc mới cho “khoán chui”. Kết quả là dân của tỉnh ông Kim Ngọc no ấm hơn các tỉnh khác, làm nghĩa vụ cho Nhà nước cũng đạt và vượt hơn. Hiện nay, ông Võ Chí Công cũng đang cho làm thí điểm ngoài Bắc. Đó là do tình hình đói kém quá nặng ở khắp cả nước, buộc ông phó thủ tướng phụ trách nông nghiệp phải mạnh dạn. Và Trung ương đã bật đèn xanh... – Đóng vẫn nói, với giọng trầm tư –. Cái thứ hai là về sử dụng nhân lực địa phương. Cái này thì căn nguyên là từ ngoài Huế kia. Các anh chắc cũng biết khi sáp nhập ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên lại, thành tỉnh Bình Trị Thiên, thì dân Huế “dịch” ra là “Quảng Bình cai trị Thừa Thiên”. Không phải dân Huế kì thị địa phương, mà trong thực tế là thành phố Huế đầy ắp người Quảng Bình, trong mọi cơ quan, ban ngành, thậm chí như cửa hàng mậu dịch quốc doanh ăn uống, cũng toàn là người Quảng Bình. Đó là hệ quả của tâm lí bám vào Nhà nước mà sống, vì cái gì cũng quốc doanh, cũng nhà nước cả, và mọi cán bộ Quảng Bình đều cố ra sức lôi kéo con em cháu chắt dòng họ mình vào cơ quan Nhà nước, vào quốc doanh tại Huế, tại Quảng Trị. Đó cũng là điều kiện để phát sinh mạnh mẽ hơn chủ nghĩa lí lịch, lấy lí lịch để gạt bỏ những ai không phải con em cháu chắt của cán bộ, nhất là gạt bỏ những ai dính líu với chế độ cũ, cho dù tay nghề, tri thức chuyên môn cao đến đâu. Trong công tác tuyển sinh cũng thế. Các trường đại học Huế đầy ắp người Bắc, người Quảng Bình... Mặt khác, người Quảng Bình, cũng như người các tỉnh lẻ khác, vốn dĩ từ xưa đã quê mùa hơn dân kinh đô Huế, sau Ngày Thống nhất, lại càng thấy sự khác biệt nhau trong cách ăn mặc, đi đứng, tư duy... Một bên là mang đậm màu sắc công nông, một bên là quý tộc cũ, tư sản, tiểu tư sản. Do đó, nảy sinh mặc cảm giữa hai bên... Vì thế nên Huế càng lúc càng bị nông thôn hoá (còn công nghiệp hoá theo mức hiện đại trên thế giới thì Quảng Bình cũng chưa, Thừa Thiên cũng chưa)... – Chừng như ý nghĩ trượt nhanh trên lời nói, Đóng buông một câu kết luận –. Tóm lại, dân Huế không chịu nổi. – Đóng nói thẳng, rồi dịu giọng –. Nói thật như thế, hẳn người Quảng Bình cũng thông cảm, vì chỉ riêng việc bố trí cán bộ, tuyển dụng nhân lực, nếu người Thừa Thiên đầy ắp các cơ quan ban ngành, thậm chí từ trường học cho đến các cửa hàng mậu dịch quốc doanh Quảng Bình, chắc chắn người Quảng Bình cũng phản đối.

Đóng nói, thì Đình cứ nghe. Bản thân Đình cũng có một ít chỗ thân quen là người Quảng Bình, và thành tâm nhận thấy họ cũng tốt, có người rất tài hoa. Nhưng chắc hẳn Đóng chỉ muốn nói về tỉ lệ quá cao người Quảng Bình tại các cơ quan ban ngành, kể cả  trường học, cửa hàng, ở Huế, khi sáp nhập tỉnh mà thôi. Trong thực tế, bà con ruột thịt khi xung đột quyền lợi cũng không dễ ai nhường cho ai, nữa là những Bình, những Trị, những Thiên!

Đợi một lúc khá lâu, không thấy Đóng nói gì nữa, nên Đình hỏi:

- Ở Suối Hương này, khi dân Huế được vận động vào đây, họ mơ ước như anh Cửu có dịp nói sơ qua, tôi thấy hay lắm chứ. Có điện, có nước, có bệnh viện, có trường học khang trang, có đường giao thông thuận lợi, không còn những chốt chặn, để tiện trao đổi hàng hoá...

- Nói thì hay, nhưng phải có tiền đầu tư ban đầu. Thành phố Huế lẽ ra phải chịu trợ cấp vốn đầu tư ấy. Hơn nữa, thành phố Huế phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo trợ cho Suối Hương mọi mặt đến mười năm, hai mươi năm sau, may ra... Suối Hương phải tự lực, tự lập, nhưng nói theo kiểu gia đình, trước khi cho con ra riêng, phải tạo điều kiện cho con cơ sở ban đầu đã chứ, và giúp đỡ gia đình nó thêm một thời gian chứ, rồi có ngày nó trợ cấp trở lại cho cha mẹ. – Đóng nói –. Nhưng các anh nghĩ, các cơ quan ban ngành ở Huế đều là người Quảng Bình cả, ai trợ cấp cho Suối Hương!

Đình thấy Đóng hình như hơi lúng túng trong diễn đạt, chắc hẳn là do Đóng cảm thấy khó nói. Ngẫm nghĩ một lúc, Đình hỏi Đóng:

- “Sản xuất bung ra”, sử dụng nhân lực trí thức, chuyên môn tay nghề cao của Miền Nam cũ, đó là hai vấn đề Trung ương đã nắm được yêu cầu và đã ra Chỉ thị, Nghị quyết trong năm ngoái, 1979...  Nhưng còn vấn đề “Quảng Bình cai trị Thừa Thiên” thì sao? Chắc là căng thẳng. Trung ương đã biết chưa? Có thể đã biết nên gộp chung vấn đề lại trong Chỉ thị sử dụng nhân lực Miền Nam cũ, có phải vậy không?

- Rồi sẽ tách tỉnh như cũ lại cho mà xem: tỉnh Quảng Bình, tỉnh Quảng Trị, tỉnh Thừa Thiên. Tôi tiên đoán như vậy. Vì gộp lại thành một tỉnh Bình Trị Thiên, ngoài vấn đề sử dụng nhân lực, thì địa bàn quá rộng, khó quản lí sâu sát được. – Đóng tin chắc –. Để các anh xem, thế nào cũng chia Bình Trị Thiên thành ba tỉnh như cũ!

Đình và anh em giáo viên nhà tập thể Phân hiệu không ngờ Đóng lại sâu sắc và dám táo bạo như vậy.

Khi Đóng về rồi, Đình vẫn ngồi suy nghĩ. Anh càng nhận ra rõ hơn, rằng ở một nơi heo hút, hẻo lánh như Suối Hương, vấn nạn của Suối Hương lại có căn nguyên sâu xa tận ngoài Bình Trị Thiên, thành phố Huế. Và dĩ nhiên, mặt khác, Suối Hương còn kẹt dưới “sức ì” của Lâm Đồng.

