Tin mới Xem thêm

  • Bùi Sim Sim giữa hai chiều quên nhớ

    Chưa đủ nhớ để gọi là yêu/ Chưa đủ quên để thành người xa lạ/ Em ám ảnh anh hai chiều nghiệt ngã/ Nghiêng bên này lại chống chếnh bên kia / Ngôi sao nào thổn thức giữa trời khuya/ Dịu dàng quá lời thì thầm của gió/ Ngủ ngoan thôi ngọn cỏ mềm bé nhỏ/ Biết đâu chừng thiên sứ đến vây quanh

  • Nguyên Trân giữa song khuya thanh vắng

    Phố thị say ngủ/ Thâm u đầy quyến rũ/ Những con đường cong cong mềm mại/ Mang dáng dấp dậy thì/ Mảnh trăng non dướn mình soi bóng/ Khẽ nhoẻn cười lay động mặt hồ êm/ Bao chấm sao li ti huyền bí giữa trời đêm/ Giữ ước mơ thần thoại nơi dải Ngân Hà xa thẳm/ Làn gió mơn vi vu trở về tự vạn dặm/ Ru lá cành lao xao

  • Thảo Phương dường như ai đi ngang cửa...

    Khi nhà thơ Thảo Phương còn trên cõi nhân gian, hơn một lần tôi dự định viết về thơ chị, nhưng cứ lưỡng lự vì thấy trong thơ chị có

  • Nguyễn Thị Hạnh Loan ngọt ngào dâng hiến đam...

    Nụ hôn đưa ta về chốn thần tiên/ Ngôi nhà ấy ngày xưa anh đứng đợi/ Đóa hoa đẫm sương vườn khuya hái vội

  • Cầm tấm bằng cử nhân mà vẫn cứ... ngơ ngác!

    Theo các chuyên gia, chương trình đại học của VN đang đào tạo theo mô hình chuyên ngành hẹp (trong khi thị trường việc làm hiện rất khác so

  • Dạ Ngân - Nhìn từ phía khác

    Một buổi trưa, lúc đó thường nhà hàng chưa mở cửa, một cô gái cứng tuổi hơn tôi và nền nã như mọi cô gái miệt vườn đi xích lô đến Vĩnh Thịnh

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tiểu Thuyết

Vùng trắng - tiểu thuyết Lam Giang - Kỳ 2

24.4.2016-23:30 

Nhà văn Lam Giang

>> Vùng trắng - kỳ 1

 

Vùng trắng

(Kỳ 2)

 

TIỂU THUYẾT CỦA LAM GIANG

 

NVTPHCM- Vào thời điểm này toàn miền Nam còn hừng hực khí thế Mậu Thân, mặc dù Sài Gòn đã im tiếng súng, chiến sự vùng ven lắng dịu một cách khác thường. Các đơn vị chủ lực của ta trong đợt 1 Mậu Thân thọc sâu vào Sài Gòn, căn bản đã rút ra bám trụ ven đô, hoặc lui về vủng trung tuyến, thậm chí về bên Tây sông Sài Gòn như Sư đoàn 9, Trung đoàn 16, Trung đoàn 88, Tiểu đoàn 6 Bình Tân… sau khi đã quần lộn với địch dữ dội ở Tham Lương, hãng Bột ngọt Thiên Hương, Tân Sơn Nhất, thành Cổ Loa, Phù Đổng, cầu chữ Y, trường đua Phú Thọ, Lý Thái Tổ quận 10… và đánh địch phản kích ở lộ 13, Xóm Mới, Cầu Sắt, Vườn Cau Đỏ, Thạnh Lộc… thương vong khoảng trên một phần ba quân số.

