Tin mới Xem thêm

  • Về cuộc họp Ban Chấp hành Hội giữa năm 2018

    Ngày 5.7.2018, Ban Chấp hành Hội đã tiến hành phiên họp thường kỳ với sự có mặt của 7 thành viên: Trần Văn Tuấn, Phạm Sỹ Sáu, Phan Hoàng, Bích Ngân, Trầm Hương, Lê Thị Kim, Phan Trung Thành

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố để đi chỗ khác chơi vì

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

  • Nguyễn Quang Sáng cánh chim sếu đầu đỏ

    Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tác phẩm chọn lọc

Tống Ngọc Hân & Cổng làng

22.4.2015-21:00

 Nhà văn Tống Ngọc Hân

 

Cổng làng

 

TRUYỆN NGẮN CỦA TỐNG NGỌC HÂN

 

NVTPHCM- Liên ngồi vắt chéo chân trên cái ghế nhựa quán nước chè xanh bủ Dĩ, thuốc lá phì phèo vẻ bất cần. Thi thoảng lại đưa bàn tay với những cái móng dài nghêu ngao lùa vào mái tóc nhuộm ba màu xanh, đỏ, đen chấp chới ngang vai. Bủ Dĩ lịch kịch gì đó trong góc quán, vẻ không thích cái đứa hàng xóm ăn mặc, đầu tóc chả ra cái ngữ gì. Nó cứ chềnh ềnh ra ra đấy, hỏi còn ai dám vào? Nó về làng tháng nay rồi, ngày nào cũng ra quán, ám bủ đến thiu cả chè. Nhưng đuổi nó thì cụ không dám.

 

Liên ngồi đến lúc cái bóng nắng chờm qua giọt gianh, xiên thẳng vào khuôn mặt nhợt nhạt và lỗ chỗ vì dùng mỹ phẩm lâu ngày thì đứng dậy. Liên xoay vặn người, bẻ đốt chân đốt tay, vuốt tóc, luồn tay vào ngực, kéo cái xu chiêng cho ngay ngắn rồi tiện tay móc từ trong đó ra mấy nghìn lẻ đặt lên bàn trả tiền nước. Trước khi đi, Liên còn ngoái cổ vào quán, chào một tiếng. Chào thì chào thôi chứ bủ Dĩ điếc lòi có nghe thấy gì đâu mà chào. Chả thế, cái loa thôn năm lần bảy lượt di dời từ nhà văn hóa đến nhà trưởng thôn, giờ yên vị trên nóc quán bủ rồi. Đúng ra, chỗ của cái loa thôn là nhà văn hóa. Nhưng gần nhà văn hóa là nhà cô Nhâm. Cô Nhâm bị bệnh động kinh, cứ mỗi lần loa phát lên, bất kể chương trình gì là cô lên cơn đập phá. Gia đình cô kiến nghị lên tận xã để trục xuất cái loa, đi đâu thì đi chứ nhất định không được ngự ở gần nhà cô. Loa được tạm điều về nhà trưởng thôn. Được dăm hôm thì bà cụ thân sinh ra trưởng thôn đã ngoài tám mươi, trái tính trái nết, cứ đứng ngửa cổ, ưỡn ngực ra mà chửi nhau với loa. Cụ chửi. Tổ sư bố nhà chúng bay, quyên góp gì, lúc nào cũng quyên góp, đẹp đẽ gì, trạng nguyên vinh quy bái tổ gì cho cam mà cổng làng với cổng nước. Toàn trai gái đĩ bợm, toàn thất nghiệp trộm cắp, toàn bỏ làng bán xới, ô xin ô mua, tứ xứ giang hồ, hay ho gì mà cổng làng? Trưởng thôn nghiến răng chạy ra sân, bế thốc bà mẹ già vào buồng, quăng lên giường, trùm cho cái chăn. Cụ nằm im cho con nhờ. Im là im thế nào, chúng mày đua đòi, đú đởn vừa phải thôi… Trưởng thôn đích thân bắc thang lên cây nhãn, bệ cái loa xuống, nhồi vào trong bao tải, đưa xuống nhà văn hóa. Treo tạm mấy hôm nhân lúc cô Nhâm đi trị bệnh dưới bệnh viện đã, còn lâu dài thế nào thì phải họp bàn. Thật chẳng may cho loa, cô Nhâm trốn viện về, con út cô lại leo lên, tháo loa xuống, quẳng lên nóc chuồng gà. Loa nghỉ mấy hôm, làng xóm yên ả, dễ chịu hẳn.