Đình cũng thấy, có một điều Đóng không đi sâu vào. Đó là vấn nạn lưu thông, phân phối. Nhưng Đình có những lần đi về Quảng Trị thăm nhà, hoặc đi đường Đạ Bảo – Phan Rang, hoặc đi đường Đạ Bảo – Thành phố Hồ Chí Minh, rồi mua vé xe, mua vé tàu lửa ra suốt, và trong những chuyến đi đó, Đình mới nhận ra, chính các trạm kiểm soát hàng hoá ở ranh giới các tỉnh đã khiến dẫn đến tình cảnh người người buôn, nhà nhà buôn. Thay vì việc lưu thông hàng hoá là của nhà buôn chuyên nghiệp, hàng hoá theo giá cả thoả thuận, thì mọi hành khách đều được khuyến khích ngay tại bến xe, nên mua theo một món hàng ở tỉnh này để bán sang tỉnh kia, và việc mua bán diễn ra ngay tại mỗi bến xe, với xách hàng, gói hàng trao tay. Hàng hoá là một bao gạo, một cân thịt heo, một kí lô trà, mấy lạng cà phê... Nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng, nguyên liệu sản xuất là yêu cầu khách quan, luân chuyển từ nơi cung sang nơi cầu, nếu không cho chuyên chở những xe lớn, khoang tàu lớn, thì nó cũng tìm ra đường xé lẻ, xé nhỏ để đáp ứng yêu cầu đó! Tình cảnh quái lạ ấy cũng do thương nghiệp quốc doanh quá cứng nhắc, áp đặt, quan liêu, cửa quyền, chẳng những không đủ sức linh hoạt để hạn chế mặt trái của kinh tế thị trường tự phát mà còn tạo ra lắm nỗi!

 

5

Trong những ngày tháng ba, khí hậu của Suối Hương, vùng đất cuối bậc thềm Nam Tây nguyên, bắt đầu nóng hơn. Nắng chói chang hơn. Ở thời điểm này, bệnh sốt rét rất dễ phát. Sương bị phát bệnh sốt rét khi đang lên trường chính ở thị trấn Đạ Bảo để liên hệ công tác. Anh phải vào bệnh viện huyện Đạ Công để được điều trị. Do đó, Đình và Hoan phải dạy thêm tiết, ngữ văn, toán, vật lí, lấp đầy các tiết sử, chính trị và địa vốn do Sương giảng dạy, để khi khỏi bệnh, Sương sẽ dạy bù.

Nhưng thực ra số lượng tiết tăng thêm cũng chẳng bao nhiêu. Không phải vì vậy mà Đình ít có dịp gặp lại Sanh. Cũng không phải vì vậy mà Đình gác lại ý định gặp Nếp Hương thêm một lần nữa. Chỉ đôi khi Đình nghĩ đến họ, và hỏi thầm liệu Sanh có còn chán nản, đau đời không, liệu Nếp Hương có còn giữ được “nụ cười tươi tắn” không?

Với Nếp Hương, chỉ duy nhất một lần Đình được gặp, không kể lần ở bến ca nô tại Đạ Tẻh, bấy giờ quai nón mở rộng che hơn nửa khuôn mặt cô và áo bảo hộ cô mặc rộng thùng thình. Với Đình, “nụ cười tươi tắn” Nếp Hương trở thành biểu tượng cho vùng đất Suối Hương, là lần anh được gặp khi đi cùng với Thừa đến cửa hàng hợp tác xã mua bán, lúc Đình mới về Suối Hương. Dần dần, Đình nhận ra anh là một người có tâm lí muốn tạo ra biểu tượng để suy tư, cảm xúc cho trí tuệ, tâm hồn mình. Phải chăng đó chỉ là cảm nhận chủ quan, thực chất là ảo tưởng? Và những gì anh lí giải về “nụ cười tươi tắn” ấy cũng đều xuất phát từ chủ quan của anh mà thôi, cho dù trong thực tế là có nụ cười của cô gái tên Nếp Hương thật, một nụ cười tươi tắn, sáng ngời trên một gương mặt đẹp phúc hậu, gương mặt đẹp phúc hậu của một dáng hình thon tròn, đài các.

Phải chăng Đình không muốn gặp lại Nếp Hương lần thứ hai để chuyện trò với cô, vì sợ rằng “nụ cười tươi tắn” biểu tượng kia sẽ tan vỡ? Đình cũng không rõ. Và anh càng ngạc nhiên là trong khi anh muốn nhận thức thật sâu sắc hiện thực, những nơi anh đi qua, những chốn anh sống, giảng dạy, Đình lại vừa vô thức vừa ý thức rõ rệt anh muốn có một biểu tượng lạc quan, cho dù đó là ảo tưởng hay là thực chất.

Vụ “hoan hô”, kể ra cũng rất chấn động, là một bùng nổ quá hiền lành từ một thực trạng chất chứa mâu thuẫn, xung đột gay gắt, kéo dài. Không biết vụ ấy có tác dụng hay tác hại đối với “nụ cười tươi tắn” Nếp Hương?

Nhưng rồi, Đình cũng không có ý định tìm gặp Nếp Hương để tự tìm câu giải đáp cho chính mình.

 

6

Trong khi đó, những chiếc máy cày đã bắt đầu đến đậu ở quảng trường Khu Trung tâm. Nhiều người cho rằng để chuẩn bị cho vụ mùa năm nay, trước khi mùa mưa, mùa gieo hạt đến, số lượng xe máy cày về với Suối Hương là khá nhiều, so với vài năm trước. Một số người bảo khẽ với nhau, như thế phải chăng Tỉnh, Huyện đã quan tâm đến Suối Hương này nhiều hơn, sau vụ “hoan hô”. Nhưng một số khác, lại bảo, hoá ra, vụ “hoan hô” cũng chẳng có tác dụng gì, vì ngoài việc thêm dăm chiếc vào số lượng xe máy cày hằng năm, còn mọi việc đều như cũ, hầu như không thay đổi! Tựu trung cả hai ý kiến đều cho rằng, dẫu sao, số lượng xe máy cày cũng tăng lên cho Suối Hương hơn trước.

Nhưng thực ra đều sai lầm.

Khoảng giữa tháng ba, có thông báo đến với Phân hiệu Phổ thông trung học Đạ Công tại Suối Hương: Thành phố Huế sẽ đưa thêm một đợt dân ngoại thành Huế vào Suối Hương, và khu đất có những ngọn đồi thấp trước mặt dãy nhà Bộ phận Giáo dục, Uỷ ban xã sẽ được khai hoang trở lại. Những vạt tre tự mọc, sau lần Lực lượng Thanh niên xung kích Huế khai hoang, 1977, cách đây ba năm, rồi để vậy, đã xanh um trước nhà, sắp tới sẽ được đốn đi, phát dọn, đốt sạch, và làm nhà, phân lô cho số dân sắp vào. Toán cán bộ cùng thanh niên cốt cán đã vào làm công tác tiền trạm.

Như vậy, số xe máy cày được tăng thêm đó, là để phục vụ cho đợt chuyển dân ngoại thành Huế vào đây, chứ chẳng phải sau vụ “hoan hô”, Tỉnh, Huyện quan tâm thêm cho số dân Suối Hương vốn có.

Một điều khác, không cần thông báo cho nhà tập thể Phân hiệu, vì chẳng liên quan gì, ấy là trong số dân ngoại thành Huế mới vào đợt này, sẽ có một số hộ được điền vào chỗ trống, bù lấp vào những lô vườn mà số hộ đã “vạch” bỏ lại.