 

Các đội biệt động luồn sâu ém sẵn trước giờ G Mậu Thân, dũng mãnh tấn công các mục tiêu đầu não địch ở nội đô Sài Gòn như dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Sứ quán Mỹ, Bộ tổng tham mưu, Bộ tư lệnh hải quân ngụy … tổn thất nặng, gần như bị xóa sổ “ kiếm củi ba năm thiêu một giờ”, nhưng đã kiêu hãnh làm tròn sứ mệnh vẻ vang “ngòi nổ” cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn-Gia Định. Các chiến sĩ biệt động cảm tử đã mãn nguyện được “ Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” giữa thành phó Sài Gòn trong giờ phút lịch sử của dân tộc. Họ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hơi thở cuối cùng trong điều kiện đơn độc không có lực lượng tiếp ứng chi viện như trong kế hoạch đã vạch ra. Tám mươi cán bô,chiến sĩ (trong đó có nhiều nữ) trong số gần 100 chiến đấu viên Biệt động đã ngã xuống như những thiên thần bất tử...

 

Địa bàn đứng chân của trung đoàn rộng mênh mông nhưng địa hình lại trống trải, xác xơ như vừa đi qua một trận bão siêu cấp. Ngoài rừng chồi chỉ cao quá đầu người, còn lại từng mảng là đất khô, cỏ cháy và đầy dẫy những hố bom hố pháo khiến mặt đất trở nên khấp khểnh chông chênh, không còn một nơi nào bằng phẳng.

 

Nhưng dù sao lính ta vẫn thấy ấm áp thân quen hơn là ở chốn rừng già tịch hoang, heo hút với bạt ngàn cây cối, chim muông , khe suối và những con đường lá rụng miên man… Bầu bạn với xa thẳm đại ngàn nhiều năm với biết bao vui buồn, gian khổ, nay phải chia tay ai cũng nghe lòng bâng khuâng day dứt. Hôm được lệnh thu dọn căn cứ để xuống đường, Thanh còn bần thần lưu luyến những mái lá trung quân đã mấy mùa che nắng che mưa ; giếng nước, bếp Hoàng Cầm với những bữa cơm canh chua lá bứa, thịt rừng, những đồng đội vĩnh viễn nằm lại giữa rừng hoang, những đêm mưa rả tích nằm nghe tiếng mễn tác não nùng, những trảng trống mở ra những khoảng trời yên tĩnh trong xanh... Tất cả đã lùi dần sau đoàn quân hối hả đổ xuống đồng bằng trong tiếng súng tiến công vang dội Mậu Thân.

 

 Giờ đây đứng trên đất Củ Chi, mọi người chỉ cách Sài Gòn hơn 30 ki lô mét đường chim bay. Vầng sáng hừng lên phía chân trời như vẫy gọi. Tiếng súng giao tranh dữ dội đang loang dần ra phía ngoại ô. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn thực tình không rõ những gì đang xảy ra trong hang ổ quân thù nhưng âm vang của nó như một cơn dư chấn còn rung chuyến không ngừng. Lực lượng đánh vào Sài Gòn đêm 31-1-1968 mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân với hàng chục ngàn quân thì Biệt động Sài Gòn với tinh thần cảm tử cao độ đã đánh trúng các mục tiêu đầu não trọng yếu của Mỹ - ngụy ngay từ giờ phút đầu như dinh Độc Lập, Đài phát thanh Sài Gòn, Đại sứ quán Mĩ, Bộ tổng tham mưu nguỵ, Bộ tư lệnh hài quân nguỵ... gây chấn động cả thế giới.

 

Trong những trận đánh thần kì vang dội ấy, trận tấn công Đại sứ quán Mỹ như một đòn chí mạng giáng vào Nhà trắng và Lầu năm góc nước Mỹ. Nhà báo Mỹ Don Oberdoifer có mặt tại Sài Gòn đã dành hẳn một chương trong cuốn sách  “Tết “ dày 182 trang, nói về ảnh hưởng của trận đánh này.