 

Chính thằng Bách có sáng kiến treo loa quán cụ Dĩ đấy. Nó bảo “Làng này chỉ có con điếc, thằng câm mới chịu được cái loa”. Những thằng con còn trẻ ở làng này đều tinh tường, sáng láng hết cả. Câm chỉ có bủ Phường, điếc chỉ có bủ Dĩ, nhưng bủ Phường, nhà trên ngọn dộc, loa treo đấy, ai nghe? Chỉ có quán nhà bủ Dĩ là ở giữa làng thôi. Bủ Dĩ thì được cái hỏi gì cũng gật, đốt nhà nhé cũng gật chứ nói gì loa. Mỗi lần loa hát bài ca quê hương, chắc cái màng nhĩ bủ có rung rinh, đánh thức một thời còn tỏng tai, ra đình nghe hát xoan hát ghẹo, nên bủ cũng thích, ai ngồi uống nước, bủ cũng trỏ tay lên cái loa mà khoe như khoe tài sản riêng. Bủ chả biết, dân làng sợ loa như sợ mõ nhưng vì nếp sống văn minh, vì chủ trương của chính quyền mà phải nghe nó phát thôi. Ví thử như cái loa chỉ hát dân ca, chỉ kể chuyện tâm tình, chỉ thời sự làng xã, quốc gia thì đâu đến nỗi người ta ghét. Đằng này, tơ mơ sáng, lúc bà con đang lục đục lót dạ để ra đồng thì nó đã cuống cuồng chỉ mặt đặt tên, như sợ người ta trốn ra đồng hết không ai chịu nghe. Cô A chưa đóng tiền thủy nông ba tháng nay, sẽ cắt nước vào ruộng vụ chiêm tới nếu không đóng. Anh B còn thiếu bốn công làm đường bê tông từ năm ngoái để nghị anh tham gia công tác vệ sinh trường mầm non lấy tiền gây quỹ. Cụ C chưa đóng tiền tu bổ nhà văn hóa, thóc là hai yến, quy ra tiền mặt là một trăm bốn mươi ngàn… Ấy cái chuyện công nợ cứ như quả sung chát, đấm vào họng người từ lúc tơ mơ. Mà còn chưa bẽ bàng bằng cái chuyện xây cổng làng. Loa tính vanh vách mỗi nhân khẩu hai trăm ngàn, không có ngoại lệ miễn giảm, ai cũng phải nộp. Nhà đông người đứt mấy triệu bạc, vay đâu, mượn đâu thây kệ, không nộp mau, loa nhắc ngày năm lượt là ít. Nhà nghèo thì đành đắp tai cài trống, làm thinh, chứ nhà nghi ngoe có mấy đồng lương hưu chưa đến kì thì cũng xem giật tạm, nóng nguội đâu đó mà nộp cho xong. Chứ mỗi ngày bị bêu gương năm lần thì muối mặt lắm. Dự tính cái cổng làng kinh phí lên tới hai trăm triệu. Ít của đâu. Ấy thế, mới có chuyện, lúc trước, làng xì xào, con nhà kia đi làm gái lấy tiền về xây chuồng, mua bò cho bố chăn thả. Giờ nó gia tâm cho cổng làng năm triệu thì loa lại cô nọ cô kia, trịnh trọng, ngày tung hô, tối cổ vũ mấy lần, làm gương. Có thế mới kích động được cái lòng yêu nước thương làng của cái đám dân một nắng hai sương này chứ. Làm nghề gì cũng được, miễn có tiền gia tâm là được rồi.

 

Liên đi rồi, bủ Dĩ nhìn lên cái loa, bụng thấy lo lo là. Nó đến để xem loa có đả động gì đến thằng em vừa mới ra tù của nó không đấy. Loa mà điêu hớt, ăn không nói có cho em nó một ly, một lai, nó vặn gẫy cổ loa ném xuống ngòi ngay chứ chả nương tay. Con Liên ở gần nhà bủ, bủ biết chứ. Mẹ nó là gái góa từ lúc mới ba chục tuổi đầu, một nách bốn con. Mấy chị em nó thông minh, chăm chỉ, lành hiền, thậm chí nhát cáy, đến nỗi nào đâu. Ấy thế mà giờ anh chị em nó mà dàn hàng ngang đi trên đường làng, đến chó hoang còn phải dạt vào bụi chứ chả nói đến người. Chị thì tóc tai kinh dị, quần áo te tua, em thì đầu trọc hếu, phơi đầy sẹo. Nó mới về hồi đầu năm, giờ thấy thằng em ra tù thì lại về, hình như là sắp giỗ bà nội chúng nó. Bà nội con Liên với bủ Dĩ là đồng hương đấy chứ. Năm bốn nhăm, dạt lên đất này, chí chết bao phen vì đói. Giờ chết vì vạ miệng thì hay ho gì.