Cuối tháng ba, những vạt đất bắt đầu lộ ra sau khi tre bị đốn ngã, và chỉ cần qua một ngày phơi nắng là châm lửa để đốt số tre ấy. Chẳng bao lâu, phía trước nhà, là đất trống với những mẩu than tre đen đúa. Sau đó, những chiếc máy cày bắt đầu ủi đất, lấy mặt bằng.

Sự đổi thay ở Suối Hương sau vụ “hoan hô” chỉ là vậy. Không có gì khác nữa.

 

______________________

 

1) Chỉ thị của Ban Bí thư, số 66 – CT./TW., ngày 26-02-1979: “Về một số công tác trước mắt đối với trí thức cũ ở Miền Nam”, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 40 (1979), Nxb. Chính trị quốc gia, 2005.

2) Đề cương kết luận Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá IV), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IV), số 20 – NQ./TW., ngày 20-9-1979, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 40 (1979), Nxb. Chính trị quốc gia, 2005; Thông báo số 22 – TB./TW., ngày 21-10-1980, bộ sđd., tập 41 (1980), 2005.

 

 

BIỂU TƯỢNG SUỐI HƯƠNG

 

1

Trời chưa sáng và sương còn giăng mờ, Đình và Hoan đã nói lời tạm biệt ba giáo viên vẫn đang ở lại. Bước chân ra khỏi ngõ, họ quay mặt lui để vẫy tay chào. Buổi chia tay với học sinh, trong lớp học lúc gần trưa hôm qua, với anh em, người quen biết, tại nhà tập thể vào tối vừa rồi, cảm động, giản dị và trọn vẹn. Đình cũng như Hoan đã hoàn tất chương trình các bộ môn mình phụ trách trước ngày tổng kết năm học, do phải dạy bù lấp nhiều tiết trống của Sương, vì Sương phải nằm bệnh viện Đạ Công khá dài ngày. Cả hai được về trường chính sớm hơn mười lăm hôm. Về sớm, cũng để lo một ít việc nhỏ cho đợt phép hè của Phân hiệu.

Ba lô, xách tay vẫn như hôm mới vào, hai người bạn bước về phía ngã rẽ, hướng ra dốc “Mạ ơi!”, nơi từ lâu lẽ ra đã được gọi là cổng làng thay vì cổng rừng. Họ phải đi đường bộ, vì ca nô đường thuỷ đã hết xăng dầu! Trong sương mờ, họ nhận ra chốt gác của du kích. Bên cạnh vọng gác là ba người dân Suối Hương, hai người đàn bà đã luống tuổi và một cô gái.

Đến nơi, Đình mới nhận ra trong một thoáng sững sờ: Nếp Hương! Cô gái có nụ cười tươi tắn nhất trên thế gian này mà Đình được gặp! Đây là lần thứ hai Đình nhìn thấy nụ cười tươi tắn trên môi Nếp Hương! Dĩ nhiên, Đình bị hút hồn, nhưng anh vội trấn tĩnh được.

Sau vài lời chào hỏi, mới biết Nếp Hương cùng hai người đàn bà kia cũng sẽ đi bộ ra Đạ Tẻh để tiếp tục đi xe ra Mađagui, nhưng vì trời còn quá sớm, nên cũng như lệ thường, họ đứng ở vọng gác để chờ thêm người đồng hành cho vui đường đi.

Người thanh niên xung kích nay là du kích bắt tay Đình và Hoan, với lời chào, hẹn ngày gặp lại hai thầy giáo.

- Năm người rồi, hai o và Nếp Hương coi đã bắt đầu đi được chưa? – Đình nói –.

- Đi sớm cho mát. Thôi, rứa thì năm bà con mình cùng đi cho vui. – Người đàn bà tóc hơi chớm bạc nói với nụ cười –.

Dốc “Mạ ơi!” đã ở phía trước mặt. Thật ra dốc cũng không đứng lắm, mà thoai thoải, nhưng dài và khá cao, nghe đâu chừng đỉnh dốc ở cao độ 200 mét. Đường lên dốc đã được mở rộng, phong quang, chứ không phải rậm rịt cây cối, chằng chịt dây mây, tua tủa lẫn mai phục gai góc và đầy sên vắt...

Bước đi bên cạnh Nếp Hương, anh nhận ra hôm nay cô gái ấy mặc chiếc áo thun dài tay, cổ trái tim, màu hồng, đã cũ và hợp với chiếc quần vải jean nội hoá đã bạc màu, cùng đôi giày ba ta xanh thường thấy ở công nhân. Đình vừa bước vừa hỏi chuyện:

- Hôm nay Nếp Hương ra Mađagui có việc chi? Chắc là đi thăm bạn bè?

- Dạ, không. Có chút việc ở Uỷ ban huyện. – Nếp Hương mỉm cười, trả lời –. Nhưng... em đã nói rồi, tên em chỉ là Nếp thôi. Thầy Thừa cũng như nhiều người cứ gọi như rứa, nghe ngài ngại...

Bước chân lên dốc, khiến gương mặt Nếp Hương hồng lên dưới ánh sáng hừng đông vẫn còn dịu sương.

- Có chi mà ngài ngại. Nếp Hương, nghe hay chứ!

- Tại vì... tên thật là Nếp thì chỉ là Nếp thôi.

- Ba mạ khiêm tốn, mộc mạc và chắc Nếp cũng thích như rứa. Nhưng cho phép tôi cứ gọi là Nếp Hương. – Đình nói –. Người khác như thế nào không biết, nhưng tính tôi hơi đa đoan, nên nhiều khi nghĩ là ở đất Suối Hương mình đây vừa có Nước Mắt vừa có Nụ Cười. Nếp Hương là Nụ Cười và Dạ Hương là Nước Mắt.

Nếp Hương đứng sững lại, mở to mắt:

- Trời đất! Chắc Nếp phải khóc, kêu “Mạ ơi!” ở ngay dốc này! Nếp sợ lắm! Thầy Đình có biết Dạ Hương là ai không?

- Xin lỗi Nếp! Thôi, không có chi mô! Đó là do tính tôi hay đa đoan rứa thôi! Nghĩ cái chi, sự thể chi, cũng luôn nghĩ đến khía cạnh này, khía cạnh kia, mặt này, mặt nọ. – Và Đình biết mình đã trót lỡ gợi ra, không thể dừng lại, nín lặng được, nên đành nói thêm –. Đất Suối Hương mình đây là một thực thể, một hiện thực, nên dĩ nhiên phải có mặt lạc quan, mặt bi quan. Nếp Hương là biểu tượng của mặt lạc quan, tươi tắn, là mặt sức sống. – Đình bối rối giải thích, kẻo sợ Nếp Hương buồn lòng, giận dỗi, và anh nhìn thấy những người cùng đi đã vượt lên dăm bước chân, nên nói tiếp –. Mình cùng đi...

Cả hai lại đi song song với nhau. Nếp Hương nói:

- Thật ra, mỗi một người cũng đều có cả Nước Mắt lẫn Nụ Cười...