 

“ Tuy là một trận đánh nhỏ về số người tham gia ( 17 tay súng của Đội biệt động số 11do đội trưởng Ba Đen chỉ huy ) nhưng đã kích động mạnh đến công chúng Mỹ về chính trị và tâm lý. Sứ quán Mỹ nơi ngọn cờ sao và vạch chính thức cắm trên lãnh thổ Việt Nam, là điểm tượng trưng cho mọi cố gắng và quyền lực Mỹ ! Làm cho người ta nghĩ rằng các lực lượng cộng sản mạnh hơn nhiều so với mức chỉnh phủ Mỹ mô tả … và như vậy chiến tranh còn lâu mới kết thúc…”.

 

Tờ Daily New Washington đăng xã luận với nhan đề hoang mang : Chúng ta trước đây ở đâu, chúng ta hiện nay ở đâu ? Kèm theo là bức biếm họa Westmoreland đang đối đầu với một chiến sĩ giải phóng ở một góc nhà đề chữ “ Sứ quán Mỹ - Sài Gòn”, những ngôi sao cấp tướng bật khỏi cầu vai, súng của “Oét” rơi xuống đất còn súng của người chiến sĩ giải phóng thì cắm vào bụng “Oét”, phía dưới bức tranh có dòng chữ phụ đề : “Chúng ta đã đi qua chỗ ngoặt ! Tướng “Oét” ạ …”.

 

Thất bại nặng nề trong đợt 1 Mậu Thân buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh. Ngày 31-3-1968, tổng thống Mỹ Giôn – xơn tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ tới, chấp nhận chấm dứt ném bom miền Bắc từ v tuyến 20 trở ra, đồng ý thương lượng với ta về việc chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam. Đây là một khởi điểm cực kì quan trọng, mở ra cục diện mới, tiến tới giải pháp kết thúc cuộc chiến tranh.

 

Trung đoàn 268 nối tiếp với đội hình lớn đang căng địch ra trên mặt trận Sài Gòn. Tư tưởng chủ đạo lúc này là “ thừa thắng xông lên”, tiếp tục “đánh bồi, đánh nhồi” không cho địch gượng dậy… Hòa vào khí thế chung, Năm Thạnh và Bảy Tòng quyết định cho Tiểu đoàn 1 xuất quân để lính khỏi chồn cóng chân tay. Mục tiêu tấn công là đồnTrảng Bàng nằm trong chi khu bao gồm bộ máy cấp quận. Từ đây chúng vươn ra kiểm soát tới vùng Bời Lời, Lộc Thuận là căn cứ của nhiều lực lượng ta đang trú đóng.

 

Đại đội 1 chủ công phối hợp với phân đội trinh sát có nhiệm vụ tấn công dứt điểm, tiêu diệt đại đội bảo an, phá hủy bót, cổ vũ khí thế đấu tranh của quân và dân huyện Trảng Bàng. Lúc nhận nhiệm vụ, các đồng chí chỉ huy dự đoán là khó có thể diệt gọn mục tiêu vì căn cứ địch nằm sâu trong thị trấn, có lực lượng mạnh bố phòng và mạng lưới bảo vệ phía ngoài. Tuy nhiên khí thế Mậu Thân ở địa phương vẫn rất cao, tiếp thêm sức mạnh cho đơn vị.

 

Do thời gian điều nghiên gấp gáp, anh em còn lạ địa hình và chưa từng đánh công kiên trong vùng địch kiểm soát nên một giờ sáng mũi chủ công mới phát hỏa vào lô cốt đầu cầu. Lô cốt phụ bị hủy diệt bằng thủ pháo và B40, nhưng các lô cốt khác phản ứng mãnh liệt. Đạn các cỡ đan chéo trước đội hình C1. Nhiều chiến sĩ hi sinh, bị thương ngay trước cửa mở. Sốt ruột vì anh em hi sinh mà hỏa lực địch chưa thể dập tắt, trung đội trưởng trinh sát Tấn hô to:

               

- Theo tôi, tất cả xông lên !