 

Liên nằm ngửa trên phản, tay vắt trán như đang tính kế gì đó. Mắt thi thoảng lại liếc lên bàn thờ, nơi có bốn bức ảnh. Ánh mắt Liên nhìn xoáy sâu vào nụ cười móm mém của bà nội và chợt bật cười. Thằng Bách thấy lạ nhưng không hỏi. Liên ngậm ngùi. “Lâu lâu rồi, không được gọi bằng bà, kể cũng buồn”. Thằng Bách nghe thấy thế thì cũng không nhịn được, bật lên: “Con cắn rơm cắn cỏ lạy bà”.

 

Từ lúc bẩy tuổi, Liên đã bị bà lùa xuống ruộng để gặt. Liên và chị gái chín tuổi, mỗi đứa một cái liềm bé. Vụ chiêm, lúa xấu thì chớ, những chùm bọ rọm mồm đỏ choét, lông hung vàng dựng ngược, ngoe nguẩy, lúc nhúc trước mặt. Nước mắt nước mũi Liên trào ra. Bà nhìn thấy bèn buông liềm, chắp tay khẩn khoản: “Con cắn rơm cắn cỏ, con lạy hai bà, hai bà về leo lên bàn thờ cho con nhờ”. Thế là hai chị em cắn răng gặt tiếp. Thấy ngứa dưới bắp chân, giơ một chân lên. Đếm vội cũng năm sáu con đỉa đang bám chặt lấy da thịt Liên mà hút máu. Liên không nhịn được nữa, vứt liềm, la lên. Bà nội lại rên rỉ: “Con lạy hai bà tư sản non, mời hai bà về nhà cho con nhờ, chứ hai bà kêu lên thế này con xấu hổ lắm”. Chị em Liên lại nhặt liềm lên… Từ đó đến cuối trận gặt, lông bọ cắm đầy hai bàn tay, đỉa no thì đỉa lăn ra nhường chỗ cho đỉa đói. Thi thoảng có con bắp cày dưới bùn tiêm cho một mũi vào bắp chân đau điếng. Thi thoảng có con rắn nước liệng qua trước mặt, hai chị em vẫn cố kiết làm. Hết gặt rồi đến cấy… Năm này qua năm khác.

 

Thằng em út nhà Liên còi xương từ bé. Mẹ Liên gầy như que đóm, ăn sắn mốc nên cũng không đủ sữa cho em bú. Suốt ngày chị em Liên la lủi khắp các xó xỉnh, ngõ ngách, vườn tược, bắt cóc về để bà làm ruốc cho em. Đêm nào, trong giấc ngủ, người Liên cũng gai lên, ngứa ngáy vì cái cảm giác sờ vào da cóc. Đã thế vào mùa lá sắn, nhà còn nuôi tằm lấy tơ bán cho cửa hàng. Chị em Liên đeo sọt vẹo cả hông đi hết các đồi gần đồi xa, hết lá sắn đồi nhà mình thì đến đồi hàng xóm, hết xin xỏ thì đến trộm. Liên sợ nhất là những lúc thay lá cho tằm. Nhìn lũ tằm xanh đói lá bò lổm ngổm trên cạp nong, bò cả lên cột nhà, bò sang bàn học, bò vào sách vở, người Liên rợn rạo cả lên. Nhưng hễ có phản ứng run rợ nào đó là y như rằng bà nội lặp lại cái điệp khúc: “Con cắn rơm cắn cỏ lạy hai bà..”.