Bị mạch chuyện đưa đẩy, không thể khác được nữa rồi, Đình đành phải dài dòng:

- Nhưng Dạ Hương là một cô thanh niên xung kích đã thành điển hình của lòng tự trọng, tự ái thường thấy của con người, tuy quá nông nổi. Xin nói ngay để Nếp đừng hiểu lầm. Theo tôi biết, nhờ được nhiều người ở đây kể lại, cô gái có tên Dạ Hương đã quyên sinh bằng thuốc sốt rét Chloroquine, vì bị xúc phạm bởi một anh nào đó, không phải Đóng, vốn làm đại đội trưởng: Anh ta la mắng, ngỡ rằng Dạ Hương không bị bệnh, mà do lười biếng, thèm gạo, nên giả vờ bệnh để được nghỉ lao động, được hưởng tiêu chuẩn bồi dưỡng người ốm là cháo gạo! Trời đất ơi! Thật quá tội nghiệp! Với mọi người, hẳn ai cũng đều xem đó là sự xúc phạm, còn cái chết của Dạ Hương, một phần do tâm tính dễ tủi buồn, yếu đuối, dại dột của cô ấy, là cái chết tiêu cực, nông nổi, và là chuyện đã rồi. Tuy vậy, dẫu sao cái chết của Dạ Hương cũng là cả một biểu tượng bi kịch giữa một thời quá đói khổ, cực nhọc... – Đình hơi lặng người bởi điều mình vừa nói, rồi sau một thoáng ngập ngừng, anh lại nói tiếp –. Vì thế, trời đất Suối Hương ni không thể không có cô gái Nếp Hương, biểu tượng của niềm lạc quan, sự lạc quan của lòng nhẫn nại, nỗi thiệt thòi, cảnh cơ khổ, biểu tượng của nghị lực sống mãnh liệt, sức sống không chịu lụi tàn, khô héo, mãi vươn lên...

Đình cảm thấy hơi ngượng vì phải dài dòng như thế, nhưng anh không thể không nói, vì chẳng thà chịu tiếng dài dòng không đúng lúc còn hơn bị Nếp Hương ngộ nhận.

- Ở đây có Dốc “Mạ ơi!”, biểu tượng của thương yêu, che chở, có Đồi Dạ Hương, biểu tượng của nước mắt, tủi buồn, nên cũng phải có Đỉnh Nếp Hương, biểu tượng của lạc quan, sức sống... – Đình nói, cảm thấy nhẹ lòng và tin rằng Nếp Hương sẽ không phiền lòng vì anh dám gàn dở, đặt mối liên hệ giữa cô với cô thanh niên xung kích tội nghiệp, vừa đáng thương vừa đáng trách và đã chết kia –.

Bước chân lên dốc khiến cả hai thở hơi gấp. Họ im lặng, ngẫm nghĩ và vẫn bước theo Hoan cùng hai người đàn bà luống tuổi trước mặt.

Nếp Hương chừng như bước hơi chậm lại, nói khẽ khàng vì ngại bị nghe thấy:

- Nếp làm chi mà xứng đáng được như rứa...

- Đất trời Suối Hương ni thiêng liêng, nên đã chọn lựa và hun đúc Nếp Hương như rứa rồi. Nếp Hương phải cố gắng cho đến khi già nua, trắng tóc vẫn mãi mãi là biểu tượng tươi tắn, sáng ngời...

- Trời đất! Nếp có biết chi mô! Cứ sống tự nhiên như rứa, chứ có gắng gỏi chi mô!

Đình nói như trong một cơn mê sáng tạo:

- Tôi ước ao ở đất Suối Hương mình sẽ có ba tượng đài của ba biểu tượng đó.

Nếp Hương bỗng cười thành tiếng, tiếng cười trong trẻo, tươi vui, và như che lấp nỗi thẹn thùng.

Ánh nắng sớm mai đã loé qua những cành tre tươi xanh trên đỉnh dốc. Đình ngước mắt nhìn lên và vẫn bước bên cạnh Nếp Hương.

- Nếp Hương đừng gọi tôi là thầy Đình nữa. Cứ gọi cách khác cho thân mật.

- Em cứ gọi nguyên cả tên, thầy Đình, chứ đâu có gọi là thầy không đâu, nên vẫn thân tình mà! Nếu chỉ gọi thầy không thôi, em sẽ phải đi sau thầy một bước, như ở Huế vẫn rứa, để tỏ sự kính trọng, có cách biệt. Em đang đi ngang hàng với thầy Đình mà!

Đình định nói anh cũng chỉ nhiều hơn Nếp Hương vài tuổi, không khéo bằng tuổi cũng nên, vì cô ấy vào Trường Cán sự y tế Huế trước Ngày Thống nhất, tốt nghiệp sau Ngày Thống nhất khoảng vài ba năm, khi tên trường đã đổi thành Trường Cán bộ y tế Huế. Nhưng thôi thì, con gái bao giờ cũng tự chịu nhỏ tuổi hơn một chút, mới là con gái, như xưa nay vẫn thế, thể hiện qua cách xưng hô nghìn đời, muôn thuở. Nghĩ vậy, nên Đình chỉ mỉm cười, vẫn đưa chân bước, sánh vai với Nếp Hương.

 Trên đỉnh dốc “Mạ ơi!”, ba người đi trước đã dừng lại, nghỉ chân. Nếp Hương và Đình sau dăm phút cũng lên đến nơi. Ai cũng thở gấp, mồ hôi ướt đẫm.

Hoan mỉm cười:

- Đình và cô Nếp Hương đã mỏi chân chưa? Còn xa lắm đó, phải không?

Hai bên tóc mai đã có những giọt mồ hôi, lưng áo thun màu hồng đã ướt, nhưng Nếp Hương cũng mỉm cười:

- Đường này em cũng đã đi nhiều lần. Từ đây ra Đạ Tẻh còn khoảng sáu đến bảy cây số nữa.

Người đàn bà mặc áo màu tím nhạt nói:

- Mong đến Đạ Tẻh không phải đợi xe khách quá lâu.

Nhìn lại phần dốc đã vượt qua, thấy vẫn còn ướt sương và khuất nắng, trong khi phía dốc xuống, nắng vàng tươi buổi sáng sớm đã ngập tràn. Gió trên đỉnh dốc, tuy có cây cối hai bên, vẫn thổi mát rười rượi.

- Thôi, nghỉ chừng đó được rồi. Năm bà con mình tiếp tục đi. Thà đến sớm mà chờ xe còn hơn là trễ xe. – Vừa nói, người đàn bà tóc chớm bạc vừa đội lại chiếc nón lá, rồi cất bước –.

Cả nhóm người cùng xuống dốc. Dốc xuống cũng thoai thoải, đi đỡ mất sức hơn nhiều. Một chốc, Đình và Nếp Hương lại đi sau ba người kia. Hoan thỉnh thoảng quay lại, mỉm cười, nhìn Đình và Nếp Hương đang vừa đi vừa trò chuyện.

Đình nói với cô gái có “nụ cười tươi tắn”:

- Khi hồi, Nếp Hương có nói “mỗi một người cũng đều có cả Nước Mắt lẫn Nụ Cười...”. Tôi chưa thấy nước mắt của Nếp Hương. Nhưng bây chừ phải nói thêm là ai cũng có Nước Mắt, Nụ Cười và cả Mồ Hôi.