 

Tấn vừa quét tiểu liên vừa lao qua cửa mở. Mới qua khỏi hàng rào mấy bước bỗng anh ôm ngực khuỵu xuống, máu tuôn ra. Một loạt đạn đại liên từ lô cốt mẹ đã xuyên qua ngực Tấn. Thấy thế các đồng đội anh ào lên liệng thủ pháo tới tấp vào lỗ châu mai. Hỏa lực địch tắt ngấm. Trận đánh kéo dài nhưng không dứt điểm được mục tiêu, đại đội trưởng lệnh cho đơn vị rút ra, đem theo thương binh, tử sĩ về căn cứ.

 

Đội hình C1 rơi rớt mãi tới trưa mới về tới Bời Lời. Thanh ra đón ở bìa rừng gặpThuyên vác AK ,đầu quấn băng trắng bít ngang một mắt, có vẻ đau đớn, nói đứt quãng:

 

- Hi sinh gần một tiểu đội, mình bị mất một mắt rồi, không biết có giữ được con mắt còn lại không. Tụi nó bắn như hốt cát mà rải, kinh quá.

 

Thanh lắc đầu: mới đụng bọn bảo an mà đã như thế, tới đây chơi với Mĩ không biết sẽ ác liệt tới mức nào.Anh đỡ lấy khẩu AK rồi dìu Thuyên đi vào rừng, lòng như trĩu xuống.

 

- Này Bắc Kỳ Thanh, mày làm gì mà ghi ghi chép chép, mắt thì mơ mơ màng màng. Bộ mày nhà thơ phải không ?

 

Thanh giật mình buông khỏi võng, phân bua:

 

- Có gì đâu anh Sáu, tôi có máu thích viết lách. Làng tôi có nhiều người là nhà văn, nhà báo, nhà thơ nên nó nhiễm vào. Chẳng giấu gì anh hồi đi Trường Sơn gian khổ không tả được, vừa sốt rét, vừa đói khát, thế nhưng đến trạm nào dừng chân nào tôi cũng ghi ít dòng, tính ra trăm trạm giao liên với độ dài chừng hai ngàn rưỡi cây số, tôi ghi được gần trăm trang… Với lại làm liên lạc đại đội nên được thủ trưởng giao cho đeo cái đài Orionton, nghe các chị Trần Thị Tuyết, Châu Loan, Linh Nhâm, Kim Cúc... ngâm thơ, riết rồi bắt chước làm theo được một số bài thơ, khi nào có dịp tôi đọc cho anh Sáu nghe. Lâu ngày thành ra cái bệnh, ngồi đâu cũng hí húi viết. Viết để động viên mình và cả anh em trong đơn vi. Trong rừng có gì đâu, phim ảnh không, sách báo không, cuộc sống tinh thần khô khan quá.Thế mà có thủ trưởng để ý theo dõi tưởng tôi là gián điệp mà tôi không biết. May quá, sau hiểu ra là tôi tập làm thơ thì cũng cho qua…

 

- Thứ thủ trưởng dó tao rành sáu câu, ít học hành, chỉ thich nhậu nhẹt, đánh giặc a thần phù lại hay định kiến những người có học thức- Rồi tự nhiên Sáu Hoàng vỗ vai Thanh cười hà hà đổi giọng:

 

- Tao thấy mày có học, lại đẹp trai chắc ngoài đó mày có lắm bồ, chơi xả láng?

 

- Đâu dám anh Sáu, tụi tôi cũng có bạn gái, người yêu, nhưng trong sáng lắm, không dám làm điều gì thất lễ để người ta coi thường mình. Thân thiết với nhau nhưng có khi chỉ hai người cũng không dám làm điều gì đi quá giới hạn nam nữ, nói thật đấy, canh con trai tụi Thanh tu như là phật ấy. Mở miệng mà nói tiếng yêu là khó vô cùng anh Sáu ạ, mặc dù trong lòng minh thương thật. Ở ngoài ấy trai gái lớn lên lo chuyện học hành là trước hết... 

 

- Cha, xã hội chủ nghĩa có khác, trong này trai gái thương nhau là làm tới tới… Sáu Hoàng kéo Thanh ngồi xuống võng - Thôi dẹp chuyện đó đi, tao hỏi mày làm thư kí nhân sự trung đoàn đã biết gì chưa ?