 

Cuối năm, sương muối đổ dầy, chè xém búp, chị em Liên cắp làn tế mót trong vườn lấy đủ chè uống tết. Những con bọ chè màu nâu, nhèo nhẽo túm năm tụm ba trên ngọn chè làm hai chị em rú lên. Ấy thế, phát hiện ra hai đứa bỏ sót cây chè nào thì bà không tha cho. Chưa kể, đang hái chè, bọ nét còn đốt cho sưng vù cả tay. Chốc chốc, trên cây khế chua, mấy con bọ trắng bốp, to bằng chuôi dao, dài cả gang tay, vật nhau lại rơi bụp xuống vườn, ngay trước mặt làm hai chị em xanh mặt. Dù chưa bao giờ bọ khế rơi trúng đầu nhưng chị em Liên luôn thấp thỏm sợ hãi. Cây mít cũng nhiều bọ. Những con bọ ngụy trang màu lông giống hệt vỏ cây mít. Muốn trèo lên vỗ mít thì phải vượt qua nỗi sợ hãi bọ mít mà leo lên. Đi học về, đói thì phải leo trèo thôi. Sợ cũng phải leo. Cây ổi nhiều bọ. Cây bưởi nhiều bọ. Cây chuối cũng nhiều bọ. Đâu đâu cũng thấy sâu bọ… Những giấc mơ thời thơ ấu của Liên phần lớn là ác mộng bị sâu bọ, đỉa và rắn rết, chó dại tấn công. Phần còn lại là những giấc mơ về những đêm nhà bị trộm tấn công và cái lỗ ngạch to bằng cái miệng thúng cái đen ngòm, toang hoác.

 

Liên đã bị ám ảnh rất lâu, có lẽ là hết cả cuộc đời về những tiếng kêu thất thanh của mẹ, bà nội và những người đàn bà góa trong làng vào những đêm thanh vắng: “Ối làng nước ơi, trộm, trộm…”. Mỗi lần nghe tiếng kêu như thế, bất kể đông hay hè, giá rét hay nóng nực, Liên đều tung chăn chùm kín đầu, kín tai. Đến khi sóng yên bể lặng thì mới dám thò đầu ra. Năm nào nhà Liên cũng mất trộm đến chục lần. Chổi cùn, rế rách, nồi niêu soong chảo, bát đũa… gì khoắng được là khoắng, trộm chẳng tha gì. Bà nội bảo tháng củ mật rồi, mẹ mày phải cẩn thận. Cẩn thận là mẹ mài thật sắc con dao quắm, lúc nào cũng để dưới gầm giường. Cẩn thận là mẹ đi kiếm tre gai về vá víu lại bờ rào cho chắc chắn. Là xích con chó chuyên thả rông vào. Là rào chuồng gà, chuồng lợn cho kín đáo. Trộm thường xuất hiện vào những đêm mưa gió và vào khoảng canh ba, lúc cả nhà đã ngủ say sau một ngày nhọc nhoài. Trộm thường rình rập những nhà thiếu vắng đàn ông. Ban đầu họ trộm ngoài vườn như hái cam, lứa cam bà bảo để dành bán lấy tiền tiêu tết. Sau họ bả chó, cắt xích lôi đi. Bắt chó rồi thì đến chuồng gà. Hết sạch gà rồi thì đến bếp. Trong bếp có gì cũng lấy, từ cái vại muối cà đến cái liễn da lươn để mỡ lợn. Từ cái rổ xảo đến cái nồi gang đầy cám lợn. Từ cái lọ nuôi mẻ đến cái bùm bằng sành Liên nuôi sin sít, cá cờ… Bà nội và mẹ dồn đông đuổi tây mà trộm chả sợ. Bố Liên là con một mà lại đi sớm khi mới ngoài ba mươi nên bà khổ đủ đường. Cái câu cửa miệng “cắn rơm cắn cỏ” là do bà thuộc từ hồi đi ở. Mỗi khi phạm lỗi hoặc phật ý gia chủ, những con ở từ sáu tuổi trở lên như bà đều biết câu van lạy đó. Chẳng biết chữ nào, cả đời khổ như con ở, thế mà không chỉ chửi cháu hay, bà nội Liên chửi trộm cũng rất văn vẻ. Nhưng dường như bà càng chửi, trộm càng tức càng trộm mau hơn. Trộm hết của gái góa thì trộm sang nhà những anh què cụt, thương binh, sang ông già bà cả neo đơn. Trộm cả của đứa mồ côi mồ cút. Tóm lại, đã thèm xơi thì gà nào cũng là gà. Thậm chí cả những nhà có tường cao, hào sâu, có đàn ông khỏe mạnh, chó dữ hằng bầy, trộm cũng chẳng quản ngại. Bà nội Liên từng bảo. Tao với mẹ mày mà có bề gì, sao chị em chúng bay giữ nổi miếng cơm mà ăn? Ấy thế, trong một lần ngộ độc nấm trứng, hai cái người ăn nấm trừ bữa ấy đã dắt tay nhau đi. Bốn chị em Liên bỗng chốc bơ vơ, bốn mùa quay cuồng đuổi trộm.