- Cười, và đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Trong hai chữ “Mạ ơi!” cũng đã có mồ hôi lẫn nước mắt của thanh niên xung kích, khi họ vừa vượt dốc này, vừa phát cây, xẻ lối, vừa bắt sên vắt. Khóc, đã đành rồi. Nhưng trời mưa mà vẫn đổ mồ hôi!

- Tôi thấy nụ cười của Nếp Hương lúc nào cũng tươi tắn, lạc quan. Rứa Nếp Hương có bao giờ phải khóc không, trong thời gian vào vùng KTM. này?

- Trước khi vào, cũng đã khóc, sau khi vào, cũng đã khóc. Nhưng rồi quen đi, và lấy bất kì niềm vui nhỏ nhặt, lớn lao nào chung quanh để đẩy lùi nỗi buồn, cả nỗi đau nữa.

- Tôi biết Nếp Hương không được bổ nhiệm, sau khi tốt nghiệp Trường Cán sự y tế Huế?

Nếp Hương im lặng một lúc, rồi nói:

- Đó là nỗi đau của Nếp đó. Cũng như thầy Thừa, cô Phin thuộc Phân hiệu...

Đình nói với giọng chia sẻ:

- Nhưng sao Nếp Hương vẫn vui được? Điều lạ lùng là ở đó.

- Vì răng thầy Đình có biết không? Vì lúc còn nhỏ, Nếp học lịch sử, một cô giáo rất quý mến Nếp có nói, lịch sử Đàng Trong mình chủ yếu là lịch sử khai hoang lập ấp, lập đồn điền. Nếp chỉ nghĩ giản dị là Nếp với gia đình mạ Nếp cũng đang mở mang đất đai canh tác cho non sông bờ cõi.

- Nhưng thiệt thòi quá lớn, nhất là Nếp Hương không được phục vụ đúng ngành nghề đã học. Cùng lớp với Nếp Hương, nhiều người hẳn đã và đang ở Huế, quần áo trắng, mũ trắng, giày trắng, làm việc trong bệnh viện. Sự thật là Nếp Hương đã bị phân biệt đối xử.

- Nhưng biết làm sao được. Cố nghĩ về điều vui để vui thôi. Nếp vẫn tin vào ngày mai, vì bất kì cái gì cũng phải phát triển theo quy luật, lẽ phải. Chỉ sợ thời gian quá dài đó thôi! Và bây giờ đã có những tín hiệu đáng mừng.

Đình sực nhớ đến anh Cửu cùng những lập luận và ước vọng của anh ấy.

Nếp Hương nói tiếp:

- Thầy Đình biết không, em cũng suy tư nhiều về thời gian lắm. Nhà em ở bên bờ sông Đạ Dưng. Có một ông cụ thừa một số phao nhựa thường gắn ở lưới đánh cá, còn để dành, chưa dùng hết. Em đã xin dăm ba chục cái. Bù lại, em hứa sẽ may áo quần cho gia đình ông mà không lấy tiền. Em lấy mũi dao khắc trên phao nhựa hai chữ Suối Hương và mấy chữ ngày... tháng... năm... Rồi em đã thả xuống dòng sông Đạ Dưng mỗi đêm tròn trăng một cái, với số ngày tháng năm dương lịch theo từng con trăng đó, mặc cho những chiếc phao ấy trôi về đâu thì trôi.

- Trôi vô định?

- Trôi hết dòng sông Đồng Nai rồi ra cửa biển Cần Giờ, trôi tận Biển Đông... Cũng là vô định thật. Nếu có ai nhặt được, cũng không hiểu điều gì ở dòng chữ “Suối Hương, ngày... tháng... năm...” cả. Có lẽ người ta nghĩ đó là dòng chữ khắc để nhớ ngày sắm được tay lưới.

- Rứa với Nếp Hương, những chữ đó thật sự ẩn chứa nội dung gì?

- Có thể nói là không có nội dung gì cả, thầy Đình à! Vì tuyệt đối vỏn vẹn chỉ là “một lần trăng tròn nữa trôi qua”! Nhưng cũng chỉ một mình Nếp tự hiểu như rứa thôi. Thầy Đình nghĩ như rứa thì Nếp có buồn không?

Đình nói với niềm đồng cảm:

- Suy tư về thời gian thường là buồn, vì chúng ta không còn là trẻ con khắc dấu vào cột nhà, vách tường để đo chiều cao hay chờ Tết đến. Vả lại, thả trôi vô định như rứa thì chắc không vui rồi. Thời gian vô định thì phí hoài chăng? Đúng là nếu được làm việc phù hợp nhất với ngành nghề đã học thì cống hiến sẽ cao nhất, tốt nhất. Nếu không, rõ là phí hoài thật, chứ chẳng lẽ không!

Ba người đi phía trước cũng vừa đi vừa chuyện trò cho vui đường đi, quên nỗi đường dài. Hai người đi sau vẫn như thế, chuyện trò quên cả nắng trên đầu và bụi dưới chân. Đường vắng, không một chiếc xe nào chạy qua.

Nếp Hương cũng muốn nói thêm, rằng thầy Đình có hiểu không, nỗi niềm về thời gian đối với con gái nói chung trên đời này còn là nỗi âu lo tuổi trẻ chóng qua, nhan sắc mau tàn phai nữa. Nhưng Nếp Hương im lặng, chân cứ bước tiếp.

- Có như rứa “nụ cười tươi tắn” của Nếp Hương mới là nụ cười của con người, con người có nghị lực, có chiều sâu nội tâm, biết lấy niềm vui làm lẽ sống, hiểu lịch sử đất nước, hiểu quy luật khách quan và chân lí qua thước đo thực tiễn, tin vào sự tất thắng của lẽ phải, thứ lẽ phải trong tâm thức chung của dân tộc, của nhân loại, chứ “nụ cười tươi tắn” không phải của gỗ đá vô hồn, vô tri... Nếu tạc bằng gỗ đá thì nghệ sĩ điêu khắc cũng phải thấu hiểu và thể hiện được chiều sâu ấy.

- Thầy Đình cứ nói đùa! Có mô mà to tát, sâu xa đến như rứa!

Đình im lặng bước. Anh cứ ngẫm nghĩ về những điều Nếp Hương vừa hồn nhiên thể hiện trong cuộc chuyện trò này.

Họ đã xuống hết dốc “Mạ ơi!”, cùng bước tiếp trên những cây số đường dài còn lại. Nắng đã chói chang, nhưng cũng nhờ đồng không mông quạnh, nên gió lồng lộng thổi. Dẫu vậy, cả năm người đều ướt đẫm lưng áo và lóng lánh mồ hôi trên mỗi vầng trán. Dưới chiếc mũ rộng vành, gương mặt Nếp Hương ửng hồng.

Trong câu chuyện, đôi khi Đình cũng muốn nhắc về Huế, nhưng lại nghĩ, nhắc đến thành phố quê hương đầy ắp kỉ niệm ấu thơ, thời học sinh, sinh viên, chỉ khiến chân Nếp Hương, và cả chân anh nữa, chùn bước. Anh cũng muốn hỏi thêm đôi chi tiết về cuộc đời Nếp Hương, nhưng cảm thấy thật bất tiện, vì dù sao, đây cũng chỉ mới là cuộc chuyện trò đầu tiên giữa hai người, nếu không kể vài câu thăm hỏi vu vơ lúc Đình mới vào đất Suối Hương, được gặp cô ở cửa hàng hợp tác xã mua bán.