Thanh ngớ người ra .

 

- Có chuyện gì vậy anh Sáu?

 

- Trung đoàn sắp có tham mưu trưởng mới về rồi, tha hồ thư kí nhân sự có việc làm. Không chừng ông Sáu Thanh cử mày vào tổ công tác đi đón tân tham mưu trưởng đó.

 

Cái tin giật gân đó đến tai nhiều người. Đúng như dự đoán của những tay buôn chuyện bàn trà chiếu nhậu. Tham mưu trưởng phải là người địa phương thông thổ địa bàn tác chiến vùng chảo lửa này. Sáu Hoàng ra vẻ quan trng khác thường:

 

- Mày đoán ra chưa ? Thôi tao nói tẹc ra cho mày biết luôn, Tư Quân, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 Củ Chi, khét tiếng vùng này. Anh ta là dân bản địa, không đi tập kết, trưởng thành từ bộ đội địa phương lên. Hồi đầu năm 1967, quân Mỹ mở cuộc càn Cedar Falls (Xê-đa- phôn) vào vùng “Tam giác sắt” tức là vùng  Củ Chi, Bến Súc và Bến Cát. Tư Quân chỉ huy đơn vị sử dụng hệ thống địa đạo chiến bẻ gãy nhiều mũi tiến công của bọn “ Tia chớp nhiệt đới” đánh phá ác liệt vùng giải phóng bắc Củ Chi. Nhất là trong trận Gò Nổi đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn Mỹ, diệt trên 200 tên, 15 xe tăng và thiết giáp khi chúng rút lui về co cụm để lại bung ra tàn phá vùng căn cứ. Tư Quân không những đánh bộ binh giỏi và còn là kiện tướng diệt cơ giới với thành tích hạ năm xe tăng và xe bọc thép Mỹ. Khi quân Mỹ trút sắt thép kể cả bom B52 xuống các xã phía bắc Củ Chi, dọn bãi cho hàng trăm trực thăng đổ quân, Tư Quân dẫn anh em ra địa đạo bảo : “Đây là trận địa của chúng ta, một tấc không đi, một ly không rời; có chết thì chết ở đây, thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, bảo vệ quê hương đất thép”. Vừa chỉ huy đơn vị chiến đấu anh vừa vác mìn đi chặn đầu xe tăng Mỹ… Từ đó tên tuổi Tư Quân lừng lững khắp vùng, khiến cho bọn chóp bu Củ Chi tức tối treo thưởng cho những ai bắt được tên Việt cộng cỡ bự Tư Quân.

 

Quả danh bất hư truyền, Tư Quân đi mây về gió, vừa nghe anh ta ở Tân Phú thoắt đã thấy cái bóng sầm bành ở Gò Nổi, cổ thắt khăn dù bông, khẩu côn đui đeo xề xệ trước đùi trái. Anh có thói quen bắn tay phải nhưng rút súng bên đùi trái, bóp cò nhanh như chớp. Nhiều lần đi công chuyện, Tư Quân không cần vệ sĩ, tự đi, tự lên phương án bảo vệ mình như vậy gọn hơn. Khi cần thì tổ chức tiền hô hậu ủng, trinh sát, chốt đường bài bản. Đó là khi anh biết chắc chắn chín mươi phần trăm đụng địch.

 