 

Làng này có cái lệ, nhà nào có đám cưới, đám ma dân làng đều tập trung đến. Đàn bà chợ búa, rau củ, nấu nướng. Đàn ông thì dựng bạt, mượn bàn ghế, mổ lợn, băm chặt, xếp cỗ. Đêm đến, xong việc dọn dẹp, đàn bà con gái về nhà, đàn ông ở lại đám, trải chiếu ra, tổ tôm, tam cúc, tiến lên, xóc đĩa thâu đêm suốt sáng. Vừa có hơi men tê tê, lại bị cái thắng thua cay cú, hỉ hả dẫn lối đưa đường, họ to tiếng hơn hẳn ngày thường. Thế là lạy ông tôi ở bụi này. Thằng trộm chỉ chờ có thế là ung dung, vác bao tải lên đường, định vào nhà anh nào thì nhà ấy chỉ có mà sạch sẽ. Với kẻ trộm, cỗ làng là cơ hội quý giá, chắc ăn, còn hơn cả đêm mưa to gió lớn. Một đêm trộm tày ba năm làm, sao phải long đong, vất vả?

 

Hai chị em Liên vừa mổ gà vừa nói chuyện. Đúng lúc ấy loa lại phát ông ổng cái danh sách ban dự án cổng làng mới được đề cử. Sáu người là đại diện ưu tú của thôn, sáng mai sẽ thuê xe ô tô đi một vòng quanh tỉnh. Không phải đi chơi, mà đi khảo sát những chiếc cổng làng cũ và mới để còn lên kế hoạch cho chiếc cổng làng tương lai, sao cho vừa đẹp, vừa rẻ, lại hợp với văn hóa của làng mình. Liên cười sằng sặc. Chị cười gì? Cười làng. Thằng Bách nín thinh. Làng này, khối thứ để cười, để khóc. Chục năm trở lại đây, lao động dư thừa, ruộng đất ít, việc làm chả có, mạnh thằng nào thằng ấy sống, khỏe con nào, con ấy chạy. Cái bọn gái học hết bảy, tám, thích ăn chơi hơn lao động thì chỉ có đi làm gái. Thi nhau chạy xuống thành phố. Có đứa còn chưa gửi được đồng nào về báo hiếu bố mẹ đã bị cơ quan chức năng lùa về quê như lùa vịt vào lồng. Đứa khôn thì mở cái quán may vá che mắt thiên hạ ngay bìa đầm, thâm canh luôn trên đám giai làng thuộc diện nhàn cư vi bất thiện. Đứa khôn hơn nữa hơn thì giục bố mẹ cắm cả khu đồi trồng keo và bồ đề lấy mấy chục triệu để đi Malaisia, Hàn Quốc, mong có cơ hội đổi đời. Mười đứa đi thì năm đứa bị lừa, tiền mất tật mang, năm đứa còn lại thì gia đình lục đục, nghi ngờ. Về thì sợ không trả được nợ ngân hàng, sợ chồng say rượu chém mất mạng, không về thì phấp phỏng, chui lủi, vào trại tị nạn có ngày. Thôi, cái thằng xanh tóc không làm ra tiền thì ở nhà mà suy ngẫm, tính kế, bày keo, để kẻ bạc đầu đi thay. Đang mốt bà già quê về thành phố làm ô sin đấy nhá. Bế cháu, trông ông bà già, chăm người tàn tật. Mốt ông già làng này làm bảo vệ, giữ xe, coi vật liệu công trình. Nuôi ông bà già đỡ tốn kém, ăn ít, ngủ ít, tắm giặt ít mà lương chỉ phải trả thấp, lại không lo trộm cắp hay lúng liếng gạ gẫm ông chủ như mấy cô măng tơ. Đếm ra, làng này, hằng chục cụ giã từ hội người cao tuổi lên đường kiếm kế sinh nhai. Để đảm bảo sĩ diện cho mình, cho làng, các cụ cũng sinh nói dối là về thành phố trông con cho đứa cháu họ xa. Làng này, có mấy cái họ, đếm ra ngay. Họ Vũ to nhất, nhì họ Nguyễn, ba họ Trần, bốn họ Trương… Nhìn bãi tha ma là biết họ nào to họ nào bé. Họ nào to thì khu mộ to, xây dựng hoành tráng, họ nào nhỏ, ít người thì khiêm tốn hơn tí… Cái trận đua nhau xây mộ to của các họ trong làng này… Cứ nghĩ lại mà sởn gai ốc.