Nhưng rồi câu chuyện cứ đưa đẩy đến lúc Đình phải hỏi như tình cờ:

- Nếp Hương ra Uỷ ban huyện hôm nay có việc gì quan trọng không?

- Đây là lần đầu tiên Nếp ra đó. – Nếp Hương cười, quay sang Đình –. Thầy Đình có biết vì sao Nếp phải ra đó không?

Đình sực nhớ đến cuộc biểu tình thể hiện nguyện vọng, khá chấn động, với hình thức hiền lành, quá hiền lành, người Suối Hương thường gọi là vụ “hoan hô” đó, nhưng anh cũng ngập ngừng, rồi quyết định không hỏi Nếp Hương có tham dự vào vụ đó hay không, và đến nay, cô có bị phiền hà gì không.

- Không, mong là không có chuyện gì nghiêm trọng. – Đình nói –.

- Rất quan trọng, rất nghiêm trọng! – Nếp Hương bật cười, lặp lại hai từ Đình mới sử dụng –. Nhưng cũng rất chi là bình thường thôi! Nếp đã có giấy thông báo từ Ban Tổ chức huyện là đã được tuyển dụng vào làm đúng ngành nghề chuyên môn ở Bệnh viện huyện Đạ Huoai!

- Tin vui, đó là tin quá vui chứ đâu phải đùa!

Và ngay lập tức, Đình nói lớn cho Hoan đang đi phía trước, cách dăm bước chân, được nghe:

- Hoan ơi, cô Nếp Hương đã được tuyển dụng đúng ngành nghề rồi!

Hai người đàn bà luống tuổi và Hoan đều cùng quay mặt lại. Hình như trong hai người cùng đi với Suối Hương lúc sáng sớm, một người đã biết, còn người kia bây giờ mới rõ:

- Trời đất ơi! Tin đáng mừng như rứa mà lặng im, kín bi kín bít!

Hoan cười, nụ cười chia sẻ, nhìn Nếp Hương:

- Xin chúc mừng Nếp Hương!

Nếp Hương cảm ơn những lời chúc.

Lúc đó, nắng vẫn chói chang và gió vẫn lồng lộng thổi. Còn một đỗi đường nữa mới đến Đạ Tẻh.

Khi lại cùng Đình đi sau ba người kia, Nếp Hương nói khẽ:

- Rứa mà em cứ tưởng là Suối Hương sẽ được tự quản, và trạm xá y tế sẽ thành bệnh viện, như nay mai sẽ có trường phổ thông trung học.

Ngẫm nghĩ trong một thoáng, Đình nói:

- Như vậy là rõ rồi đó, Nếp Hương! Suối Hương chỉ là một xã như các xã khác của huyện Đạ Huoai mà thôi. Trường phổ thông trung học và bệnh viện huyện rồi sẽ đóng tại huyện lị như các huyện khác. Nếu sang năm học mới, tôi không phải điều chuyển đi huyện khác, thì chắc hẳn tôi cũng dạy học tại Mađagui, cũng như Nếp Hương sẽ làm việc ở đó.

Lúc ấy, cũng khoảng gần mười giờ trưa. Nắng vẫn chói chang và gió vẫn lồng lộng thổi. Cả hai người đều cảm thấy bâng khuâng, buồn xen lẫn vui, vì vẫn rất thương vùng KTM. Suối Hương. Có một quãng lặng bâng khuâng kéo dài giữa họ, mặc dù chân vẫn bước.

Đến Đạ Tẻh, dẫu sao, cả năm người đều mừng rỡ khi thấy chiếc xe khách cũ mèm, tróc sơn vẫn đang đậu – chiếc xe độc nhất. Trên xe đã có khoảng mươi hành khách. Họ cùng nhau lên xe, tìm chỗ cất hành lí và để mặc cho hơi nóng từ mái xe dội xuống. May là gió nơi bến xe Đạ Tẻh này cũng lồng lộng không kém. Đình đảo mắt tìm hướng xuống bến ca nô, nơi tháng mười năm ngoái, anh và Hoan không ngờ cô gái đội nón lá, quai nón che kín hơn nửa khuôn mặt, mặc áo bảo hộ thùng thình rộng, cùng đi chuyến ca nô trưa hôm ấy, lại chính là Nếp Hương! Bây giờ, Nếp Hương đang ngồi bên cạnh anh!

Trên chuyến xe trưa hôm đó, họ cũng chẳng nói gì nhiều với nhau, vì hành khách chung quanh là những người lạ và vì xe dằn xóc trên con đường lồi lõm đất đá. Đình trôi theo ý nghĩ, mãi cho đến bây giờ, Nếp Hương mới có điều kiện để phục vụ Suối Hương cùng các xã khác đúng với chuyên môn. Đình cứ hình dung Nếp Hương đội mũ trắng, mặc áo quần trắng y tế, trong một bệnh viện chắc hẳn được làm bằng gỗ và lợp tôn của huyện mới Đạ Huoai, với niềm vui, nỗi mừng cho một cô gái xinh đẹp, phúc hậu, dáng hình thon tròn, đài các, đặc biệt có “nụ cười tươi tắn” nhất thế gian, tuy số phận không được may mắn lắm, nhưng tuyệt vời và sâu sắc niềm lạc quan. Anh tự hỏi, không biết đã bao lần trăng tròn, bao chiếc phao nhựa có khắc dòng chữ “Suối Hương, ngày... tháng... năm...” đã được thả theo dòng sông Đồng Nai, trôi từ quãng thượng nguồn cạnh Suối Hương về đến Biên Hoà, TP. Hồ Chí Minh, Cần Giờ...

Đến bến xe Mađagui, Đình thấy Đóng đã đứng đó. Đóng chạy đến, nói với Nếp Hương:

- Anh chờ Nếp Hương từ hôm qua, mãi đến chừ Nếp Hương mới ra đến đây.

Nếp Hương đỏ mặt:

- Trời đất! Ai bảo anh chờ đón làm chi! Đừng nói đùa mà như thật rứa, thiên hạ họ cười Nếp và cả anh chừ!

Đình và Hoan chào Đóng. Khi đã xuống xe tất cả rồi, sau một lúc tần ngần, họ nói lời cảm ơn hai người đàn bà đồng hành luống tuổi, cảm ơn Nếp Hương, và xin chào tạm biệt, không quên chúc mừng Nếp Hương đã bước sang giai đoạn mới trong cuộc đời của cô, một nữ y sĩ của Bệnh viện Đạ Huoai. Riêng Đình, anh cảm thấy mình không lẽ lại giữ chân Nếp Hương, để mời cô vào một quán nước hoặc một quán cơm bên đường, trong khi Đóng nhìn Đình với cái nhìn ẩn chứa trong đó nhiều câu nói mà Đóng chưa tiện nói ngay lúc này. Đình đang phân vân. Hoan để mặc cho bạn tự quyết định.

Đóng bước đến cạnh Đình, bắt tay anh, rồi ôm chặt lấy anh, như một cách bày tỏ tình cảm khi sắp chia tay, nhưng để nói khẽ vào tai Đình: “Nếp Hương là của Đóng, Đình à!”. Đình nghẹn ngào, nhưng cũng kịp gật gật đầu với Đóng, và nói: “Mình hiểu rồi”.