Anh em ở trung đoàn bộ háo hức đón tham mưu trưởng mới thì bị ngay một thùng nước lạnh dội vào, tiu ngỉu. Ai cũng bàng hoàng khi hay tin Tư Quân hi sinh ở Rừng Tre trên đường đi điều nghiên mục tiêu. Chính úy Bảy Tòng ngồi lặng, cái trán hói hằn lên những đường nhăn đau đớn. Trong vòng hai tháng trên đất Củ Chi, trung đoàn mất hai tham mưu trưởng, điềm gở nữa gì đây ? Những tia máu trong mắt ông kéo ra… Tin quân địch đổ bê tông trong vòng bán nguyệt phía tây bắc Sài Gòn 60 tiểu đoàn, chuẩn bị ra đòn phản kích giành lại thế chủ động chiến trường sau đợt 1 Mậu Thân, làm ông lo lắng. Trung đoàn đang nằm trên giá vẽ, thực lực chẳng bao nhiêu, lại khuyết nhiều vị trí chỉ huy chủ chốt, làm sao đương cự với lực lượng hùng hậu và phương tiện cơ động tối ưu của quân Mỹ. Chúng nhắm vào trung đoàn của ông đang bám trên cái bàn chải cùn Củ Chi - Trẳng Bàng bị bom pháo và xe tăng băm vằm chà xát tả tơi.

B phó quân lực Thanh không bỏ sót chi tiết nào vào trong cuốn phim “quay chậm” của Sáu Hoàng về cái chết của Tư Quân. Anh xuống tận Bàu Tre được nghe kể lại khá chi tiết:

 

Đêm đó Tư Quân đích thân đi điều nghiên trận đánh bót Bàu Tre. Làm liên lạc và bảo vệ ông là một cậu tân binh nhỏ thó tên là Cu Gió, nhanh như sóc lại thông thạo địa hình. Vào ấp Bàu Tre được một quãng bỗng Cu Gió thấy nhờn nhợn. Hắn vừa xoay người định nói gì với thủ trưởng thì những chớp lửa xé lên cùng tiếng nổ chát tai của AR15 và M79. Hắn rạp người lăn xuống hố bom bên cạnh thì thấy Tư Quân ngã vật ra, bật lên một tiếng rên kinh người. Cu Gió ngoi lên quạt một loạt AK về phía bọn biệt kích rồi biến vào rặng tre. Không gian câm bặt nghe rõ tiếng chân bọn biệt kích rần rật chạy về bót.

 

Tư Quân bị trúng đạn gãy đùi và vỡ vai trái, ngất đi. Về sáng sương lạnh phủ xuống làm anh tỉnh dậy. Máu ra nhiều do không được băng bó kịp thời khiến sự sống vơi cạn dần trong anh. Không còn một ai bên cạnh, anh biết mình sẽ hi sinh trong chốc lát. Nhưng Tư Quân không thể chết một cách im lặng như thế, anh cố sức giỡ tấm dù ở cổ trùm kín người, tay phải móc khẩu côn đã lên đạn sẵn…

 

Trời sáng, bọn địch trong bót mò ra kiểm tra trận địa đụng độ đêm qua. Chúng kéo nhau lại gần tấm dù bông cộm lên trên mặt đất. Bỗng tấm dù bung lên, Tư Quân lấy sức bình sinh cuối cùng nhả đạn vào từng tên lính cho tới khi cái băng đạn bảy viên há miệng ra. Anh buông khẩu côn, cố rút chốt quả lựu đạn nhưng người đã lả đi và trút hơi thở cuối cùng. Nơi anh nằm bỗng rực lên những hạt sương long lanh trên nệm cỏ xanh. Vệt máu đã quánh lại cũng nhoáng lên trong ánh bình minh rực rỡ ban mai.

 

Tên toán tưởng bảo an lật ngửa Tư Quân. Đôi mắt anh trừng trừng nhìn hắn khiến y phải lùi lại. Hắn tra khẩu côn vào bao, nói với đồng bọn:

               

- Chúng bay nhìn ra ai không ? Nó là tên Việt cộng gộc Tư Quân, người mà quốc gia đang truy bắt, treo thưởng. Hắn đã chết nhưng ba chiến hữu của ta phải thiệt mạng. Cha Việt cộng mày quả là một anh hùng đáng kính nể. Tụi bây, cúi đầu mặc niệm ! Hắn lấy tấm dù trùm kín xác Tư Quân rồi gọi trực thăng đáp xuống lấy xác đồng bọn về bót.