 

Bách thò đũa vào nồi, chọc chọc rồi vớt ra con gà luộc đặt vào cái rá. Ra tù, vừa chân ướt chân ráo trình báo chính quyền thì thôn đã đè ngửa ra truy thu mấy khoản tiền công quỹ lưu cữu từ hồi nảo hồi nào. Mẹ kiếp, tao không nộp đấy, để xem làng có ăn thịt tao không? Cùng lắm là tao không đi qua cái cổng làng ấy nữa cũng chẳng sao? Thiếu gì đường vào làng? Lần trước, lúc họ Trương xây mộ, để vuông vành vạnh khu mộ nên cố tình lấn sang ruộng nhà Bách độ thước vuông. Nhà Bách nhiều ruộng gì cho cam, ba con người, có hai sào ruộng, lấy gì mà sống. Gần mương nước, đã phải cắt cho thủy nông một thẻo xây máng rồi. Không chừng, đo lại giờ chỉ già sào rưỡi. Hé ra nhắc nhở, nhà nó lại cậy có người làm quan xã, nên chửi Bách là bố mẹ chết không dạy được. Bách cùn lên: “Thế thì ông cũng mất dạy lâu rồi”. Hai bên lao vào choảng nhau, lực lượng không cân xứng, Bách bị dìm xuống ruộng, mặt mũi đầy bùn đất. Ngoi được dậy, vớ cái xẻng, vụt lấy vụt để. Bả vai ông kia bửa ra, tổn hơn năm chục phần trăm sức khỏe. Bán hai sào vườn trồng chè cũng không đủ tiền thuốc men và bồi thường. Liên kí vào cái giấy vay nợ rồi biến đi đâu khỏi làng, hai năm sau mới về trả hết nợ. Liên lại đi. Ở nhà, còn hai sào ruộng, nhà họ Trương viện cớ vẫn  thiếu tiền, sang lột nốt, bắt thằng em út Liên kí vào. Thằng này bỏ dở lớp mười, đi đóng gạch thuê lấy tiền nuôi thân chứ chị gái, anh rể cũng nghèo rớt mùng tơi, không cưu mang được. Bách thì tù sáu năm. Sáu năm tù giống một cuộc xuất khẩu lao động bị lừa trắng tay như khối người trong làng thôi mà. Đi mới mười chín, về đã hăm nhăm. Ngoài chỗ chui ra chui vào, một tấc cắm dùi không có, trồng cấy gì? Giáp mặt ông trưởng họ Trương, Bách chào rõ to như thách thức. Ông họ Trương run bắn. Nguyện vọng của ông và gia đình này là muốn cái thằng ngông cuồng, mất dạy ấy phải ở mãi trong tù cơ, sáu năm ít quá và cũng nhanh quá. Nhà ông đang chuẩn bị đám cưới cho con gái. Đương nước sôi lửa bỏng thì thằng Bách mãn hạn tù, lù lù trước mặt. Đúng là họa vô đơn chí.

 