Thế là suốt mãi ba mươi hai năm sau, Đình không một lần nào gửi thư hay tìm gặp Nếp Hương, vì Đóng. Đình thương Đóng và quý Đóng, cho dù Đóng có những điều nào đó đáng trách. Vả lại, Nếp Hương đã là biểu tượng của vùng đất Suối Hương, lẽ nào cô lìa bỏ! Hơn nữa, không biết Nếp Hương nghĩ ngợi thế nào, có thể Đình không phải là người cô muốn trao lòng yêu dấu chăng? Hay cô gái có nụ cười tươi tắn nhất thế gian đó, bởi lí do gì bên ngoài cô, nên cũng không một lần tìm cách liên lạc với Đình. Chắc chắn cô đã biết Đình được điều chuyển lên dạy ở Đạ Nông trong niên khoá mới, 1980-1981, nhưng không một lần nào cô viết thư cho anh.

Thật ra, trong thời gian ba năm sau, Đình vẫn còn hỏi thăm về Nếp Hương, qua Huế, Thừa, Sương, những người bạn cùng giảng dạy ở Phân hiệu Đạ Công tại Suối Hương năm đó, kể cả khi Phân hiệu đã thành Trường Phổ thông trung học Đạ Huoai tại Mađagui, vào những dịp gặp nhau như cùng đi làm giám thị hoặc giám khảo trong các kì thi tuyển sinh, tốt nghiệp. Cả ba người đều bảo, Đóng vẫn còn đeo đuổi Nếp Hương và Nếp Hương vẫn quý mến Đóng. Đình phải nghẹn ngào cố quên Nếp Hương.

 

2

1980, ba mươi hai năm sau: 2012.

Đình đã là người bước vào tuổi năm mươi sáu, sắp sửa về già.

Ông Đình không ngờ một trong những chiếc phao nhựa mang ý nghĩa thời gian vô định, trong thời đã xa, quá chừng xa, Nếp Hương đã thả trên khúc sông Đạ Dưng thuộc thượng nguồn sông Đồng Nai ở Suối Hương, mỗi đêm tròn trăng một chiếc, đã trở thành cơ duyên cho đứa con gái út của chính Nếp Hương và của Đóng. Ông đang ngồi nghe chàng trai tên Thuyền, con rể của hai người bạn ấy, kể lại cơ duyên của chính vợ chồng Thuyền, trong phòng khách nhà ông.

- Dạ vâng, thật như vậy đó, thưa chú. Cháu nghĩ chẳng qua là cơ duyên, nên cháu mới nhặt được một trong những cái phao nhựa đó, trúng ngay cái phao có dòng chữ “Suối Hương, ngày 17 tháng 10 năm 1978” (tức là ngày 16 tròn trăng của tháng 9 năm Mậu ngọ), trong chuyến đi khảo sát đường thuỷ ngược dòng sông Đồng Nai vào năm kia, lúc cháu đã hai mươi sáu tuổi... – Thuyền nói xen kẽ –. Dạ, cháu được sinh vào năm 1984... Cháu kể tiếp về cái phao năm 1978 ấy, cái phao được thả xuôi sông trước khi cháu ra đời đến sáu năm... – Thuyền lại kể –. Cái phao ấy tấp vào bờ sông đã lâu lắm rồi! Cháu cũng chẳng hiểu dòng chữ ấy có ý nghĩa gì, chỉ thấy ngồ ngộ, nên cất giữ làm kỉ niệm. – Thuyền mỉm cười nhớ lại –. Sau đó, trong một dịp đi du lịch với nhóm bạn, từ TP. Hồ Chí Minh lên Mađagui, cháu có hỏi thăm đường vào Suối Hương, cái địa danh cháu biết được từ cái phao nhựa ấy. Lúc cháu chìa cái phao nhựa ra, một người phụ nữ ở độ tuổi bằng tuổi má cháu, cầm chặt lấy, rồi bất giác, bà ấy cười rạng rỡ và rưng rưng nước mắt. Hỏi ra, mới biết bà chính là người đã khắc dòng chữ “Suối Hương, ngày 17 tháng 10 năm 1978” và thả xuôi sông trong đêm trăng tròn đó. Bà bảo, đó là kỉ niệm của bà về một nỗi niềm đối với thời gian. – Thuyền nhìn vợ, đang ngồi bên cạnh anh, trước mặt ông Đình, anh mỉm cười –. Nhờ cái phao cùng chuyến đi du lịch đó, cháu mới quen được gia đình bà Nếp và ông Đóng, tức là ba mẹ bên vợ của cháu sau này, rồi quen với Thuỷ Dung, tức là Đạ Dưng (Đạ Dung), vợ cháu đây. Chúng cháu cũng tổ chức lễ cưới vào đúng ngày 16 tháng 9 nguyệt lịch năm ngoái.

Ông Đình cũng mỉm cười, mừng cho cả Thuyền lẫn Thuỷ Dung đã có được một cơ may, duyên lành đến thế. Ông lại nhớ đến hiệu sách tại Nhà Bè, một huyện thuộc TP. Hồ Chí Minh, nơi mà ở đó, cách đây hơn hai tháng, ông đã gặp Thuỷ Dung đang đứng bán hàng sách phụ mẹ chồng, và nhận ra Thuỷ Dung rất giống mẹ đẻ (cô gái tên Nếp Hương năm xưa), giống y như hai giọt nước.

Mời hai vợ chồng trẻ uống trà, ông Đình lại nói:

- Hai cháu biết không, sau lần gặp cháu Đạ Dung, – Ông Đình tỏ ra thích cái tên ấy –, được biết lai lịch cháu, chú nhớ kỉ niệm một năm dạy học ở vùng KTM. Suối Hương, nhớ quá chừng quá đỗi. Và trong gần một tháng qua, chú đã viết lại mảng hồi ức về Suối Hương 1979-1980 thành một cuốn truyện vừa, gồm năm truyện ngắn liên hoàn, có nhan đề chung cho cả cuốn là “Bên kia dốc ‘Mạ ơi!’”. Cuốn truyện vừa này không dài lắm, chỉ độ hơn một trăm trang sách. Đặc biệt trong đó, truyện ngắn thứ năm có nhan đề riêng là “Biểu tượng Suối Hương” với nhân vật Nếp Hương. Nếp Hương là hình tượng được tập trung khắc hoạ ở truyện ngắn thứ năm ấy. Bao giờ đăng trên tạp chí nào đó, hay đến khi nào có điều kiện xuất bản thành sách, chú sẽ tặng hai cháu để đọc cho biết.

Thuỷ Dung ngẩng mặt hỏi ông Đình:

- Hồi đó, chú có quen thân với ba mạ cháu không?