 

Du kích và bà con ấp Bàu Tre đem tham mưu trưởng Tư Quân về chôn cất ở đồng mả nơi bìa ấp chu tất ngay hôm đó, bên cạnh mấy mộ liệt sĩ hi sinh từ cuộc càn Xê - đa - phôn và trong tết Mậu Thân. Ba mươi tuổi, Tư Quân trở về trong lòng đất mẹ Củ Chi để lại bao thương tiếc cho đồng đội và đồng bào. Có điều là ba ngày sau đi qua người ta thấy trên nấm mộ có nhiều chân nhang và những chùm hoa. Hỏi ra mới biết người âm thầm mở cửa mả cho Tư Quân là Út Lan, vợ chưa cưới của người chỉ huy kính mến.

 

Khi Hoàng và Thanh xuống nắm tình hình sau vụ Tư Quân hi sinh mới hay việc này. Cả hai đến Dân y Củ Chi thì gặp Út Lan ở đó, cặp mắt đang mưng lên do khóc người yêu nhiều ngày. Thân hình có phần tiều tụy nhưng vẫn lồ lộ một cô gái nhăn sắc mặn mà. Ngoài tuổi 20, Út Lan ngực mẩy, vai thon, mái tóc óng mượt hơi hoe vàng tôn nước da trắng ngần. Gái quê đẹp cỡ này hiếm. Út Lan và Tư Quân thương nhau đã vài năm, định tổ chức “lễ tuyên bố” thì xảy ra Mậu Thân. Gần đây vành đai Củ Chi đang nóng lên, đơn vị nào cũng hối hả bận rộn nên anh chị ít gặp nhau dẫu căn cứ không mấy cách xa, chỉ độ non nửa tiếng đồng hồ. Út Lan có biết Tư Quân được điều lên trung đoàn. Lẽ ra anh được nghỉ ngơi liên hoan chia tay anh em để đi và nhận trọng trách nặng nề hơn, nhưng anh không yên tâm về việc điều nghiên đánh bót bảo an Bàu Tre. Bọn nguỵ ra công đón lõng Tư Quân vì món tiền thưởng khá hậu hĩnh tưởng đâu phù phiếm, thế mà con người chúng thù đục nước ấy dính bẫy thật.

 

Sáu Hoàng đến bên Út Lan. Anh thảng thốt trước vẻ đẹp thanh khiết của người thiếu nữ. Thanh cũng nhận ra điều đó và dường như cô gái cũng đáp lại với ánh mắt đồng cảm. Sáu Hoàng vừa động viên an ủi Út Lan vừa quan sát xung quanh. Anh định nắm tay người con gái nói điều gì đó nhưng kịp rút lại. Đôi mắt đỏ hoe của cô chứa đựng lòng biết ơn và thông cảm. Cô cần những cái đó lúc này từ phía người con trai, dù xa lạ, mới gặp lần đầu.

 

Trên đưởng trở về trung đoàn Hoàng trở nên im lặng, ít nói. Mãi sau anh mới bảo Thanh:

               

- Mày làm nhân sự, hình như bnh xá trung đoàn còn thiếu y sĩ phải không?

 

Thanh gật đầu và hiểu Hoàng muốn đưa Út Lan về quân y trung đoàn. Hoàng không nói gì thêm. Những viên đạn vạch đường từ chiếc xe tăng nào đó trên cánh đồng bay thia lia qua trước mặt hai người.

 

Màn đêm mông lung dìm vạn vật vào màu đen bất tận. Những cơn gió mùa khô rít qua như lay động cảm thức con người rằng sớm mai vẫn có một bình minh rực rỡ phía chân trời, nhưng còn xa xôi lắm mới chiếu rọi tới mảnh đất đau thương này. Một Bắc Kỳ, một Nam Kỳ đang mải mê ruổi theo ý nghĩ của mình trên đường về căn cứ trung đoàn.

 

(Còn nữa)

 

 

 

>> XEM TIỂU THUYẾT - HỒI KÝ CỦA TÁC GIẢ KHÁC

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.