Chỉ có ba đứa cháu làm giỗ bà nội. Giỗ cái người đàn bà cả đời sấp ngửa, khốn khó chỉ thèm một bát cơm trắng không trộn trạo, chỉ thèm một đêm mưa ngủ không bị nước dột bắn vào mặt hay không phải nghe con dâu gào thất thanh đuổi trộm. Giỗ cái người đàn bà không dám bỏ vào mồm một hào bánh đúc hay đồng bánh rán. Và nếu ai đó có thương hại nhét vào mồm thì nhìn thấy bốn đứa cháu côi cút cũng phải nhè ra. Giỗ cái con người luôn biết ngẩng đầu lên và căn dặn cháu “Đói cho sạch rách cho thơm con ạ”. Bách ngẩng nhìn chị. Này, em hỏi thật, người ta bảo chị Si đa, có thật không? Liên cười nhếch mép, rồi đưa chén rượu đầy lên miệng, ngửa cổ mà dốc vào. Thằng Bách tợp một hụm rượu, gắp miếng thịt gà nạc nhất vào bát thằng út. Thằng này đóng gạch sáu năm, vạm vỡ nhất nhà. Liên gõ đũa vào miệng bát, tính toán. Mai cưới con Quế rồi nhỉ, đêm nay, làng vui phải biết. Thằng Bách thấy chờn chợn. Tiếng loa lại khè khè, khọt khẹt như người bị cảm lạnh, xướng tên chị em Liên cùng hơn chục cái tên nữa chưa chịu đóng góp tiền cổng làng. Thằng Bách chống đũa, dễ nuốt bằng rượu, mà nuốt cũng không trôi. Liên thản nhiên giằng xé cái chân gà, như giằng xé cái điều vừa nảy ra trong suy nghĩ. Lạ thay cho suy nghĩ của con người, vừa vụn nát, lại tự chắp vá, lành lặn. Thằng út, trán rịn mồ hôi, ánh mắt chứa đầy lo lắng, hết nhìn anh lại nhìn chị. Nhìn thằng em trai thiệt thòi, bố chết còn trong bụng mẹ, Liên cố kìm để không bật ra một tiếng thở dài. Thằng Bách lại gắp thịt gà vào bát chị và em trai. Hình như nó nghĩ, cứ ăn no, uống say, ngủ một giấc, thức dậy là chị nó quên hết mọi ân oán. Một thằng tù tội như Bách mà cũng không thể tưởng tượng được, mới sáu năm, chị nó đã thay đổi, đã trở nên như thế. Ngày xưa, chị nó hiền lành, thùy mị bao nhiêu, thì nay… Chị Hạ, chị cả của Bách thì cũng chả hơn gì. Chồng xây, vợ phụ tận dưới Hà Đông. Giỗ mẹ khất đến giỗ bà, giỗ bà lại khất đến giỗ bố. Không chừng lại khất đến giỗ ông, rồi tất niên có mặt là vừa. Con cái thì thả phống cho ông bà nội như thả ngỗng ra ruộng, để kiếm tiền mua chữ cho con. Thằng Bách liếc thấy khuôn mặt lạnh tanh như đá của Liên thì đứng dậy. Chẳng gì, nếu có phải tù đận nữa, nó cũng quen rồi. Nó nói. Chị cứ để em giải quyết, ba cái việc vặt, đâu cần chị nhúng tay. Liên đặt đũa xuống mâm, quát nhỏ. Ngồi xuống. Không phải việc của mày, đêm nay, tao sẽ cho chúng một bài học. Thằng Bách miễn cưỡng ngồi xuống. Thằng út, mồ hôi chảy thành ròng như lúc nện đất, áo nó ướt đầm, đôi tay nó run run, cầm đũa không chắc.

 

Đêm thăm thẳm, trời cao, gió mát. Tiếng nhạc đám cưới dẫn Liên đến cái nơi nó cần phải đến. Cái đứa con gái nào đó, giọng như dế mèn trong đám cỏ gà cứ rên rỉ “yêu đơn phương… sao anh không nghĩ đến em dù chỉ một lần” nghe tức anh ách. Đám cưới, đơn mới côi gì. Con Quế bòn đãi dăm năm dưới thành phố, có chút vốn, về quê lấy chồng, mừng cho nó. Bọn trai gái làng, đếm đầu ngón tay, toàn cử nhân đại học thất nghiệp ngồi chờ việc, đi làm thuê thì xấu hổ. Chúng nhìn bộ dạng Liên vẻ sợ sệt, dạt ra một chỗ. Họ Trương gọi con cháu hội ý chớp nhoáng một lúc rồi chuẩn bị sẵn gậy gộc, dao búa. Đông đàn dài lũ từng này lại thua ba chị em nhà nó hay sao? Mấy thằng nghiện thấy Liên thì xúm lại truyện trò, hỏi han thân mật. Liên liếc qua một lượt tìm con Quế. Kia rồi, áo tân thời, nõn nà như đóa sen trắng cuối mùa dưới đầm cạn. Chú rể lịch lãm com lê cà là vạt. Yêu đơn phương vừa dứt. Nhạc đổi sang chủng loại khác, vừa bốc, vừa mạnh. Nam nữ thanh niên xô bàn đứng dậy, nhảy nhót loạn xạ. Bắt nhạc, cô dâu, chú rể nhảy tưng bừng. Phải nói là con Quế nhảy đẹp. Khách khứa ai nấy trầm trồ. Các bủ cười phô hết cả những cái hàm không răng ra. Các bủ đâu biết, mấy năm kiếm cơm ở vũ trường đã cho Quế cái sự thành thục, điêu luyện ấy. Đấy là còn sớm sủa, chứ lát nữa các bủ về hết rồi, Quế dám nhảy cả những điệu mà mấy chị tằng tằng bốn mươi có chồng đi xây trát xa nhà, phải chóng mặt, nôn nao như uống thuốc ngủ quá liều.