- Chú có nhiều lần chuyện trò với bác Đóng, những khi bác ấy đến nhà tập thể Phân hiệu của các giáo viên bọn chú. Còn cô Nếp Hương, chú chỉ gặp ba lần. Lần đầu, trên một chuyến ca nô vào Suối Hương, nhưng vì còn xa lạ, không biết nhau... Lần thứ hai, nhờ người bạn cùng dạy học giới thiệu, khi tình cờ gặp trong một cửa hàng hợp tác xã, nhưng chỉ chào nhau vài câu. Lần thứ ba, đó là lúc chú và bác Hoan, bạn chú, đi bộ từ dốc “Mạ ơi!” ra Đạ Tẻh, rồi lên xe khách ra Mađagui, cũng tình cờ gặp cô Nếp Hương là người đi cùng đường, cùng lộ trình. – Ông Đình mỉm cười, hồi tưởng –. Để khi nào công bố được truyện ngắn thứ năm đó trên báo chí hay cả cuốn truyện vừa theo cách chú vừa nói, hai cháu đọc sẽ biết. Chẳng qua đó là kỉ niệm thời trẻ, thậm chí ít tuổi hơn tuổi của cháu Thuyền bây giờ.

Chuyện trò thêm một lúc, đôi vợ chồng trẻ xin cáo từ để về nhà.

- Chào chú, chào thím – Nhìn vợ ông Đình, họ cúi đầu chào thêm –.

- Hai cháu về... Từ Tân Bình này về đến Nhà Bè dễ chừng cũng khoảng bảy, tám cây số, chẳng ít đâu! Cẩn thận nghe! – Ông Đình nói –.

Tiễn họ ra khỏi cửa, đợi đến khi chiếc xe máy của họ chìm khuất vào dòng người xe trên đường, ông trở vào phòng khách, rồi lên phòng viết của mình trên tầng lầu, ngồi bâng khuâng trong hoài niệm.

Sau một lúc khá lâu, ông Đình ra phòng ngoài, mở cửa, bước ra ban công, nhìn xuống đường, rồi bâng quơ nhìn chếch về phía chợ Phạm Văn Hai. Đường đã vắng bớt. Chợ đã vắng hẳn người mua kẻ bán, chỉ còn dăm xe hàng rong trên lề đường phía trước.

Nhờ cơn mưa hồi chiều, đêm hôm nay trở nên dễ chịu. Tuy đã đứng ở ban công, ông Đình vẫn không thể nguôi quên kỉ niệm năm xưa, và thầm so sánh tuổi trẻ của Nếp Hương trong chuỗi dài những ngày tháng đó với tuổi trẻ của Đạ Dung, con gái út của chính Nếp Hương, trong thời đoạn hiện nay.

Không khí mát dịu của đêm, khá lâu sau đó, khiến ông Đình cảm thấy mình tỉnh lại, cần thoát ra khỏi thế giới hình tượng của truyện văn chương mà ông đang viết nốt vài trang cuối.

Truyện đành chấm dứt ở đây với niềm tiếc nuối khôn nguôi.

 

 

Lời thưa cuối truyện ngắn thứ V

 

Tôi đang ngồi trước xấp bản thảo của mình, đọc lại những trang cuối. Tôi tự hỏi: Vì sao tôi lại tưởng tượng ra trên đoạn đường từ dốc “Mạ ơi!” đến Đạ Tẻh, lại có Nếp Hương và hai người đàn bà luống tuổi. Cảnh ở bến xe Mađagui nữa, tại sao tôi lại hư cấu nên như thế. Sự thật, chỉ có tôi và Hoan mà thôi, cùng với nắng chói chang, gió lồng lộng thổi, xe khách Đạ Tẻh xộc xệch chật người, bến xe huyện lị buồn tẻ, trong một buổi sáng tháng 5 năm 1980. Và tại sao tôi lại hư cấu cả đôi vợ chồng trẻ Thuyền - Thuỷ Dung (Đạ Dung) đến thăm, chuyện trò với tôi, tại phòng khách nhà tôi, trong một buổi tối tháng 9 năm 2012. Sự thật, không có đôi vợ chồng trẻ đó.

Để viết nên truyện ngắn thuộc lĩnh vực văn chương này (cũng gọi là tiểu thuyết đoản thiên), tôi cần có những nhân vật hư cấu ấy. Trong đó, ở mức độ hư cấu riêng biệt, quả thật, nhân vật mà tôi mất nhiều thì giờ để suy nghĩ, để gửi gắm là Nếp Hương, so với thực tế là không y hệt, hoàn toàn như hình tượng đã khắc hoạ. Đó chính là hình tượng được nhân cách hoá từ một biểu tượng: Nụ Cười, và tính cách hoá từ một cô gái Suối Hương thoáng gặp.

Nụ Cười là biểu tượng kết tinh từ niềm lạc quan sâu sắc và rất con người từ hiện thực có thật là Suối Hương. Như vậy, mặc dù Nếp Hương là nhân vật hư cấu theo nguyên tắc phản ánh hiện thực, gồm cả hiện thực tâm lí, nhưng biểu tượng Nụ Cười là có thật. Thậm chí, ít ra hình tượng Nếp Hương cũng thật sự có thật trong tâm tưởng, ước vọng của riêng tôi vào thuở bấy giờ, giữa một vùng rừng khai hoang lập ấp đầy đe doạ về bệnh sốt rét và vô vàn cơ khổ khác. Đây là một loại sự thật khác với loại sự thật như dốc “Mạ ơi!” và đồi Dạ Hương. Dốc “Mạ ơi!” với những chi tiết về thanh niên xung kích Huế vừa dũng cảm vượt dốc, xẻ lối, vừa hãi hùng sên vắt dưới bao trận mưa rừng xối xả là có thật trong thực tế. Đồi Dạ Hương với cái chết và nấm mộ, cùng nguyên nhân cái chết của cô gái thanh niên xung kích tên Dạ Hương là có thật trong thực tế.

Nếp Hương là một hình tượng nhân vật truyện văn chương, kết tinh từ hiện thực con người, vùng đất Suối Hương, mà tôi trực nhận được, rồi hình thành, khắc hoạ, từ nhiều tháng ngày suy ngẫm, trong một niên khoá dạy học ở đó, và mãi về sau này, khi đã rời xa Suối Hương.

Khác với hình tượng ấy, dốc “Mạ ơi!” và đồi Dạ Hương là hai sự tích, có thể gọi như thế, của thanh niên xung kích Huế, của nhân dân Suối Hương, đã diễn ra trước khi tôi về Suối Hương, mà tôi chỉ nghe kể lại, đồng thời trông thấy những chứng tích.

Xin được lưu ý như vậy, để thấu hiểu rằng, cho dù trong đời thực, nhân vật Nếp Hương không thật y nguyên như hình tượng nhân vật truyện văn chương, truyện ngắn này vẫn hoàn toàn chân thực. Truyện ngắn này vẫn hoàn toàn chân thực theo cách của tiểu thuyết (kể cả truyện ngắn – tiểu thuyết đoản thiên).

Truyện ngắn tập trung khắc hoạ hình tượng nhân vật Nếp Hương, một trong năm truyện ngắn liên hoàn, là thực thể vật chất, giấy và chữ, cũng như dốc “Mạ ơi!”, đồi Dạ Hương là thực thể vật chất, đất đá, cây cỏ và đường đi, nấm mộ... Cả ba thực thể vật chất đó đều chứa đựng nội dung ý nghĩa, phản ánh hiện thực của con người, vùng đất Suối Hương, 12-1977 – 5-1980, thuở mới khẩn hoang, khai canh, lập làng, dựng trường...

28-9 HB12

 

 

 

 

 >> Xem tiểu thuyết của tác giả khác

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.