 

Cái loa thùng nằm trong giàn nhạc của nhà cung cấp dịch vụ đập hết công suất, loại trực tiếp các bủ bà. Đến như bủ Dĩ mà còn biết nhức đầu bỏ về nữa là. Giờ còn lại trong bữa tiệc đêm là đám đàn ông con trai máu mê cờ bạc. Nhạc chuyển về gam dịu dàng Bèo dạt mây trôi, thi thoảng đá tí Cô Đôi Thượng Ngàn ma mị. Liên liếc mắt lần nữa. Có hai đám tổ tôm của các bậc U70, hai bộ bát của mấy ông U60 trộn U50, còn lại là bốn cỗ bài Tây của các chú trẻ hơn, chỉ thích xanh chín, nóng hổi. Liên lân la gà bài cho một thằng. Thằng ấy hốt liền tay, ăn của cả làng. Một thằng cháy túi, mặt xanh như đít nhái, đang định văng tục, thấy Liên lừ mắt thì hạ giọng. Có khoái thì anh mày nhường chân cho. Chả nhường cũng chả được.

 

Liên danh chính ngôn thuận ngồi xuống chiếu. Nội đôi bàn tay cô xáo bài thôi cũng khiến đám đàn anh cay mũi. Rồi đến chia, đến xướng, đến đặt cửa và vét tiền vào gậm háng. Chỉ trong độ canh giờ, Liên loại ra khỏi cuộc chơi gần hết đám anh tài khát nước. Giao túi tiền cho thằng Bách đang lảng vảng gần đây, Liên đứng dậy. Nào, còn bác nào máu, em chiều. Các bác cay cú lắm nhưng không làm gì được. Mấy ông tổ tôm dạng điếm canh mưa gió đâu phải là đối thủ của Liên. Họ thì thầm bảo nhau. Đau thật, làng cứ có cỗ, trộm lại khoắng một mẻ. Mà không phải trộm, là cướp, cướp trắng trợn.

 

Đổ tiền ra phản, đếm qua. Gần hai chục triệu. Liên đưa cho thằng Bách một ít để trả các khoản nợ lưu cữu của thôn và cả khoản cổng làng ba chị em phải đóng góp. Số còn lại, Liên bảo xem còn nhà nào chưa nộp phí cổng làng thì nộp hết cho họ, còn bao nhiêu thì cũng đưa hết vào cổng làng. Thằng Bách cười nhe răng. Chị làm em hết hồn. Liên móc túi quần, đưa cho thằng em cái thẻ tín dụng màu tiết dê. Đây, đủ cho mày đặt cược vào cái đầm Dị kia. Không sợ lỗ đâu, rồi đổ cá xuống mà chăn thả. Phải cho thằng út đi học lấy một cái nghề, học giỏi vào, chứ đừng có mơ mộng nước trong nước ngoài gì. 

 

Sáng nay, loa thôn trên nóc quán bủ Dĩ hân hoan thông báo việc các hộ gia đình đã đóng đủ tiền quy định. Làng biểu dương cô Liên đã gia tâm dự án cổng làng số tiền mười lăm triệu đồng. Sau đó, loa lại tiếp tục kêu gọi số tiền còn thiếu từ những con em của làng xa nhà làm ăn. Bủ Dĩ khum tay che mưa, chạy ra sân, nghểnh cổ nhìn lên loa, hỏi một câu rõ to. Cổng làng xây xong rồi hử? Chết chửa, cả tháng nay chả ló mặt ra khỏi làng.  

 

 

>> XEM TRUYỆN NGẮN TÁC GIẢ KHÁC...

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.